Câu hỏi thứ nhất
Mới hôm nọ ngài nói về những cơ cấu niềm tin. Một trong những cơ
cấu niềm tin của tôi đó là, tôi là người không toàn hảo -và tôi phải phấn đấu
để trở nên toàn hảo. Thực hành theo sls (1) tôi cảm nhận rằng mình đã là người
toàn hảo như tôi bây giờ đây -với đầy đủ giận hờn, tiếc nuối, yêu thương, thù
hận, phiền muộn, chán chường, phòng thủ, và dục tính của mình. Hình như ngài có
lần nói rằng chúng ta đều là những thượng đế mà không hề nhận biết. Xin làm ơn
giải thích về sự toàn hảo của mỗi con người chúng ta.
Điều này cho thấy một cơ
cấu niềm tin đã ăn sâu như thế nào, đã trở thành một bộ phận của vô thức bạn ra
sao. Bây giờ thì ngay cả cái ý niệm về toàn hảo cũng đang đeo đuổi bạn một cách
dai dẳng. Thoạt tiên bạn cố gắng để trở nên toàn hảo, bây giờ thì bạn tin rằng
mình đã toàn hảo rồi -thế mà bạn vẫn chưa buông bỏ được cái ý niệm về toàn hảo.
Thoạt tiên bạn cố gắng để
trở nên hoàn toàn hơn bởi vì bạn cảm nhận rằng mình chưa được hoàn toàn; thế là
bạn vẫn còn bám víu vào những ý thức phân biệt cũ. Bây giờ thì có vẻ như dễ
dàng hơn, rẽ tiền hơn khi bạn tin rằng
-bây giờ thì bạn đã hoàn
toàn rồi, bạn không cần phải chạy đi đâu nữa. Tuy nhiên vấn đề vẫn là bạn phải
hoàn toàn, phải toàn hảo. Thế thì có gì là sai trái nếu như bạn không hoàn
toàn, không toàn hảo?
Cái "sls" của bạn
quả tình chẳng gíúp ích được gì cho bạn cả! Bạn đã không thể rút ra được một
bài học nào từ đó. Bạn vẫn là con người cũ, không có gì thay đổi; toàn bô cơ
cấu niềm tin của bạn đã không hề bị đụng chạm đến. Và rồi không sớm thì muộn
bạn lại cũng sẽ rơi vào những tình huống khó khăn như cũ. Bởi vì rồi đây bạn
cũng sẽ giận dữ, cũng sẽ chán chường, cũng sẽ phiền muộn -không có cách gì để
có thể cho rằng sự giận dữ của bạn là toàn hảo, hay sự buồn muộn, nỗi chán
chường của bạn bây giờ là toàn hảo -vô phương. Không sớm thì muộn; con rắn cũ
trong bạn sẽ duỗi mình thức dậy; bạn sẽ bắt đầu than khóc trở lại thôi.
Khi bạn đang phiền muộn,
bạn sẽ không cố gắng để thoát ra khỏi cơn phiền muộn này? Khi bạn đang ở trong
khổ đau, bạn sẽ không có một nỗ lực nào để thoát ra khỏi nó? Bạn sẽ hoàn toàn
chấp nhận nó? Khi bạn đang chìm ngập trong một biển tối tăm, bạn sẽ không khởi
sự phấn đấu để vươn tới ánh sáng? Mọi chuyện rồi sẽ trở lại y như cũ; bạn hiện đang
làm công việc trì hoãn nó thôi. Rượu cũng vẫn là thứ rượu cũ trước đây, bạn chỉ
thay cái nhãn hiệu trên cái bình chứa mà thôi, không có gì thay đổi cả.
Đó không phải là thông điệp
của tôi. Thông điệp của tôi rất rõ ràng: Cái gì không hoàn chỉnh mới là tuyệt
vời. Thực ra, không hoàn chỉnh là một đòi hỏi cơ bản của một sinh thể sống
động. Cái ngày mà bạn thành toàn, cũng có nghĩa là bạn đã chết. Toàn hảo là cái
chết; bất toàn là sự sống. Không nên lên án sự bất toàn mà chấp nhận nó như một
tình trạng mở. Bất toàn có nghĩa là mở ra -đang lớn
dậy, đang chuyển động, đang
sống. Bất toàn có nghĩa là bạn vẫn sẽ còn có một tương lai, vẫn còn hy vọng, và
ngày mai sẽ là một cái gì đó rất mực hứng thú đợi chờ. Đó là ý nghĩa của bất
toàn.
"Bất toàn" không
là một danh từ mang ý nghĩa bất xứng mà được xem như đồng nghĩa với dòng sống
đang tuôn chảy. Bởi vì nếu mọi chuyện đã hoàn tất rồi, bạn sẽ còn đi đâu nữa?
Bạn sẽ làm gì đây? "Hoàn tất" có nghĩa là đã chấm dứt trưởng thành,
bạn đã đi đến điểm tận cùng rồi. Những gì tiềm ẩn nay đã trở thành sự thực -đó
là ý nghĩa của hoàn tất. Bây giờ sẽ không còn gì khác nữa ngoài cái chết.
Bất toàn bao hàm ý nghĩa là
còn có rất nhiều khả năng đang chờ đợi, rất nhiều cái hay ho sẽ được xảy ra.
Tôi không hề bảo rằng bạn phải phấn đấu để cho nó xảy ra, tôi đang nói rằng nó
sẽ xảy ra nếu bạn chấp nhận sự bất toàn của mình, và sống hết mình trong đó.
Đây là hai vấn đề khác nhau. Tin rằng cái bất toàn của bạn chính là một toàn
hảo là điều sai lầm hoàn toàn. Cứ việc sống trọn vẹn hết mình trong từng khoảnh
khắc -khi bạn bất toàn, cứ hết mình với cái bất toàn đó. Chính từ trong cái
trọn vẹn, nhất thể với bất toàn này mà bạn khởi sự lớn dậy.
Tôi cũng không bảo rằng rồi
đây bạn sẽ trở nên toàn hảo, bởi vì cái ngày mà bạn là người toàn hảo, bạn sẽ
không còn cần thiết nữa -những kẻ toàn hảo thường bị đào thải ra khỏi đời sống
ngay lập tức. Thế nên đời sống không bao giờ toàn hảo; nó không ngừng chuyển
động. Từ một nhất thể này đến một nhất thể khác, từ một bất toàn này đến một
bất toàn khác, tiếp tục, tiếp tục mãi không ngừng. Một cách giản đơn, bất toàn
chính là đời sống, là sinh động, là tăng trưởng, tiến hoá. Thế thì tại sao lại
cứ đi lên án cái bất toàn? Bây giờ thì bạn cho là mình đã cảm nhận được rằng
"Tôi là người toàn hảo như tôi bây giờ đây". Không bao giờ cả. Tôi
cũng không hề khuyến khích bạn phấn đấu để trở nên toàn hảo; điều này cũng cùng
là một chiếc bẩy giống nhau. Điều tôi muốn
nói với bạn là, bất cứ giây
phút nào bạn đang sống, hãy sống trọn vẹn, toàn bộ với cái khoảnh khắc đó -đây là
cách thế duy nhất để sống thực sự.
Nếu bạn đang buồn phiền,
hãy sống trọn vẹn trong nỗi buồn phiền đó. Sống thực sự với nó, đừng có nửa
vời. Một khi bạn đã buồn phiền thực sự, bạn sẽ mau chóng thoát ra. Nếu bạn nửa
vời, nó sẽ còn tồn tại dai dẳng mãi.
Chuyện xảy ra, có ai đó vừa
mới qua đời. Bạn yêu thuơng chàng hay nàng rất mực và bây giờ thì người yêu dấu
đó đã không còn nữa. Bạn phải buồn thôi, thực sự đau buồn. Món nợ tình chưa
trả. Thế thì cứ việc than khóc, cứ việc nổi khùng lên. Đừng làm ra vẻ không có
gì, đừng làm ra bộ tươi tỉnh. Và cũng đừng tìm cách tự an ủi mình rằng, bây giờ
có làm gì đi nữa cũng vô ích. Nếu bạn cố gắng tự an ủi mình, mối buồn phiền sẽ
kéo dài lâu hơn
-có thể hàng năm không
chừng. Đó là lý do tại sao hàng triệu người cứ mãi sống trong buồn khổ như thế.
Bởi vì
họ đã không bao giờ thực sự
sống sâu sắc với nỗi buồn
của mình mà chỉ tìm cách
trì hoãn lại. Khi bạn trì hoãn nó, nó sẽ lắng chìm vào vô thức, đợi chờ đúng
thời điểm
sẽ tác động trở lại. Nó trở
thành một gánh nặng trĩu luôn
đè lên trái tim bạn.
Thế nên khi nào thấy nó ở
đó, hãy trút nó ra. Buồn phiền là chuyện hoàn toàn đương nhiên, không có gì sai
trái cả, vấn đề chỉ là nên như thế nào. Nếu bạn thực sự chìm ngập vào trong nỗi
buồn, nỗi buồn sẽ mau chóng tan đi, bốc hơi. Bạn đã kinh qua nó, và bây giờ mọi
chuyện đã chấm dứt. Bất cứ nỗi buồn nào -dù lớn lao tới đâu- đã đến với bạn, nó
đã đến; bây giờ nó không có nhu cầu để quanh quẩn chung quanh bạn nữa. Nó sẽ
rời xa. Và rồi bạn sẽ thoát ra khỏi nó, tươi tắn hơn, trẻ trung hơn, sống động
hơn. Bạn sẽ hạnh phúc hơn, kinh nghiệm hơn, chín chắn hơn sau khi kinh qua biến
cố buồn đau này.
Một người chưa từng chứng
kiến cơn hấp hối của ai đó mà mình yêu dấu là người chưa thực sự trưởng thành.
Ở phương Đông ngạn ngữ đã nói, "Bạn chưa hề trưởng thành, bạn vẫn còn là
một đứa trẻ, cho đến khi nào chứng kiến cha mình qua đời." Khi chứng kiến
người cha thân yêu của mình qua đời, một cái gì đó cũng chết theo trong tận cỏi
lòng bạn. Bởi vì người cha là một phần đời của bạn, người mẹ là một phần đời
của bạn, họ đã cho bạn đời sống. Và rồi tất cả những người đã cho bạn đời sống
đều lần lượt tan biến vào cái chết -cái chết của bạn rồi cũng sẽ đến thôi, sớm
hay muộn.
Trong khi cha mẹ bạn còn
sinh tiền bạn có thể tiếp tục tin rằng bạn sẽ không bao giờ chết. Thế nhưng một
khi cha mẹ bạn qua đời, làm sao mà bạn còn có thể tiếp tục tin rằng mình sẽ
không chết? Ngay cả những người đã sinh thành ra bạn cũng đã không còn nữa, cỗi
nguồn đã mất dấu. Gốc rễ đã không còn -và không sớm thì muộn rồi bạn cũng sẽ
biến mất trên cỏi đời này.
Sống trọn vẹn với nó. Hãy
than khóc, hãy u sầu, hãy để cho dòng nước mắt tuôn trào. Trút tất cả tâm can
của bạn vào đó. Không có gì để phải sợ hãi, không có gì để phải thẹn thùng,
không có gì để phải bối rối. Nếu bạn có thể sống một cách trọn vẹn trong đó,
bạn sẽ thoát ra một cách chín chắn hơn, trưởng thành hơn, thực tế hơn, cũng như
có khả năng để sống một đời sống hạnh phúc hơn.
Điều này thoạt nhìn có vẻ
như lạ lùng -làm sao mà kinh qua bất hạnh người ta lại có thể sống hạnh phúc
hơn? Vâng, đúng như thế, đây là cách thế mà đời sống vận hành. Giống như cái
quả lắc của đồng hồ -nó lắc qua bên phải, đến tận cùng bên phải và từ đó nó bắt
đầu lắc về phía trái. Trong khi đang chuyển động về bên phải thì đồng thời nó
cũng tích tụ năng lực để lắc về bên trái, và khi quả lắc đang đi về phía trái
cũng tương tự như vậy. Đời sống là một chuyển động giữa hai bờ đối nghịch; như
một dòng sông trôi ở giữa đôi bờ.
Nếu bạn thực sự sống sâu
sắc trong nỗi buồn thì rồi bạn cũng sẽ chìm ngập trong nỗi hạnh phúc sâu sắc y
như thế. Con người khốn khổ, con người không hạnh phúc là vì họ không chấp nhận
nỗi bất hạnh của mình. Một khi họ không chấp nhận những nỗi bất hạnh của mình
thì đồng thời họ cũng không chấp nhận luôn cả hạnh phúc. Cái độ lắc sẽ có một
tỉ lệ đối xứng -nếu nó chuyển động một dặm về phía buồn đau, thì nó cũng sẽ
chuyển động một dặm về hướng hạnh phúc. Nó sẽ luôn luôn có tỉ lệ cân đối; đời
sống do đó mà tiếp tục thăng bằng. Nếu bạn có thể đi mười dặm đường vào nỗi
buồn đau thì bạn cũng sẽ đi mười dặm đường vào cơn hạnh phúc -giống y như thế.
Thế nên cứ sống một cách
trọn vẹn cho dù bất cứ chuyện gì xảy ra. Tôi không nói là sống trong toàn hảo,
bởi vì đây là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Bạn sống trọn vẹn, có nghĩa là
bạn không cần đến bất cứ một khuôn mẫu lý tưởng nào. Trong khi bạn khởi sự sống
như một người toàn hảo, có nghĩa là bạn cần đến một mẫu mực lý tưởng.
Cụ thể như, nếu bạn đang
khóc một cách trọn vẹn có nghĩa là khóc với tất cả trái tim mình, với tất cả
nỗi cảm xúc của bạn. Còn nếu bạn là một người khóc thật toàn hảo, bạn sẽ nhìn
chung quanh -"Ai là người khóc toàn hảo hơn cả? Tiếng khóc của ai thảm
thiết hơn? Ai là bậc thầy về khóc ở đây?" Rồi bạn sẽ chạy tìm đến ông thầy
này, học hỏi những kỹ thuật của ông ta, biến ông ta thành thần tượng. Nước mắt
nên nhiều hay ít? Chảy ra như thế nào? Thế là bạn học hỏi cả nghệ thuật lẫn kỹ
thuật để có thể nhỏ ra thật nhiều nước mắt. Nhưng đó thật ra chỉ là đồ giả. Cái
toàn hảo luôn luôn là đồ giả -bạn đang bắt chưóc theo mà thôi. Bởi vì hoàn hảo
cần đến một thần tượng, một khuôn mẫu lý tưởng, và rồi từ những thần tượng này
đã đẻ ra những kẻ bắt chước.
Cái trọn vẹn là của chính
bạn, cái toàn hảo là đồ vay mượn -căn bản khác nhau như thế. Bạn học từ người
khác để trở nên toàn hảo. Nếu bạn muốn trở thành một
người toàn hảo, bằng cách
nào để bạn sẽ trở thành một người như thế? Đức Phật, Mahavir, Krishna, Chúa
Giêsu sẽ trở thành những thần tượng của bạn: Noi theo gương của Chúa Giêsu và
rồi bạn trở thành một con chiên toàn hảo. Noi theo gương của Đức Phật và rồi
bạn trở thành một Phật tử toàn hảo. Thế nhưng bạn có thể làm được gì? Nếu bạn
muốn trở thành như một ông Phật thì bạn cũng sẽ chỉ là một mô phỏng, một hình
nộm bằng nhựa; bạn sẽ không bao giờ là một ông Phật thật sự. Bạn không thể nào
là một vị Phật, một vị Phật chỉ xảy ra một lần thôi. Một hiện sinh không bao
giờ là một lập lại -một hiện sinh luôn luôn tăng trưởng trong một chiều kích
mới, một sinh thể mới. Công việc của bạn sẽ chỉ là lừa gạt chính mình, lừa gạt
mọi người, và cái hiện sinh đó sẽ không bao giờ tha thứ cho bạn chuyện này.
Bạn chỉ có thể là chính bạn
mà không là ai khác; đó là cái khuôn mẫu lý tưởng của tính trọn vẹn, nhất thể.
Còn nếu bạn bắt chước theo ai đó thì rồi bạn sẽ cố gắng sống y như người đó,
bạn chỉ là kẻ chạy theo đuôi toàn hảo. "Toàn hảo" là một danh từ dơ
bẩn: hãy quẳng nó đi. Đó là một trong những cái từ nguy hiểm nhất đã được nhân
loại sử dụng. Hãy liệng bỏ nó và sống trọn vẹn.
Trọn vẹn không phải là một
mẫu mực lý tưởng nằm ở đâu đó trong tương lai. Nó hiện hữu tại đây. Trong khi
bạn giận dữ, cứ việc giận dữ thật sự-đó là một phần của cuộc sống. Từ cơn giận,
lòng từ phát sinh. Khi bạn yêu đương, cứ thật sự yêu đương -bởi vì từ tình dục
sẽ tỏa hương thơm phạm hạnh -brahmacharya, độc thân. Luôn luôn có những đối nghịch
như thế.
Bạn nói rằng: Tôi cảm nhận
rằng mình đã là người toàn hảo như tôi bây giờ đây. Không, không bao giờ, và
không ai là như thế cả. Dòng hiện sinh không bao giờ khô cạn, tiềm lực là vô
tận, không thể nghĩ bàn. Thế nên khi tôi nói rằng các bạn là những thượng đế,
tôi muốn nói lên điều gì đây? Tôi không hề nói rằng bạn toàn hảo; ngay cả những
thượng đế cũng không hề toàn hảo -bởi vì đó là
những thượng đế sống. Tôi
đã có ngụ ý gì khi bảo rằng các bạn là những thượng đế? Tôi muốn nói lên một
điều rằng cái khả năng, tiềm lực của bạn là vô tận. "Thượng Đế" có
nghĩa là tiềm năng vô tận -bạn cứ tiếp tục tăng trưởng mãi, tăng trưởng không
ngừng, không hề có hạn điểm. Bất cứ nơi đâu bạn hiện hữu, bạn vẫn tiếp tục tăng
trưởng không ngừng.
Cái chết không bao giờ xảy
ra. Đó là tất cả ý nghĩa khi tôi nói rằng các bạn là những thượng đế, tức là
không bao giờ chết. Kinh Vệ Đà nói rắng: amritasya putrah -ngươi là những đứa
con của bất tử, không bao giờ chết. Bạn phát xuất từ nước cam lồ, được tạo
thành bởi cùng một chất liệu với nước cam lồ -amritasya putrah. Bạn là những
đứa con trai, con gái của Thượng Đế -điều này chỉ có một ý nghĩa đơn giản rằng
tiềm năng của bạn là bất tận, không bao giờ bị khô cạn. Dù bạn trở thành bất cứ
cái gì đi nữa, bạn sẽ lại tìm thấy những cánh cửa mới rộng mở, những đỉnh cao
mới thách thức, những cuộc phiêu lưu mới chờ đón, những chiều kích mới mời gọi
ở phía trước, hấp dẫn, khích động. Ta không bao giờ đi vào ngỏ cụt.
Đó là ý nghĩa khi tôi gọi
các bạn là những thượng đế. Thượng Đế ở đây không hàm ý toàn hảo mà đơn giản là
cái năng lượng luôn luôn chuyển động. Trong mỗi phút giây, bạn có thể là nhất
thể. Và từ một nhất thể, trọn vẹn này bạn có thể trôi tuột vào một nhất thể,
trọn vẹn khác; từ một cái trọn vẹn này giúp bạn trở thành nhất thể ở một khoảnh
khắc khác. Nếu bạn đang giận dữ một cách trọn vẹn, thì rồi bạn cũng sẽ yêu
thương một cách trọn vẹn - cái trọn vẹn trong cơn giận giúp bạn sống trọn vẹn
trong thương yêu.
Bạn không bao giờ hoàn
toàn; không có cái gì hoàn toàn cả. Đó là lý do tại sao vạn hữu đang tăng
trưởng, đó là lý do tại sao có những tiến hoá không ngừng. Thượng Đế đối với
tôi là một ý niệm về tiến hoá. Tôi không nói đến những thượng đế của người khác
-những xác ướp khô héo. Nếu bạn hỏi một người Ấn Độ giáo, y sẽ cho rằng
Thượng Đế là toàn hảo.
Nhưng toàn hảo có nghĩa là chết. Nếu bạn hỏi tiếp, "Thế thì ông ta toàn
hảo bao lâu rồi?", chắc chắn là họ sẽ khó khăn khi trả lời. Nếu họ nói
rằng ông ta luôn luôn toàn hảo, như vậy có nghĩa là ông ta đã chết; ông ta chưa
hề được sinh ra. Thế thì Nietzsche đã rất đúng khi nói rằng "Thượng Đế đã
chết". Những thượng đế hoàn hảo là những thượng đế chết.
Thượng Đế, nếu hiện hữu,
phải là người bất toàn như chúng ta. Như vậy thì có gì khác nhau giữa bạn và
Thượng Đế? Ông ta hiệp nhất, còn bạn thì không. Ông ta chấp nhận những bất toàn
của mình, còn bạn thì không, bạn cứ luôn chống đối chuyện đó. Đó là sự khác
biệt. Sự khác biệt không phải là ở chỗ toàn hảo, sự khác biệt là ở trong việc
chấp nhận. Bạn phản kháng, bạn chống đối, bạn thu dấu, bạn phòng thủ, bạn luôn
luôn khép kín, sợ hãi. Bạn không bao giờ thể nhập vào bất cứ cái gì một cách
thực sự, luôn là kẻ ngoại cuộc -lo lắng, sợ hãi, kinh hoàng, sẵn sàng để bỏ
chạy trước một cái gì đó quá sức mình. Bạn chỉ tham gia một cách chừng mực, giới
hạn.
Chỉ có một khác biệt duy
nhất giữa bạn và Thượng Đế: Ông ta thể nhập vào mọi chuyện một cách hoàn toàn.
Khi Thượng Đế nhảy múa, người ta không hề thấy có bóng dáng của người nhảy mà
chỉ vũ điệu -ông ta thể nhập hoàn toàn vào đó. Khi Thượng Đế thương yêu, ta
không thấy bóng dáng của người thương yêu, tất cả còn lại chỉ là một yêu thương
đơn thuần -ông ta thể nhập trọn vẹn vào đó. Bạn không bao giờ sống một cách
trọn vẹn Bạn là bất toàn, vạn hữu đều bất toàn -những cây cối, chim chóc, bầu
trời chung quanh đây, tất cả mọi thứ đều bất toàn. Tuy nhiên xin hãy nhớ cho,
khi nói đến hai chữ "bất toàn", tôi không hề bao hàm ý nghĩa một sự
lên án, tôi vẫn luôn ca ngợi đời sống, trân quý từng mỗi một nhịp đập của đời
sống.
Bây giờ bạn nêu lên câu
hỏi: Hình như ngài có lần nói rằng chúng ta đều là những thượng đế mà không hề
nhận biết. Xin làm ơn giải thích về sự toàn hảo của mỗi
con người chúng ta. Một lần
nữa, bạn lại tiếp tục bị rối loạn thần kinh chức năng nữa rồi. Kẻ cầu toàn là
người bị rối loạn thần kinh chức năng. Nếu bạn muốn tránh khỏi căn bệnh này,
bạn sẽ phải buông bỏ ý niệm về toàn hảo - cái ý niệm này ngay từ căn bản là một
cấu trúc điên khùng. Từ đó bạn mới có thể bắt đầu cảm nhận được rằng tất cả mọi
sự việc đều tốt đẹp y như chúng hiện bày. Điều này cũng không bao hàm ý nghĩa
là sẽ chẳng có gì thay đổi. Không phải vậy, vạn hữu đang thay đổi, là một dòng
chảy liên tục. Không có gì được duy trì ngoài sự đổi thay, vạn hữu không ngừng
thay đổi. Thế nên, ngay tại khoảnh khắc này một chuyện được xem là đúng, nhưng
ở một khoảnh khắc khác thì một chuyện khác lại đúng hơn. Đời sống tiếp tục thay
đổi không ngừng. Thế nên một người không hề có bất cứ thần tượng nào sẽ đáp ứng
với những đổi thay này trong từng khoảnh khắc một cách trọn vẹn.
Câu hỏi thứ hai
Chân lý là một khám phá hay
là một phát minh?
Không cả hai.
Có lần khi lên tiếng về một
phát biểu của Isaac Newton, "mục đích của nhà khoa học là đi băng qua
những đại dương chưa biết, và khám phá ra những hải đảo của sự thật",
Jerome Bruner đã lớn tiếng phản bác: "Vô nghĩa, mục tiêu của nhà khoa học
là đi băng qua những đại dương chưa biết, và phát minh ra những hải đảo của sự
thật!"
Điểm nhấn mạnh ở đây -Isaac
Newton thì cho là "khám phá" còn Jerome Bruner thì cho là "phát
minh". Còn tôi thì rất muốn được nói với Bruner rằng, Ông
Bruner ạ, tất cả đều như
cứt. Mục đích của nhà khoa học là đi băng qua những đại dương chưa biết, và
khám phá lại những hải đảo của sự thật. Không phải là khám phá hay phát minh.
Khám phá có nghĩa là
"lần đầu tiên". Đây là điều ngu xuẩn. Những sự thật bất di bất dịch
đã có từ ngàn xưa -tất cả những chân lý mà lần hồi chúng ta biết đều chỉ là
những khám phá lại. Chúng đã được khám phá ra nhiều lần trước đây, thế rồi
chúng ta chán ngấy và quên lãng đi. Hoặc giả là nó trở nên quá tải, hay trở nên
nhàm chán, nên chúng ta quên mất chúng. Nhưng rồi, vài thế kỷ sau đó, chúng ta
khám phá nó trở lại. Chân lý, như vậy không hề là một cái gì đó được khám phá
ra lần đầu mà là được khám phá trở lại, lần này qua lần khác. Chân lý là vĩnh
cửu. Chúng ta có thể bỏ rơi nó -đây cũng là chuyện rất tự nhiên đối với tâm
thức con người, rất chóng nãn. Thế nhưng một khi chúng ta đã quên rồi thì cái
cũ lại trở thành cái mới.
Đây là điều mà các sử gia
cũng đã từng đề cập đến. Chẳng hạn như, chúng ta đang sống trong thời đại
nguyên tử, những sự thật liên quan đến nguyên tử là rất mực quan trọng. Đây là
một trong những khám phá lớn nhất của nhân loại -tuy nhiên đây không phải là
điều mới mẻ. Trong dòng triết học Hy Lạp, Democritus đã từng đề cập đến vấn đề
này trong "Eunon". Tại Ấn Độ, Mahavira cũng đã từng nói đến, và ngay
cả trước Mahavira, cũng đã có người nhắc nhở đến khái niệm này -nói nhiều đến
độ mà tên của ông ta được gọi là "Kanad", có nghĩa là "nhà
nguyên tử." Toàn bộ hệ thống triết học của ông ta đều xoay chung quanh vấn
đề nguyên tử.
Và bây giờ chúng ta sẽ lại
lần hồi quên đi. Một vài thế kỷ sau, Einstein sẽ rơi vào quên lãng -như Kanad
đã bị lãng quên, như Democritus, như Mahavira. Một khi chúng ta đã quên, nếu
chúng ta lại rơi tỏm vào cái sự thật này một lần nữa, chúng ta gọi nó là
"khám phá".
Isaac Newton đã sai lầm,
chân lý không hề là một khám phá. Và Bruner cũng sai luôn khi cho rằng chân lý
là một phát minh. Chân lý không thể là một phát minh. Tuy nhiên tôi hiểu điều
Bruner muốn nói, ông ta hàm ý rằng tất cả những sự thật đều là sản phẩm do con
người sáng tạo ra, những sản phẩm do tâm tạo. Chúng ta tạo ra chúng chứ thật ra
chúng không hề hiện hữu. Chúng ta hình dung ra chúng như thế -và, đó là một
tưởng tượng hư cấu. Dĩ nhiên ông ta cũng có một vài điểm hữu lý, bởi vì chúng
ta cứ không ngừng tiếp tục thay đổi sự thật. Mà sự thật thì không thể thay đổi,
chỉ có óc tưởng tượng của chúng ta là thay đổi, và cứ mỗi lần thay đổi như thế,
chúng ta lại nói đến một chân lý khác.
Như vậy, theo Bruner, tất
cả mọi sự thật đều là những sáng chế của tâm. Thế nhưng nếu sự thật là một vật
sáng chế của tâm thì tôi cũng lại xin được hỏi Bruner, "Ông sẽ nói gì về
giả trá, hư vọng?" Phải chăng sự thật và giả trá đều có ý nghĩa như nhau?
Một sự giả trá cũng là một sáng chế. Một ảo ảnh cũng là một sáng chế -là sản
phẩm do tâm tạo. Và rồi giấc mơ cũng là một sáng chế -một phóng chiếu của tâm.
Như vậy thì sự khác nhau giữa sự thật và hư vọng là gì? Theo Bruner, sẽ chẳng
có gì khác nhau cả; tất cả đều do tâm tạo.
Tuy nhiên vẫn có sự phân
biệt. Đó là lý do tại sao tôi cho rằng chân lý không phài là một khám phá cũng
không phải là một sáng chế mà là một khám phá trở lại. Và chân lý cũng không
phải là một sản phẩm do tâm tạo -bởi vì chân lý chỉ hiện bày khi tâm ngưng vận
hành. Đó là lý do tại sao tôi không gọi những chân lý khoa học là "chân
lý;" chúng chỉ là những dữ kiện.
Chỉ có những chân lý tín
ngưỡng mới là chân lý; chúng không phải là những dữ kiện. Bởi vì nhà khoa học
không hề rời xa cái tâm. Y làm việc thông qua cái tâm, gắn bó với cái tâm của
mình -một cái tâm đang loay hoay tìm kiếm.
Chân lý của tôn giáo là một
chân lý rốt ráo, một chân lý thuần khiết -không hư vọng, không hề dính líu gì
đến cái tâm. Và điểm then chốt của tất cả mọi tôn giáo là buông bỏ cái tâm này.
Đó là những gì mà ta gọi là thiền định -tức là dẹp cái tâm qua một bên để nhìn.
Một cái nhìn không tâm, nhìn mà không có cái cơ cấu vận hành của tâm. Không có
tâm ở đó thì không thể có tạo tác -bởi vì người tạo tác đã biến mất rồi. Không
có tâm ở đó thì không có chuyện tâm tạo. Nhìn xuyên suốt vào vạn hữu - không
niệm, không định, hoàn toàn vô niệm. Nhìn một cách rỗng không.
Khoa học khám phá những dữ
kiện. Dữ kiện thì có hàng triệu thứ -đó là lý do tại sao trong khoa học sự thật
không hề là số ít mà là số nhiều. Có rất nhiều sự thật, vô số kể. Sinh học có
sự thật của sinh học, hoá học, vật lý, toán học cũng thế -vân vân và vân vân.
Có rất nhiều sự thật như thế là vì có rất nhiều tâm.
Tôn giáo nói đến một chân
lý duy nhất. Không phải là đa chân lý mà là một -nhất thể. Bởi vì khi cái tâm
đã được buông bỏ, bạn sẽ không còn bị chia cách với tổng thể nữa, bạn hợp nhất
với tổng thể. Trong cái ý thức phổ quát đó, trong cái pháp giới rộng khắp đó,
bất cứ cái gì ta biết đến đều là chân lý. Nó không bao giờ thay đổi, nó vẫn luôn
như vậy.
Những gì mà Đức Phật đã
khám phá ra, cũng giống y như Chúa Giêsu khám phá ra sau này -chỉ là sự khám
phá lại. Những gì mà Chúa Giêsu khám phá lại cũng tương tự như những gì mà
Eckhart khám phá -cũng chỉ là sự khám phá lại. Những khám phá của Eckhart cũng
giống y như thế. Hàng triệu thánh nhân trên thế gian này cũng đã khám phá ra
những điều tương tự nhau -Phật giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Cơ Đốc giáo, Do Thái
giáo, Sufis, Hassids, và Thiền gia- tất cả đều khám phá ra những điều giống
nhau, lập đi lập lại.
Mỗi một cá nhân đơn độc
tiếp cận với nó; lại khám phá ra nó một lần nữa. Thế nhưng những gì mà y khám
phá ra cũng tương tự với
cái biết phổ quát, cũng là satchitanand -cực lạc, chân lý, ý thức. Nó đều giống
nhau
-thế nhưng khi bạn bắt đầu
diễn tả về nó, đề cập về nó, nó trở thành khác biệt.
Trước tiên là ngôn ngữ khác
biệt -
Chúa Giêsu nói tiếng
Aramaic, Đức Phật nói tiếng Pali, Mahavira nói tiếng Prakrit, Huệ Năng nói
tiếng Trung Hoa, Eckhart nói tiếng Đức, Rinzai nói tiếng Nhật, vân
vân và vân vân. Đây là
những khác biệt về ngôn ngữ. Và tất cả điều mà bạn gọi là ba trăm tôn giáo trên
trái đất này
chẳng là gì cả ngoại trừ sự
khác biệt về ngôn ngữ. Họ sử dụng những dụ ngôn khác nhau, tự nhiên thôi. Họ
biết những dụ ngôn khác nhau thế nên họ dùng những dụ ngôn
khác nhau.
Đức Phật dĩ nhiên không thể
nói chuyện như một nhà tiên tri trong Áo Nghĩa Thư -không thể nào. Ngài biết
những ngụ ngôn khác, những ẩn dụ khác vốn dĩ gần gũi với trái tim của mình hơn.
Áo Nghĩa Thư biết đến một loại ngôn ngữ khác, một biểu tượng khác biệt.
Chúa Giêsu có một thế giới
ngôn ngữ khác. Chúa là một người thợ mộc -ngài nói chuyện như là một ông thợ
mộc, rất mực thực tế. Ngôn ngữ của ngài mang hương vị của đất, phảng phất mùi
vị của gỗ, của cây. Đức Phật không thể nói chuyện theo cách như thế, ngài là
một vị hoàng tử con vua. Ngài chưa hề biết đến chuyện cây cỏ, đất đai đồng áng,
ngài chỉ sống trong những lâu đài, lên xe xuống ngựa. Ngài nói chuyện với một
cung cách khác, dĩ nhiên thôi -ngài được nuôi dưỡng trong một môi trường khác,
có một hình tượng khác. Ngài nói chuyện như là một ông vua -rất mực văn hoá,
rất mực tế nhị. Thế nên Chúa Giêsu có sức lôi cuốn hơn là Đức Phật, bởi vì trên
thế gian này, người dân thường thì đông đảo hơn là những ông vua.
Chỉ có một số ít người có thể
hiểu được Đức Phật, còn Chúa Giêsu thì có thể được hiểu bởi bất cứ ai, bởi tất
cả mọi người. Người nghèo hèn nhất trên thế gian này cũng có thể hiểu được Chúa
Giêsu, bởi vì ngài nói bằng ngôn
ngữ của kẻ nghèo hèn nhất.
Ngài cũng đã nói chuyện với tất cả những giới bình dân nghèo khổ -những người
đánh cá, nông dân, gái điếm, những người lao động đầu tắt mặt tối. Nếu ngài nói
theo kiểu cách của Phật thì chắc là họ sẽ không thể nào hiểu nổi. Mà Chúa cũng
không thể nói như Đức Phật bởi vì ngài là một người thợ mộc. Toàn bộ tuổi thơ
của Chúa là sống và làm việc trong xưởng mộc của thân phụ -vác cây, chẻ củi,
giúp đỡ cha mình. Ngài thở và cảm nhận cái hương vị của gỗ. Người thợ mộc đó
sống giữa những ngư phủ, nông dân, nói cùng một ngôn ngữ với họ -những người
khách hàng thường xuyên của mình.
Thế nên không phải là
chuyện ngẫu nhiên mà trên thế giới này, đặc biệt là thế giới của những người
nghèo khổ, đã có một sức cuốn hút lớn đến với Chúa Giêsu.
Tại Ân Độ, những người Cơ
Đốc đã không thể cải đạo được những người bà-la-môn. Bạn không thể cải đạo một
người bà-la-môn; bởi vì y nói một thứ ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt. Đối với y,
Chúa Giêsu có vẻ như chưa đạt tiêu chuẩn -còn y, y làu thông kinh sách Vệ Đà,
Áo Nghĩa Thư, Gita, Dhammapada; y sống trong một thế giới của cái tâm rất mực
vi diệu. Tuy nhiên người Cơ Đốc đã rất thành công với đám đông nghèo khổ -những
người lao động chân tay, những người dân quê, những người thiểu số; họ đã rất
thành công. Những người này hiểu rất dễ dàng ngôn ngữ của Chúa Giêsu. Có thể họ
đã không hiểu Krishna đang nói cái gì, ông ta thuyết giảng về triết lý rất mực
sâu xa, trong khi Chúa Giêsu chỉ nói về những dữ kiện hết sức thực tế đời
thường. Đây chính là những khác biệt -bằng không thì họ đã nói đến cùng một thứ
thực tại, cùng một chân lý.
Thế nên bất cứ lúc nào một
người đạt đến đó, hiểu rõ vấn đề, thì cũng có nghĩa là cùng một thực tại đó đã
được khám phá đi khám phá lại không biết bao nhiêu lần. Và mỗi người đều phải
tự khám phá ra theo cách riêng của mình. Bạn không thể vay mượn chìa khoá của
kẻ khác. Tôi cũng không thể trao, không thể chuyển nhượng nó
cho bạn. Tôi có thể cho bạn
biết cái mùi vị của nó ra sao. Tôi có thể cho bạn biết tôi đã đi đến đó như thế
nào, và tôi cũng có thể nói về cái đạo lộ dẫn đưa đến đó. Tuy nhiên chính bạn
sẽ là người phải đi, sẽ phải là người khám phá ra điều đó. Và một khi bạn đã
khám phá ra rồi, ngôn ngữ của bạn cũng sẽ khác biệt với ngôn ngữ của tôi. Nhất
định phải như thế -cái ngôn ngữ đó là của bạn, nó sẽ mang dấu ấn của bạn. Đó là
lý do tại sao lại có quá nhiều tôn giáo trên thế gian này. Cơ bản, tôn giáo chỉ
là một. Nó không thể là hai; nó đi tìm kiếm cái nhất thể. Đó không phải là một
khám phá như Newton đã nói. Đó cũng không phải là một sáng kiến, phát minh theo
cách nói của Bruner. Đó là một sự khám phá lại.
Ông A nói: Nếu bạn muốn
biết chính mình, bạn cần tĩnh tọa. Tuy nhiên nếu bạn muốn là chính mình, bạn
cần phải chuyển động.
Ông B nói: Nếu sự tự chứng
ngộ đưa đến sự giác ngộ hoàn toàn, thì hoạt động chắc phải gắn liền với bóng
tối mê mờ.
Ý kiến của ngài như thế
nào, thưa ngài Osho?
Tự chứng ngộ không ăn nhập
gì với chuyện ngồi yên tĩnh tọa. Nếu bạn đạt đến tự chứng ngộ bằng cách ngồi
yên tĩnh tọa -không chuyển động, bất động, không sống- thì sự tự chứng ngộ đó
chỉ là một chứng ngộ chết.
Tự chứng ngộ phải là một
trọn vẹn. Nó phải được ngộ trong lúc bạn đang ngồi yên cũng như trong lúc bạn
đang chuyển động. Nó phải được ngộ trong lúc bạn đang bất động cũng như trong
lúc bạn đang hoạt động. Một người tự chứng ngộ thực sự sống chan hoà trong cả hai
- là một giao thoa đồng bộ. Y vừa là hoạt động vừa bất động. Ý nghĩa này được
gói trọn trong một từ Trung hoa, wei- wuwei -vi-vô-vi. Vi có nghĩa là làm, là
hoạt động, vô có nghĩa là không -Vi-vô-vi có nghĩa là làm mà không làm.
Đây là sự phân cực: từ làm
đến không làm, từ không làm đến làm. Một người tự chứng ngộ hành hoạt trong cả
hai thái cực đối nghịch, thoải mái trong cả hai. Trong lúc ngồi yên, y ở trong
Thượng Đế. Trong khi bước đi, y ở trong Thượng Đế. Không làm gì cả, y ở trong
Thượng Đế. Làm một ngàn lẻ một chuyện, y ở trong Thượng Đế. Trong chùa y ở
trong Thượng Đế, ngay giữa chợ y vẫn ở trong Thượng Đế.
Tuy nhiên tôi hiểu vấn đề
của bạn. Đây là một trong những vấn đề muôn thuở, nó tạo ra không biết bao
nhiêu vấn nạn. Bởi vì có không biết bao nhiêu người tin rằng nếu bạn sống trong
thế gian, bạn không thể nào có được tuệ giác, bạn không thể nào vươn đến giác
ngộ. Từ bỏ thế gian, tránh xa thế gian, chạy trốn thế gian -đời sống thế gian,
cái biển đời náo động đó, làm người ta dễ bị phân tâm. Thế là người tìm vào Hy
Mã Lạp Sơn, ẩn mình trong một hang động sâu thẳm nào đó. Phải sống như thế, một
mình trong cô tịch -chỉ như vậy mới có thể vươn đến Thượng Đế, Chân Như.
Thế nhưng cái Thượng Đế này
là một Thượng Đế rất mực nghèo nàn. Và cái chứng ngộ Thượng Đế này cũng sẽ là
một chứng ngộ rất mực ốm đói, không phong phú chút nào. Bởi vì khi bạn bất
động, sinh thể của bạn sẽ là một trì trệ, ứ đọng, là một vùng đất chết. Bụi bặm
sẽ bám đầy, phủ kín. Bạn sẽ chẳng khác gì một nơi ao tù, nước đọng -ứ đọng, tù hảm;
bạn sẽ không bao giờ tươi trẻ tinh khôi như một dòng sông đang tuôn chảy. Ngay
cả nếu bạn lặng yên, an bình, bạn cũng sẽ chỉ là một xác chết. Vâng, những tinh
tú có thể phản chiếu trên đó, nhưng bạn sẽ không bao giờ đến được đại dương.
Chỉ có dòng sông là sống động hơn.
Thế nhưng tôi cũng không
bảo rằng những ai đang sống giữa chợ là sẽ chứng ngộ Thượng Đế, Chân Như. Bởi
vì nếu trong bạn không là sự tịch tĩnh, thì chợ đời sẽ là một cái nhà thương
điên -nó đã trở thành như thế.
Có hai loại người -mà thực
ra họ không phải là kẻ thù của nhau, nhưng thái độ giống hệt nhau. Một loại tin
rằng chỉ có thế gian này là duy nhất, đây là nơi mà tất cả đời sống hiện bày
-vậy hãy sống ở đó. Họ đổ xô đến những khát vọng, tham cầu, mong ước; làm đủ
mọi chuyện -đạt đến, vươn đến, trở thành cái gì đó. Loại người này, từng bước
một, đưa chính mình đến khùng điên.
Loại người thứ hai, nhận
thức được rằng tất cả những chuyện đời đều chỉ là trò điên đảo, họ thoát ly
khỏi thế gian này, ngồi lặng yên trong một hang động nào đó, trí óc trở nên mụ
mẫm, trì trệ đi rồi chết. Người ở giữa chợ đang sống, nhưng không có sự tĩnh
lặng, còn người ở trong hang động thì tĩnh lặng nhưng không còn sống nữa. Cả
hai đều là những kẻ lỡ tàu.
Đó là lý do tại sao, đối
với những hành giả của tôi, tôi luôn luôn khăng định: Sống động và đồng thời
tĩnh lặng, cả hai nên gắn bó cùng nhau. Và như vậy, đời sống của bạn sẽ trở nên
phong phú hơn. Hãy sống giữa thế gian thế nhưng không thuộc về thế gian. Hãy
như là một đóa sen - gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Như thế, đời sống sẽ
trở nên tuyệt vời và đầy ân sủng, sẽ làm cho bạn phong phú thêm. Bởi vì đời
sống không gì khác hơn chính là Thượng Đế hoá thân thành thiên hình vạn trạng.
Như thế đời sống sẽ không còn làm cho bạn bị phân tâm mà là một thử thách, một
cơ hội để bạn lớn dậy.
Đừng nghĩ rằng đời sống thế
gian sẽ lôi cuốn bạn chệch hướng mà hãy xem đó như là một thử thách. Khi bị ai
đó mạ lỵ, bạn có thể nghĩ rằng y đang quấy nhiễu bạn - đó là một cách lý giải.
Nhưng bạn cũng có thể nghĩ là y đang thử thách thức bạn. Bạn có cảm thấy bị
quấy nhiễu hay không là do ở mình. Nếu bạn thấy đó không phải là một quấy
nhiễu, có nghĩa là y đã mang đến cho bạn một cơ hội lớn lao để lớn dậy. Bạn sẽ
mang ơn y. Bạn nên tìm đến y để nói lời cảm tạ, hay nhờ ai đó chuyển đến y lòng
biết ơn -bởi vì y đã mạ lỵ bạn thế nhưng đã không làm cho bạn bị phân tâm; có
một cái gì đó đã trở nên vô cùng
vững chắc, kiên định ở
trong bạn, một cái gì đó đã hợp nhất chan hoà trong bạn.
Và rồi một cô gái tuyệt
trần bước ngang qua mặt cũng sẽ không làm bạn bị phân tâm -không phải là do bạn
cố tránh không nhìn hay là không thấy nàng.
Mới ngày hôm kia đây, có ai
đó đã gởi đến cho tôi một mẩu tin được cắt ra từ một tờ báo ở Luân Đôn, nói
rằng vị lãnh đạo của giáo phái Swami Narayan vừa đến thủ đô nước Anh ...
Trong suốt bốn mươi năm qua
ông này không hề nhìn đến một bóng dáng phụ nữ. Ngay cả trên máy bay ông ta
cũng được che màn lại và người nữ tiếp viên phi hành được cảnh báo là không nên
đến gần ông ta. Có những sắp xếp đặc biệt để ông ta tránh giao tiếp với phụ nữ.
Ông ta được đưa ra khỏi phi trường Luân Đôn trong một chiếc xe bít bùng. Ngay
tại phi trường người ta cũng phải sắp xếp sẵn một nơi màn che kín mít trước khi
ông ta rời khỏi máy bay. Bây giờ ở Luân Đôn, đi đâu ông ta cũng chỉ cúi mặt nhìn
xuống đất. Ông ta cũng tránh cả việc xem chương trình kỹ niệm 50 đăng quang của
nữ hoàng Anh, bởi vì bà ta không phải là một ông vua. Thế là ông ta ngồi ở một
phòng khác và có một bình luận gia đặc biệt trình bày sự kiện diễn tiến để cho
ông ta có thể nghe được chuyện này.
Với những loại người này
-bạn gọi họ là gì đây, còn sống chăng? Họ là loại người siêu việt dục tính? Bạn
không thể tìm ở đâu ra một sự bôi bác hơn thế; đây là một sự bôi bác hoàn toàn
. Cái ông này cần phải được đưa vào nhà thương để chữa bệnh tâm thần -không
chừng chữa bằng điện giật lại tốt cho ông ấy. Đây là một chuyện phi lý. Và cái
ông này thì luôn nghĩ rằng mình đang gần gũi hơn với Thượng Đế. Sợ hãi đàn bà
quá như thế chỉ nói lên một điều đơn giản là bạn sợ hãi cái tính dục của bạn.
Nếu không, một người đàn bà có thể làm gì ông ta được? Một cô tiếp viên phi
hành có thể làm gì hại ông ta? Tại sao lại
sợ hãi quá mức như thế? Cái
sợ hãi này là một chỉ dấu của ẩn ức sinh lý.
Và cái loại người như ông
này chắc chắn là tối ngày chỉ nghĩ đến đàn bà. Ông ta không thể nào nghĩ đến
Thượng Đế được. Ông ta chẳng quan tâm gì đến Thượng Đế, mà chỉ quan tâm đến đàn
bà. Ông ta còn thời giờ đâu để mà nghĩ đến Thượng Đế! Và ngay cả nếu như ông ấy
nghĩ về Ram, ông ta cũng sẽ tìm cách né tránh Sita -cho dù cả hai đang đứng
cùng nhau. Nếu có nghĩ đến Krishna ông ta cũng sẽ tìm cách loại bỏ những nàng
thiên nữ đang nhảy múa chung quanh Krishna. Cái ông này chắc chắn là sẽ không
đặt chân đến đền thờ của Kali rồi, vì bà ta là một phụ nữ.
Tôi ngạc nhiên không biết
làm sao mà ông này có thể thu xếp để sống được trong cái bào thai của người mẹ?
Buông màn xuống chắc?
Đây là một sự khùng điên
hoàn toàn -mà sự khùng điên này lại được tô vẽ như là một phẩm chất cao quý của
tôn giáo. Đâu phải vậy, đây chỉ là một sự rối loạn thần kinh chức năng dưới
danh nghĩa tôn giáo. Nếu thực sự bạn đã siêu việt dục tính, bạn sẽ lần hồi khởi
sự quên bẳng đi ai là người nam, ai là người nữ.
Chuyện kể rằng Đức Phật
đang ngồi tham thiền dưới gốc cây. Một nhóm người dưới phố tổ chức một buổi
píc- níc ở trong rừng, mang theo một cô gái điếm. Sau khi say sưa họ đã lột hết
quần áo của cô điếm đem dấu đi làm cô ta rất sợ hãi. Họ say quá mức và cô gái
đã nhân đó bỏ chạy trốn, trần truồng. Sáng hôm sau khi làn gió lạnh ban mai
đánh thức làm họ tỉnh rượu và biết rằng cô gái đã bỏ trốn. Cả bọn đã đổ vào
rừng tìm kiếm và đi ngang qua gốc cây mà Đức Phật đang tĩnh tọa. Họ nghĩ rằng,
"Chúng ta nên hỏi người này, chắc chắn là ông ta phải trông thấy cô gái
-bởi vì đây là con đường duy nhất mà cô ta phải đi, không có lối nào
khác."
Thế là họ hỏi Phật,
"Ngài có thấy một cô gái trẻ đẹp, trần truồng đi ngang qua đây
không?"
Đức Phật trả lời, "Quý
vị đã đến hơi trễ một tí. Phải chi quý vị đến đây mười năm trước đây."
Cả bọn sửng sốt, họ tưởng
là đang gặp một người khùng. Cái ông này đang nói cái gì vậy -"mười năm
trước đây" là thế nào? Họ hỏi Phật, "Ngài nói vây là nghĩa gì?"
Đức Phật trả lời, "Đã
mười năm qua ta đã buông bỏ tất cả những phân biệt. Vâng, có ai đó đã đi ngang
qua đây -nhưng hỏi rằng đó là đàn ông hay đàn bà ... qúy vị đang nêu một câu
hỏi không đúng chỗ, không đúng người. Vâng, có ai đó đã đi ngang qua đây. Ta
nghe có tiếng chân người. Ta có nhìn thấy bóng người. Tuy nhiên nói rằng đó là
đàn ông hay đàn bà quả là một điều khó khăn, bởi vì trong ta đã không còn có sự
tìm kiếm một người đàn ông hay đàn bà."
Nếu bạn không tìm làm sao
bạn có thể thấy được? Bạn có để ý rằng chuyện này đôi khi cũng đã từng xảy ra
với bạn? Một hôm nào đó bạn đang đi giữa chợ bỗng có người chạy đến báo tin là
nhà bạn đang cháy. Thế là bạn bương bả chạy về nhà. Lúc đó nếu có một cô gái
tuyệt trần đi ngang qua mặt -bạn có trông thấy nàng không? Bạn có nhìn, chắc
chắn là như thế -nhưng bạn có thấy không? Và rối ngày mai nếu có người nhắc nhở
bạn rằng hôm trước có một cô gái tuyệt đẹp đã suýt đâm sầm vào bạn, bạn sẽ bảo,
"Thôi bỏ qua chuyện đó đi. Cái nhà của tôi đang cháy -tôi còn tâm trí đâu
mà để ý đến ai xấu hay đẹp. Có thể có ai đó đã suýt đâm sầm vào tôi, nhưng tôi
không hề nhớ. Chuyện đó không hề lưu lại một ấn tượng nào cả, tâm trí của tôi
đã đổ hết vào cái nhà."
Một ngày nào khác, cũng
người đàn ông này sẽ trông thấy cô gái kia. Và nếu quả tình đó là một giai
nhân, y sẽ nhìn nàng kỹ lưỡng hơn, tinh tường hơn, chăm chú hơn. Người ta chỉ
nhìn thấy cái gì mà người ta đang tìm kiếm.
Đức Phật đã trả lời,
"Từ mười năm rồi, ta đã ngưng tìm kiếm người nữ. Ta không còn tìm họ; họ
đã hoàn toàn biến mất trong ta. Thực ra, ta cũng không còn là một người nam
nữa."
Những lời nói nghe thật lạ
lùng mà là một chân lý không thể phủ nhận. Ngài nói rằng, "Thực ra, ta
cũng không còn là một người nam nữa, bởi vì ta đã ngưng tìm kiếm người
nữ." Đúng vậy, một người đàn ông thì luôn luôn chạy đi tìm kiếm đàn bà -đó
là ý nghĩa của hai chữ đàn ông. Còn một người đàn bà thì luôn luôn chạy đi tìm
kiếm đàn ông -như thế mới gọi là đàn bà.
Thế nên bạn không thể định
nghĩa một người đàn ông là đàn ông khi y ngưng tìm kiếm đàn bà -y không còn là
đàn ông nữa. Và Đức Phật đã bảo nhóm người kia, "Ta không còn là một người
đàn ông nữa. Có người đã đi ngang qua đây, nhưng quả thật rất khó mà cho qúy vị
biết họ là nam hay nữ. Quý vị có thể đi tìm ai đó để hỏi, chắc họ có trông
thấy." Bây giờ thì câu trả lời có vẻ như chứa đựng một giá trị nào đó.
Phương cách tiếp cận của
tôi là: Bạn đang sống trong thế gian này, tuy nhiên bạn phải sống trong hoàn
toàn tĩnh thức. Phải nhìn, thấy, sống, và đi vào tất cả mọi chuyện. Không từ
chối cũng không dồn nén bất cứ cái gì. Chỉ có thực chứng toàn bộ đời sống ta
mới có thể vượt ra khỏi nó. Chỉ có thực chứng mới có thể giải phóng ta.
Thế nên tôi không tán thành
việc ngồi tĩnh lặng trong một hang động nào đó. Và tôi cũng không tán thành
việc dính líu vào một ngàn lẻ một chuyện linh tinh của cuộc sống đời thường bởi
vì bạn đã không hề biết ngồi yên lặng quán chiếu. Như vậy, có lúc nên ngồi lặng
yên tĩnh tọa, có lúc nên đi vào hành động. Và từ đó lần hồi tạo lên một chiếc
cầu nối liền giữa bất động và hoạt động.
Và rồi hãy trở nên rất mực
hoà điệu với sinh thể của bạn để cho cả bất động lẫn hoạt động sẽ chẳng có gì
khác biệt đối với bạn. Đang hoạt động, đang làm việc, đang
chuyển dịch, đang tuôn chảy
cũng vẫn sẽ giống như là đang ngồi yên tĩnh tọa. Đó là một cái gì đáng để cho
bạn vươn tới -khi bạn đang chuyển động mà vẫn không có gì chuyển động trong
bạn, khi bạn đang tuôn chảy mà không có gì tuôn chảy trong bạn, khi bạn đang
nói chuyện mà thật ra bạn đang hoàn toàn lặng yên. Khi bạn làm một ngàn lẻ một
chuyện linh tinh nhưng không hề thấy bóng dáng của người làm, như thế là bạn đã
đạt đến một sự tổng hợp nhất quán mà tôi gọi là sự thành tựu tâm linh.
Bằng không, cả hai đều là
"vô minh", chúng không thể được gọi là giác ngộ. Một đằng thì rơi vào
vô minh do bởi hoạt động quá nhiều và tâm trí bị chiếm lĩnh, một đằng thì rơi
vào vô minh do quá bất động và một cái đầu trống rỗng. Cả hai đều lạc lối.
Giác ngộ là một tổng hợp,
một hoà điệu tuyệt vời của cả hai đối cực. Đó chính là vi-vô-vi.
Osho, ngài đã không để cho
tôi được trụ vào một nơi nào đó. Bất cứ lúc nào tôi cảm thấy mình đã được an
trụ thì ngài lại nói điều gì đó làm cho tôi thấy bất ổn trở lại. Tại sao ngài
cứ tiếp tục tạo ra những mập mờ hoang mang cho những môn đồ của mình?
Cái giây phút mà bạn bắt
đầu cảm thấy ổn định, bạn đang trở thành một xác chết. Bạn phải ở trong trạng
thái bất ổn. Ổn định có nghĩa là bạn ngưng sống. Ổn định có nghĩa là bạn đã trở
thành một người quản gia, chứ không còn là một sa môn hành giả.
Không nên ổn định, không
nên trụ lại mà phải tiếp tục chuyển động. Đời sống phải như là một cuộc hành
hương. Bạn sống ở trong nhà nhưng không biến thành những người quản gia. Hãy
nghĩ đến những ngôi nhà của bạn như là những căn lếu trại -bất cứ lúc nào bạn
cũng có thể nhổ nó lên và tiếp tục lên đường. Hãy tiếp tục ra đi, hãy tuôn chảy
không ngừng vào nơi không hề biết.
Vâng, đó là những gì mà tôi
đang làm ở đây -bất cứ
giây phút nào bạn bắt đầu
cảm thấy ổn cố, tôi lại tạo nên
sự bất ổn cố. Đó là những
gì mà người ta cần đến ở một vị thầy, ở một vị đạo sư -không ngừng thúc bách
bạn, không hề để cho bạn an trụ lại. Bạn thì cứ thích muốn tạo dựng lên một vài
niềm tin, một cơ cấu niềm tin, để chui vào đó và cảm thấy thoải mái, an trụ
trong đó, quên hết tất cả mọi hành trình, mọi tra vấn, mọi cuộc phiêu du, những
vùng đất xa lạ, những vùng biển hoang vu -bạn luôn muốn quên hết tất cả những
chuyện đó.
Bạn muốn có một mái nhà nhỏ
êm đềm, một nơi chốn ấm cúng để thảnh thơi, thoải mái ở trong đó. Sự di chuyển
không ngừng này làm bạn không thoải mái. Bạn đang đi tìm kiếm sự tiện nghi
trong khi tôi lại đang tìm cách mở ra cho bạn một cuộc hành trình, một cuộc
hành hương đầy gian nguy bất trắc -thế nhưng nếu bạn muốn vươn đến chân lý, bạn
phải là một kẻ hành hương.
Đó là lý do tại sao tôi lại
cứ tiếp tục tạo nên sự bất ổn cố cho bạn. Phải nên hiểu rằng tôi không ở đây để
trao truyền cho bạn bất cứ một cơ cấu niềm tin nào, công việc của tôi ở đây là
chỉ để trao cho bạn một khẩn thiết kiếm tìm -một thôi thúc khẩn thiết để trở
thành một sinh thể phiêu lưu, một thôi thúc khẩn thiết để làm một bước nhảy vào
vô định.
Và cái giây phút mà bạn đã
nếm được mùi vị của nó, hãy buông bỏ ngay lập tức! Mọi chuyện đã kết thúc! Bạn
đã rút ra hết những mật ngọt tinh túy từ đó, đừng có tiếp tục nhai đi nhai lại
cái mớ xương khô này nữa. Không còn tinh túy trong những bộ xương khô chết,
không còn tinh túy trong những niềm tin khô chết. Bất cứ lúc nào còn có một cái
gì đó thúc đẩy bạn đi tới, đó là nhựa sống: hãy nâng ly và cạn chén mật ngọt
này. Và cái giây phút mà bạn cảm nhận rằng nó đã khô kiệt, hãy buông bỏ: tiếp
tục lên đường.
Có đến cả hàng triệu đoá
hoa; đừng để cho mình bị dính mắc vào bất cứ một đoá hoa nào. Cứ mãi như là một
con ong -một con ong tiếp tục chuyền đi từ đoá hoa này đến đoá hoa khác. Tiếp
tục di chuyển ... mỗi một đoá hoa
trong thế gian này đều mang
sẵn mật ngọt cho bạn. Tại sao bạn lại cứ muốn an trụ. Tại sao bạn lại hối hả
muốn tìm đến an trụ như thế?
Sự mập mờ hoang mang là
phương pháp để tạo ra bất ổn cố cho bạn. Thế nhưng một ngày nào đó, khi bạn đã
kinh qua hàng triệu lần bất ổn, hàng triệu lần hoang mang, một ý thức mới sẽ
khởi dậy trong bạn mà ngay cả tôi cũng không còn có khả năng làm cho bạn mập mờ
hoang mang được nữa. Đó là điều mà tôi đang trông chờ. Cái ngày mà tôi không
thể làm cho bạn hoang mang được, đó chính là ngày mà bạn đã chín muồi, trưởng
thành -chứ không phải là bạn được an trụ. Sự hoang mang đến với bạn là do bạn
muốn được an trụ, là vì bạn bắt đầu cảm thấy mình ổn cố và rồi tôi đã tạo nên
sự bất ổn cố cho bạn. Hoang mang là như thế. Bạn kêu lên, "Nửa rồi. Đúng
như vậy rồi. Bây giờ tôi cảm thấy ấm áp làm sao, thoải mái làm sao, tôi nghĩ
rằng mình sắp đại ngộ ... đâu có xa xôi gì."
Cái lúc mà bạn bắt đầu rơi
vào cơn buồn ngủ, bạn gọi đó là "sự ổn cố". Tôi không phải là một
điệu hát ru ngủ, tôi là một cái chuông báo thức. Thế nên bạn cảm thấy hoang
mang. Bạn thì chỉ muốn bám chặt vào cái cũ, còn tôi thì phá hủy nó và mang lại
cho bạn vài ý niệm mới, vài con đường mới, vài thôi thúc mới. Bây giờ bạn đang
ở trong trạng huống khó khăn. Cái điều hoang mang là, bạn thì muốn bám chặt vào
cái cũ, còn tôi thì muốn đẩy bạn vào cái mới. Hoang mang là thế. Một khi bạn
chấm dứt việc bám chặt vào cái cũ, lúc đó sẽ không còn hoang mang nữa. Và lúc
đó tôi cũng không còn khả năng để tạo ra sự bất ổn cố cho bạn. Bởi vì bạn đã
không còn chạy đi tìm kiếm sự an trụ, ổn cố nữa -làm sao mà tôi có thể tạo ra
sự bất ổn được?
Hãy quán chiếu trên câu
chuyện ngụ ngôn nhỏ này, một câu chuyện thực.
Ngài Mã Tổ nghe tin Đại Mai
ở lại trên núi tu tập, nên sai một vị tăng đến hỏi ông một câu hỏi....
Mã Tổ là một vị đại Thiền
sư và Đại Mai là một trong những môn đệ của ngài -ông ta có đến hàng ngàn môn
đệ. Vi Thiền sư phái một người nào đó để hỏi người học trò của mình một vài câu
hỏi -bởi vì Đại Mai hiện đang nhập thất ở trên núi, một mình trong yên lặng
thiền định. Bây giờ thì vị Thiền sư chắc là đã cảm thấy rằng người học trò của
mình đang tìm một sự ổn cố hay đại khái như thế. Thế nên ông ta đã sai người
đến tìm. Ông ta không thể đi được -Mã Tổ đã già lắm rồi, rất khó khăn trong
việc leo núi. Thế nhưng ông ta muốn thử xem có thể nào kéo Đại Mai ra khỏi tình
huống đó hay không. Mã Tổ nhất định là đang nghĩ đến cách tạo ra sự bất ổn cố
cho Đại Mai, thế nên...
Khi Mã Tổ nghe tin Đại Mai
đang ở lại nhập thất trên núi cao liền vội vàng phái một vị tăng đến gặp Đại
Mai mang theo câu hỏi: "Ngươi đã sở đắc được cái gì khi đến thăm viếng đại
sư Mã Tổ và cái gì đã làm cho ngươi chọn ở lại trên núi?"
Đại Mai trả lời rằng,
"Thiền sư dạy tôi rằng tâm tức là
Phật đó là lý do tại sao
tôi đã ở lại đây."
Sư liền bảo, "Phật
Pháp của đại sư nay đã khác rồi."
Đại Mai hỏi, "Bây giờ
là gì vậy?"
Sư trả lời, "Đại sư
bảo rằng bây giờ không phải tâm mà cũng không phải Phật."
Đại Mai cười lớn, "Cái
ông già đó cứ luôn tạo ra những hoang mang trong tâm người khác và không bao
giờ chấm dứt cái trò này. Cứ mặc kệ để cho ông ây nói cái đó không là tâm mà
cũng không là Phật. Còn như đối với tôi, tâm tức là Phật."
Khi vị tăng trở về báo cáo
lại với Mã Tổ về nội dung cuộc đối thoại, đại sư rất mực hân hoan và bảo rằng,
"Quả mai ấy nay đã chín rồi."
Đại Mai, tiếng Trung Hoa có
nghĩa là "cây mai lớn". "Quả mai ấy nay đã chín rồi. Ta không
thể gây ra sự bất
ổn cố cho y được nữa."
Bây giờ thì ngay cả một vị Thầy cũng không thể tạo ra tình trạng bất ổn cố cho
người học trò. Người học trò này đã đạt ngộ. Bây giờ thì y hiểu hết tất cả
những mánh khoé của ông thầy.
Cũng như vậy, nếu bạn rơi
vào tình trạng bất ổn là vì bạn đã chưa hiểu được tôi, và tôi sẽ vẫn tiếp tục
tạo ra tình trạng bất ổn đó cho đến khi nào bạn hiểu. Một ngày nào đó rồi bạn
cũng sẽ hiểu là tôi đang làm gì ở đây -hủy diệt tất cả các cơ cấu niềm tin,
từng cái một. Và tôi cũng không trao cho bạn bất cứ một cơ cấu niềm tin nào.
Bạn cũng đừng lo lắng lắm
về chuyện hủy diệt cơ cấu niềm tin -nếu bạn đến đây như một người Cơ Đốc và tôi
đang hủy diệt cái cơ cấu niềm tin Cơ Đốc của bạn, bạn cũng đừng nên lo lắng
lắm. Bạn muốn trở thành một môn đồ của tín ngưỡng Osho -cũng tốt thôi. Thế
nhưng khi tôi khởi sự huỷ diệt luôn cả cái niềm tin vào Osho của bạn, bạn cũng
chớ vội la lên, "Vậy là quá mức rồi. Bằng cách nào đó tôi đã đi ra khỏi
niềm tin Cơ Đốc và đã tìm cách an định trong niềm tin Osho -thế mà cái ông Osho
này bây giờ cũng đẩy tôi ra khỏi đó luôn. Thế thì tôi sẽ dừng chân lại ở chỗ
nào đây?"
Tôi không muốn bạn an trú
lại ở bất cứ chỗ nào cả. Cái tổng thể rộng khắp này là nhà của bạn -tại sao lại
đi chọn những ngôi nhà nhỏ xíu làm của mình? Tại sao lại dựng lên một khu vườn
nhỏ? Trong khi tất cả những vùng đất hoang dã bao la này là của bạn, cái thế
giới vô hạn này là của bạn, cái toàn thể này là của bạn.
Đừng có bao giờ trở thành
một thứ theo đuôi -"ist", đừng có tin vào bất cứ cái chủ nghĩa, giáo
điều - "ism"- nào. Khi bạn buông bỏ tất cả cái "isms", chân
lý sẽ hiện bày với bạn -chưa bao giờ trước đó. Đó là cái giá phải được trả.
Tại sao người ta nói rằng
đời sống còn kỳ quặc hơn cả
chuyện hư cấu?
Bởi vì nó là như vậy. Những
chuyện hư cấu là những phó sản của đời sống, làm sao chúng có thể kỳ quặc hơn
đời sống được? Những chuyện hư cấu chỉ là những cái bóng của đời sống; làm thế
nào mà chúng có thể kỳ quặc hơn chính tự đời sống? Những chuyện hư cấu là do
con người tạo ra, còn đời sống là do Thượng Đế tạo dựng. Bất cứ cái gì mà con
người làm ra đều sẽ có những giới hạn; bất cứ cái gì mà Thượng Đế dựng nên đều
vô hạn, vô tận.
Con người có thể sáng tạo
nên một chuyện hư cấu kỳ quặc, thế nhưng y không thể dựng lên một huyền nhiệm
thực sự. Ngay cả một chuyện hư cấu kỳ quặc nhất mà con người có thể tạo ra cũng
vẫn sẽ mang dấu vết sản phẩm con người. Bạn có thể bị nó lôi cuốn một lần hay
nhiều lắm là hai lần, và hoặc giả nếu bạn tối dạ quá mức thì tối đa cũng chỉ ba
lần thôi. Ngay cả một kẻ đần độn nhất trên thế gian này cũng không thể đi xem
cùng một cuốn phim đến lần thứ tư. Và như thế, nó sẽ không còn ký quặc nữa.
Thế nhưng đời sống chẳng
khác gì một công án Thiền; nó không hề có lời giải đáp. Nó là một dấu hỏi và
vẫn luôn là một dấu hỏi lớn, bạn càng tra vấn chừng nào thì cái dấu hỏi này
càng ngày càng to tướng thêm. Bạn biết thêm về nó chừng nào thì bạn lại càng
không biết gì cả. Cho đến một ngày khi bạn thực sự hiểu biết về nó, lúc đó bạn
sẽ tuyên bố rằng mình hoàn toàn ngu dốt. Đó chính là điều mà Socrates đã từng
thốt ra trước đây, "Tôi không biết một điều gì cả." Đó cũng là những
gì đã được ghi lại trong bộ Áo Nghĩa Thư: "Người cho rằng mình biết, thực
ra không biết gì cả. Người cho rằng mình không biết mới chính là người
biết" -còn chờ đợi gì mà không chạy theo y, đi với y, bám sát y, đừng để
cho y trốn thoát. Y là người đang nắm trong tay chiếc chìa khoá đời -đó là
người tuyên bố rằng, "Tôi không hề biết gì cả."
Tại sao vậy? Trọng điểm của
lời tuyên bố này là gì? Điểm mấu chốt là, khi bạn thực sự hiểu rõ đời sống,
bỗng dưng tự nó hiện bày ra cho bạn, chứ bằng cách nào mà bạn lại có thể biết
được? Đời sống là một huyền nhiệm;
nó không hề có đáp số. Từng
ngày qua, trong nhiều cách thế khác nhau, bạn đã gặp những điều huyền nhiệm này
không biết bao nhiêu lần. Thế nhưng bởi vì bạn là người của kiến thức, bạn
không nhận thấy những bí ẩn đó, và rồi bạn cứ lập đi lập lại những câu trả lời
ngu xuẩn, rất mực vô nghĩa, vô duyên.
Một lần D. H. Lawrence đang
dạo chơi trong vườn với một cậu bé, và cậu ta đã hỏi Lawrence rằng: "Thưa
ngài, làm ơn cho tôi biết, tại sao cây lá lại xanh?" Nếu lúc bấy giờ có
một vài ông khoa học gia nào ở đó, những ông khoa học gia dở hơi, thì câu trả
lời của ông ta sẽ là, "Tại vì nó có chất nhiễm sắc tố," hoặc những
lời giải thích đại loại như thế. Tuy nhiên, Lawrence không phải là một nhà khoa
học, cũng không phải là một anh dở hơi. Ông ta là một trong những thánh nhân vĩ
đại của phương Tây, nhưng người ta không biết đó là một bậc thánh. Ông ta là
một tantrika (2) vĩ đại của phương Tây, nhưng người ta đã không biết đó là một
tantrika.
Nếu bạn không phải là một
nhà khoa học, chỉ là người thường, câu hỏi này có thể làm bạn bối rối. Bạn có
thể trả lời lăng nhăng trên trời dưới đất hoặc là bắt đứa trẻ câm mồm lại bằng
cách bảo nó, "Khi mày lớn lên rồi, mày sẽ hiểu." Đó là cách thức mà
các bậc cha mẹ thường sử dụng. Cả họ, lẫn cha mẹ họ, ông bà, ông cố ông sơ của
họ cũng không hề biết -nhưng họ cứ tiếp tục cái điệp khúc, "Khi mày lớn
lên rồi mày sẽ hiểu. Đừng có làm rộn tao."
Thế nhưng D. H. Lawrence là
một người thành thực. Ông ta nhìn thẳng vào mắt cậu bé và trả lời, "Thì nó
xanh là tại vì nó xanh." Ông ta không có lời giải đáp. "Tôi cũng ngu
dốt về điều này", ông ta nói như thế-"Tôi cũng ngu dốt về chuyện này
như chú em vậy."
Ngay cả một thoáng chốc nào
đó nếu như bạn gặp Thượng Đế và hỏi ngài tại sao cây lá lại xanh... Ông ta chắc
cũng sẽ nhún vai thôi, tôi báo cho bạn biết như thế. Ông ta sẽ không trả lời
được câu hỏi của bạn, bởi vì ông ta không phải là một ông giáo tiểu học.
Chuyện kể rằng, có một lần
thi hào Coleridge đã sáng tác một bài thơ ngắn. Một đứa bé hàng xóm qua chơi,
và bởi vì bài thơ này được mang ra giảng dạy ở trường nhưng người thầy giáo đã
gặp phải khó khăn khi giải thích ý nghĩa của bài thơ, thế nên ông ta bảo cậu
học trò, "Em ở gần nhà của ông thi sĩ này -em đến gặp ông ta. Chắc chắn là
ông ta phải hiểu ý nghĩa của bài thơ mà mình là tác giả."
Và rồi Coleridge đã nhìn
thẳng vào mắt của chú bé học trò trả lời, "Vâng, khi tôi sáng tác bài thơ
này, chỉ có hai người hiểu được ý nghĩa của nó -thế nhưng bây giờ chỉ còn một
người biết mà thôi." Cậu học trò nhanh nhẩu, "Người đó là ai vậy?
Người đó chắc chắn phải là ông thôi!" Nhà thơ cười lớn, "Tôi không
phải là người đó. Khi tôi sáng tác bài thơ này, cả tôi và Thượng Đế đều hiểu ý
nghĩa của nó. Bây giờ thì chỉ còn Thượng Đế mới hiểu được thôi."
Tôi thì cho rằng ngay cả
Thượng Đế cũng không hề biết. Kiến thức là cái gì đó rất mực xuẩn ngốc, không
thể nghĩ về Thượng Đế như là người giàu kiến thức. Thượng Đế không phải là nhà
thông thái, không phải là một học giả uyên thâm, Thượng Đế là một người thương
yêu. Thượng Đế cũng là một nhà thơ. Ông hát lên một ca khúc nhưng đừng mong chờ
ông ta hiểu cái ý nghĩa của nó. Ông ta tạo ra những đóa hoa tươi đẹp nhưng đừng
chờ đợi chuyện ông ta sẽ hiểu được ý nghĩa của chúng. Mà thật ra làm gì lại có
chuyện ý nghĩa.
Một khi bạn hiểu được ý
nghĩa của một cái gì đó thì nó sẽ không còn ý nghĩa gì nữa. Hãy để tôi lập lại
điều này: Một khi bạn hiểu được ý nghĩa của một cái gì đó thì nó sẽ không còn ý
nghĩa gì nữa, nó đã mất hết ý nghĩa. Cái ngày mà bạn hiểu được tình yêu là gì,
tình yêu sẽ trở nên điều vô nghĩa. Bạn có thể biết được hoá chất cấu thành
-những kích thích tố, những cái nọ, cái kia - và rồi tình yêu tan biến.
Bất cứ cái gì, cái khoảnh
khắc mà bạn hiểu được ý nghĩa của nó, nó trở thành vô nghĩa. Thượng Đế tự thân
là một ý nghĩa, nhưng ngài không hề biết cái ý nghĩa của nó là gì. Đây là huyền
nhiệm của đời sống. Bạn sẽ tiếp cận với nó mỗi ngày, nếu bạn là người nhạy cảm
đôi chút. Kiến thức đã làm cho con người trở thành vô cảm -khiến họ trở thành
mụ mẫm đi, thế nên họ cứ tiếp tục chất chứa trong đầu thật nhiều kiến thức. Và
những mớ kiến thức này chẳng là gì cả ngoài những nhãn hiệu.
Một đoá hoa vừa hé nở trong
vườn và rồi có người hỏi, "Cái gì vậy?" Thế là bạn trả lời, "Hoa
hồng". Bạn nghĩ rằng mình đã trả lời đúng câu hỏi đó? Phải chăng đó là câu
trả lời? Bằng cách gọi tên nó, bằng cách dán nhãn hiệu lên một huyền nhiệm
trong đời sống, bạn nghĩ rằng mình biết? Khi cho rằng đó là một cái hoa hồng,
bạn đã nói cái gì vậy? Bạn đã không hề thốt ra một lời nào về hoa hồng. Hoa
hồng không hề có tên, đó chỉ là cách mà người ta xếp loại -cho tiện dụng. Thế
nhưng bạn muốn nói gì khi gọi đó là hoa hồng? Bạn có thể gọi nó bằng một cái
tên khác và hoa hồng vẫn cứ là hoa hồng. Như thế thì cái tên không phải là hoa
hồng. Thế thì đó là cái gì vậy? Chỉ bằng cách gọi nó với một cái tên, bạn đã bị
lừa gạt rồi. Bạn nghĩ là mình biết rõ về nó, nhưng thực ra bạn chỉ dán lên nó
một cái nhãn hiệu. Đặt tên không phải là sự hiểu biết -và cái mà bạn tiếp tục
gọi là khoa học thật ra chỉ là việc dán lên sự vật một cái nhãn hiệu.
Nếu bạn đi vào thế giới của
những nhà khoa học, công trình của họ chỉ là sự dán nhãn. Họ tiếp tục làm công
việc này không chán. Họ càng dán nhãn lên thực tại nhiều chừng nào thì họ lại
càng trở nên nhà khoa học lừng danh chừng nấy, họ càng tiếng tăm chừng nấy. và
thế là chúng ta cứ tiếp tục quăng đủ thứ nhãn hiệu lên đầu trẻ con và bảo chúng
nhồi nhét thật nhiều vào để trở thành những người hiểu biết.
Một bông hồng là cả một
trời huyền nhiệm. Tennyson
đã từng nói, "Nếu tôi
có thể hiểu được một đóa hoa đến
tận ngọn nguồn gốc rễ thì
tôi đã hiểu được tất cả vạn hữu." Vâng, trong một đoá hoa nhỏ bé này chứa
đựng cả sơn hà đại địa -hiểu biết được một cành hoa nhỏ là hiểu biết được tất
cả. Hay nói một cách khác, trừ phi bạn hiểu được cái tổng thể, bạn không thể nào
hiểu được cái phần tử trong đó -tổng thể và bộ phận là một gắn bó cùng nhau bất
khả phân lìa.
Đó là lý do tại sao người
ta nói rằng đời sống kỳ quặc còn hơn cả chuyện hư cấu. Đời sống phát xuất từ
Thượng Đế, tận cỗi nguồn là một huyền nhiệm. Đời sống là một bí ẩn, một bí ẩn
không có lời giải đáp. Nó không hề giống với cái bí ẩn mà bạn tra tìm trong
sách vở hay trong báo chí -thường là lời giải đáp đã được nêu ra ở trang cuối
sách. Cuốn sách này không hề có trang cuối. Bạn cứ tha hồ tiếp tục tìm kiếm câu
trả lời, thế nhưng sẽ không hề có lời giải đáp được viết lên ở bất cứ nơi đâu.
Hãy lắng nghe một vài mẫu
chuyện sau đây.
Xưa thật là xưa có một
người đàn ông, và một người đàn bà dắt theo một con chó. Họ cùng du hành chung
trên một toa tàu. Người đàn ông bắt đầu lấy thuốc ra hút làm con chó ho sặc
sụa. Người đàn bà phản đối, "Nếu ông không ngưng hút thuốc, tôi sẽ liệng
điếu thuốc của ông ra khỏi cửa sổ." Người đàn ông vẫn tiếp tục hút và rồi
người đàn bà liệng điếu thuốc của y ra khỏi cửa sổ. Người đàn ông lẵng lặng rút
ra một điếu thuốc khác và lại tiếp tục hút. Con chó lại bắt đầu ho nữa. Người
đàn bà bảo, "Nếu ông không ngưng hút thuốc, tôi sẽ liệng điếu thuốc của
ông ra khỏi cửa sổ một lần nữa."
Lần này người đàn ông trả
lời, "Nếu bà quẳng điếu thuốc của tôi ra khỏi cửa sổ lần này, tôi sẽ liệng
con chó của bà ra khỏi cửa sổ luôn," và lại tiếp tục hút thuốc như thường.
Thế rồi người đàn bà liệng điếu thuốc của y ra khỏi cửa sổ. Người đàn ông không
nói gì, chụp lấy con chó và quẳng ra khỏi toa tàu.
Khi họ đến trạm kế tiếp,
con chó đang đợi chuyến tàu ở đó. Và bạn có biết là nó đang ngậm cái gì trong
miệng không? Điếu thuốc!
Hay là chuyện sau đây.
Dì Mildred quyết định đi
mua một con vẹt về nuôi cho vui cửa vui nhà. Người bán chim trong vùng đã chọn
cho bà một con thật tuyệt, nhưng bà lại ưng ý con vẹt có bộ lông màu xanh lá
cây chói lọi. Người chủ tiệm có vẻ rất miễn cưỡng không muốn bán con chim này
cho dì và cố gắng giải thích:
"Tôi nghĩ rằng nó
không phải thực sự là loại vẹt hợp với bà đâu, thưa bà."
"Tại sao lại không
nhỉ?"
"Thưa bà, nó không
được nuôi dưỡng từ một gia đình lễ giáo. Tôi xin giới thiệu cho bà một con tốt
hơn..."
"Nhưng tôi không thích
bất kỳ con nào khác. Tôi muốn con này," dì Mildred cương quyết.
"Được rồi, thưa
Bà," nhận thấy ánh mắt quả quyết của Midred, người chủ tiệm bán con vẹt
cho bà kèm theo với cái lồng sắt đắt tiền.
Mildred cho treo cái lồng
chim ở phòng khách và nín thở chờ đợi những lời đầu tiên của nó. Con vẹt vẫy
đôi cánh, đưa mắt nhìn quanh nhà rồi cất tiếng, "Nhà mới. Dễ thương
ghê." Khỏi nói thí ai cũng biết là Midred rất mực thích thú.
Bốn giờ rưởi chiều, hai cô
con gái lứa tuổi cập kê của bà đi học về. Con vẹt nháy một con mắt với họ và
bảo, "Những cô gái mới. Dễ thương ghê."
Bà Mildred xoa tay rất mực
hân hoan. Cậu vẹt ta không phải chỉ là một loài hiếm qúy mà lối cư xử cũng rất
mực toàn hảo, phong lưu.
Quả là không có gì ngạc nhiên khi người chủ tiệm chim không muốn rời xa con vẹt
này!
Năm giờ rưởi chiều, Henry,
chồng của bà đi làm về. Con vẹt bay đến bám vào trước cửa lồng chào đón:
"Nhà mới. Những cô gái mới. Chào ông khách chơi cũ, Henry!"
Đời sống quả là còn kỳ quặc
hơn cả chuyện hư cấu. Ngài bảo rằng chúng tôi phải gột bỏ hết tất cả những
tiếng gọi sâu kín ở bên
trong do cha mẹ, thầy giáo và xã
hội đã tạo nên trong chúng
tôi. Thế nhưng bây giờ đôi lúc tôi cảm nhận rằng những tiếng nói của ngài cũng
đang trở
thành một cái gì đó tương
tự như vậy ở trong tôi. Làm thế
nào để tôi chế ngự nó đây?
Bạn cũng phải giết luôn cả
tôi nữa. Đó là những gì mà các bậc Thiền sư thường nói, "Phùng Phật sát
Phật, phùng Tổ sát Tổ." Đây không phải là một sự bất kính đối với Phật mà
đơn giản chỉ là một sự kính yêu vô bờ đối với Đức Tôn sư. Rất mực tôn kính.
Thế nên người môn đệ một
ngày nào đó cũng phải tìm cách thoát ra khỏi ông thầy của mình thôi. Vị Thầy
chỉ có thể được dùng như là chiếc nạng cho sự tập đi lần đầu của người học trò,
không thể là nơi nương tựa vĩnh viễn. Bạn có thể dùng những lời dạy của tôi để
buông bỏ những lời của kẻ khác, thế nhưng những lời dạy của tôi cũng chỉ là
những ngôn từ, xin nhớ cho -rồi một ngày bạn cũng phải buông bỏ chúng, bằng
không sẽ chẳng có gì xảy ra cho bạn cả. Bạn đã gột bỏ những lời dạy của cha,
những lời dạy của mẹ để thay thế bằng những lời dạy của tôi. Thế nhưng một lần
nữa bạn lại bi cột chặt vào những ngôn từ. Bạn đã thay đổi những kinh sách của
bạn, nhưng rồi vẫn còn bám chặt vào kinh sách. Điều đó sẽ chẳng giúp ích gì.
Bạn cần một cái tâm mà ở đó không còn ngôn từ ngự trị, không còn bám víu vào
bất cứ cái gì.
Nếu bạn thật sự thương yêu
tôi, một ngày nào đó bạn sẽ phải thực hiện một hành động tối hậu: bạn phải giết
luôn tôi. Bạn phải buông bỏ tôi, bạn phải buông bỏ những lời dạy của tôi. Và
điều này không có nghĩa là bất kính, hãy nhớ như vậy. Thực ra đó là một tôn
kính rốt ráo, bởi vì đó chính là điều tôi mong muốn bạn thực hiện.
Bạn bị một cái gai đâm vào
chân, bạn cố gắng dùng một cái gai khác để lể cái gai này ra -bạn chạy đi tìm
một cái gai khác ở trong vuờn -dùng gai lể gai. Thế nhưng bạn sẽ làm gì với cái
gai thứ hai này? Đồng ý là nó đã giúp bạn, bạn mang ơn nó, bạn biết ơn nó
-nhưng làm ơn hãy quẳng nó đi, đừng có bắt đầu thờ phượng cái gai này.
Đức Phật đã từng ví von
rằng một vị thầy cũng chẳng khác gì một chiếc bè. Bạn qua sông bằng chiếc bè
này - nhưng rồi bạn sẽ làm gì đây? Bạn vô cùng biết ơn chiếc bè nhưng bạn không
thể tiếp tục đội nó lên đầu mang vào thành phố. Ngài dạy: Có lần bốn anh khờ
vượt qua sông trên một chiếc bè. Qua đến bờ bên kia họ vô cùng cảm ơn chiếc bè
thế nên đã đội nó lên đầu đi vào chợ. Mọi người xúm lại hỏi: "Mấy ông đang
làm gì vậy? Định khiêng chiếc bè này đi đâu đó?" Họ trả lời, "Chúng
tôi sẽ khiêng nó theo suốt đời, bởi vì đây là chiếc bè đã cứu mạng chúng tôi.
Không có nó thì cả bọn chúng tôi đã bị dã thú ăn thịt hết ở bờ bên kia rồi -nhờ
nó mà chúng tôi mới vượt qua được bờ bên này. Chúng tôi mang ơn nó vô cùng, làm
sao mà bỏ nó đi cho được? Chúng tôi đi đâu cũng sẽ mang theo nó suốt đời."
Thật là chuyện khùng điên.
Đây không phải là sự tôn kính, đây là điều rất mực xuẩn động. Đức Phật dạy rằng
khi bạn đã qua đến bờ bên kia, hãy biết ơn, nói lên lời cảm tạ chân thành. Quỳ
xuống, sờ vào chân thầy, xong tiếp tục đi tới.
Ngày hôm kia ngài đã ban
một thời pháp rất tuyệt diệu về giấc mơ. Tôi rất muốn lắng nghe và lĩnh hội bài
giảng này, nhưng tôi đã chiến đấu cật lực để chống lại cơn buồn ngủ. Cuối cùng,
tôi chấp nhận thua cuộc, nằm dài ra và
ngủ một giấc cho đến hết
bài giảng, khi ngài kết thúc bằng câu, "Đó là đại ngộ". Tôi giật mình
tỉnh dậy và cảm thấy mình bị mất mát một cái gì đó rất mực cần thiết.
Có thể đây là một câu hỏi
khá ngu xuẩn nhưng tôi không thể trình bày khác hơn. Xin ngài làm ơn bình luận
đôi điều về chuyện buồn ngủ khi nghe giảng pháp?
Đây là câu hỏi của
Anuprada. Anuprada, bạn cứ việc ngủ thoải mái. Tất cả mọi người đều được phép
làm bất cứ điều gì mà họ nghĩ là đúng đắn ngay trong giây phút đó. Nếu bạn cảm
thấy buồn ngủ, cứ việc ngủ tự nhiên. Chỉ có một điều xin nhớ cho: Bạn ngủ nhưng
đừng ngáy - bởi vì như vậy sẽ làm cho người khác thức giấc.
Có phải là mỗi một bức
tranh và tất cả thi ca đều được khơi nguồn từ mối mâu thuẫn, từ trận chiến giữa
khẳng định và phủ định? Có phải kết cuộc của trận chiến này ở trong chúng ta là
sự tĩnh lặng?
Không phải toàn bộ thi ca,
toàn bộ hội họa, toàn bộ âm nhạc, toàn bộ nghệ thuất đều được khơi nguồn từ mâu
thuẫn. Chỉ khoảng chín mươi chín phần trăm thôi. Đó là lý do tại sao người ta
tìm thấy trong chín mươi chín phần trăm này phảng phất một chút bệnh thái học.
Picasso mang màu bệnh thái học, và Vincent van Gogh cũng thế. Bạn sẽ luôn tìm
thấy trong thi ca của bạn, trong hội họa của bạn nhuốm chút màu bệnh hoạn -nó
lập dị, nó kỳ quái, nó gàn dở thế nào đó.
Bây giờ thì các nhà tâm lý
học đều đồng ý rằng nếu bạn cho những anh dở hơi này tập vẽ vời thì sẽ mau
chóng giúp họ trở lại bình phục. Việc này đã được đem ra thử nghiệm khắp nơi
trên thế giới -người ta gọi là "hội hoạ trị liệu pháp" hay đại loại
như thế. Nếu một anh khùng được giao cho sơn để tha hồ ngồi vẽ thì thông qua
hoạt động vẽ tranh này, cơn điên của anh ta sẽ biến mất. Nếu y tiếp tục vẽ vời,
chỉ sau vài tuần bạn có thể thấy anh ta trở lại bình thường. Một cái gì đó đã
được tẩy trừ ra khỏi anh ta thông qua nghệ thuật hội họa.
Sigmund Freud cũng đã có
quan niệm như vậy, toàn bộ nghệ thuật đều mang màu sắc bệnh thái học. Không
phải toàn bộ -tôi sẽ không đồng ý với ông ta ở cái chừng mực đó- chỉ chín mươi
chín phần trăm thôi. Nó bắt nguồn từ mâu thuẫn, từ xung đột, cọ xát. Tất cả
những nhà nghệ sĩ lớn đều mang những nỗi đau vô hạn. Một Dostoevsky là một con
bệnh trầm kha. Từ chính nỗi đau của ông ta, từ những mâu thuẫn, những xung đột
nội tại đã hình thành nên những tác phẩm để đời như Anh Em Nhà Karamazov.
Nhà danh hoạ Van Gogh cũng
rất mực bất thường. Nhưng từ những bất thường này mà chúng ta có những họa phẩm
lừng danh. Thực ra, có thể nhờ được vẽ ra như thế mà ông ta trở nên quân bình
hơn. Nếu không cho ông ta cầm cây cọ có lẽ ông ta đã phát điên sớm hơn. Nếu
không cho Dostoevsky viết, có lẽ ông ta cũng đã tự sát hay điên khùng rồi.
Những sáng tác của họ như là một sự nôn mửa. Tôi không hề hàm ý chê trách gì
trong những sáng tác này, chỉ nói lên một sự kiện đơn giản: chín mươi chín phần
trăm nghệ thuật đều mang màu sắc bệnh thái học. Thế nên nếu con người trở nên
mạnh khoẻ, trở nên bình thường, biết quán chiếu với tuệ giác, cái hình thái
nghệ thuật này sẽ biến mất.
Thế nhưng một mối lo sợ
không thể không dấy lên trong những tâm hồn nghệ sĩ, rằng, nếu như con người
thực sự biết quán chiếu thì điều gì sẽ xảy đến cho nghệ thuật? Chúng ta sẽ
không còn có được những bài thơ hay, những tác phẩm lớn, những bức tranh, những
bản nhạc tuyệt vời. Không, ta không phải sợ hãi những điều như thế -một phần
trăm còn lại của nghệ thuật không thoát thai từ bệnh lý học mà được bắt nguồn
từ mặt hồ tĩnh lặng. Ajanta, Ellora, Khajuraho,... tất cả đều được phát xuất từ
một minh sát nội tại, từ thiền quán sâu sắc.
Những bức tượng tuyệt mỹ về
Đức Phật chắc chắn là không phát xuất từ bệnh lý học, mà là từ một kinh nghiệm
nội tâm sâu sắc. Những ngôi chùa, những thánh đường vĩ đại trên thế giới cũng
không hề phát xuất từ bệnh lý học
mà là từ những cảm hứng
tuyệt vời, chúng vươn cao đến những không gian vô tận -đến siêu thức, đến
Thượng Đế.
Những bài giảng của Chúa
Giêsu cũng không hề phát xuất từ bệnh lý học -đây là cái một phần trăm mà tôi
nói đến. Freud sẽ không bao giờ tính đến cái phần trăm này; không chừng ông ta
cho rằng Giêsu là một kẻ loạn thần kinh. Freud cũng sẽ không bao giờ tính đến
Đức Phật - ngay cả những điều khăng định của Phật cũng bị coi là loạn thần kinh
luôn. Freud như thế đã đi quá xa và trong cung cách này cho thấy ông ta là người
bị loạn thần kinh mà không ai khác. Như vậy cái tâm lý học của Freud là gì?
Những công trình mà ông ta sáng tạo lên là gì? Đó cũng là một công trình nghệ
thuật xuất sắc -ta gọi nó là gì? Loạn thần kinh chăng?
Và nếu bạn hỏi tôi về
chuyện xếp loại, tôi sẽ xếp Freud, Adler, và Jung vào cái khối chín mươi chín
phần trăm kia.
Thế nhưng cái một phần trăm
này đã xảy ra cho nhân loại, và cái một phần trăm này có thể sẽ tăng trưởng
thêm. Còn cái loại hình nghệ thuật kia rồi sẽ biến mất -tôi nói đến cái loại hình
nghệ thuật kiểu Picasso, một khi con người sống tĩnh thức, thiền quán hơn. Thế
nhưng cũng chẳng có gì mất mát cả. Càng ngày sẽ càng có nhiều hơn những nghệ
phẩm của một phần trăm chất lượng kia đi vào thế gian này.
Thế nhưng cái gì là khác
biệt? Làm sao bạn có thể biết được sự khác biệt đó? Cũng dễ thôi. Nếu bạn đứng
trước một bức tượng Phật và đi vào thiền quán về nó trong chừng nửa giờ, bạn sẽ
thấy được sự khác biệt. Và rồi bạn đi đến trước một bức tranh của Picasso và
thiền quán về nó trong nửa giờ, bạn sẽ thấy sự khác biệt ngay lập tức. Chỉ
trong vòng nửa giờ thôi cũng đủ để cho bức tranh làm đầu óc bạn quay cuồng lên.
Bạn sẽ cảm thấy bất ổn, bạn sẽ bắt đầu có cái cảm giác vô cùng bất an. Bạn
không thể nào nhìn vào một bức tranh của Picasso trong vòng nửa tiếng đồng hồ.
Trong thực tế, Picasso đã
không bao giờ cho treo bất cứ bức tranh nào trong phòng riêng của ông -ngay cả
những họa phẩm của chính mình. Một lần có người cắc cớ hỏi, "Tất cả những
ai đủ khả năng tài chánh, đều cho trưng bày tranh của ông trong phòng tranh,
hay phòng ngủ của họ -tại sao ông lại không treo bức nào cả?" Picasso đã
cười và trả lời một cách diễu cợt, "Tại tôi không đủ khả năng." Thế
nhưng sự thực không phải vậy. Treo một bức tranh Picasso trong phòng ngủ của bạn
thì chắc chắn là sẽ dẫn đến ác mộng thôi! -cực kỳ nguy hiểm. Và Picasso chắc
chắn là biết điều đó. Ông ta đã trải tất cả những nỗi khổ đau của mình lên
những bức tranh đó rồi; bây giờ đâu có cần thêm chúng nữa.
Một loại hình nghệ thuật
mới sẽ đi vào thế gian này nếu như phần đông nhân loại biết thiền định, quán
chiếu, và rồi người ta sẽ có được sự khoan hoà, tĩnh lặng, đầy phẩm chất của
một cái gì đó siêu việt. Thưởng thức nó, nhìn nhắm nó, bạn sẽ bắt đầu tan loãng
vào những khung trời rộng mở. Nó sẽ mang đến cho bạn cái thông điệp của Thượng
Đế, cái thông điệp của những khả năng bất tận của chính bạn.
Hãy đến và ngắm nhìn ngôi
đền Taj Mahal -để thấy được cái phẩm chất tuyệt vời của nó. Nét tuyệt mỹ của nó
không phải chỉ thuần về mặt kiến trúc mà là một cái gì đó rất mực siêu việt.
Vào một đêm trăng tròn, ngồi lặng yên bên cạnh ngôi đền, bạn như được chuyên
chở đến một thế giới khác. Và rồi khi trở về, bạn sẽ tĩnh lặng hơn, yên lắng
hơn; bạn sẽ cảm thấy một sự tịch tĩnh trong suốt khởi dậy ở trong bạn. Âm nhạc
như toát ra từ những phiến đá cẩm thạch đó, thi ca như tuôn trào ra từ những
phiến đá cẩm thạch đó -thi ca mang phẩm chất của Áo Nghĩa Thư, của Gita,
Dhammapada, của Bài Giảng Trên Núi, của Đạo Đức Kinh.
Cái một phần trăm nghệ
thuật đó sẽ lớn dậy nếu bạn chín mùi trong tĩnh lặng. Và rồi cái loại hình nghệ
thuật
của rối loạn thần kinh, của
bệnh thái học sẽ biến mất đi. Quả là một điều lành khi chúng biến mất.
Câu hỏi thứ ba
Thế nào là một đứa con
hoang?
Bây giờ thì hơi nặng về mặt
kỹ thuật một chút. Và tôi lấy làm ngạc nhiên tại sao lại có người quan tâm quá
mức đến cái từ "đứa con hoang" này. Câu hỏi đã được đặt ra một vài
ngày trước đây dưới một hình thức khác, và bây giờ nó trở lại với chúng ta một
lần nữa. Hình như cái từ này nó trĩu nặng trên lương tâm của ai đó -có người
cảm thấy bất ổn với cái từ này.
Tuy nhiên nếu bạn đã hỏi
thì tôi sẽ phải thưa chuyện vớí bạn đôi điều. Những đứa con hoang đến với chúng
ta đủ cỡ và đủ dạng; tựu trung chúng có thể được chia ra làm ba loại. Trước
tiên hãy nghe một chuyện vặt sau đây và rồi hy vọng là bạn có thể hiểu chúng
một cách dễ dàng.
Một cặp vợ chồng mới vô
cùng phấn khởi chạy đến văn phòng thư ký quận hối hả đìền vào chứng từ hôn thú,
xong họ phóng đến văn phòng của vị Thẩm phán Tối Cao.
"Xin cảm phiền,"
vị Chánh án liếc nhìn vào tờ chứng thư hôn thú, "trong này chhưa đề tên
người vợ." "Ngài có thể điền dùm vào đó được không?" cô gái hỏi.
"Không được," vị Chánh án trả lời, "Bà phải mang trở lại cho cô
thư ký làm."
Thế là họ hối hả mang tờ
chứng thư chạy đi tìm cô thư ký và khi trở lại, vị Chánh án liếc nhìn vào tờ
đơn lần nữa rồi phán, "Lại quên để ngày tháng." "Thế nhưng ngài
có thể..." "Không!"
Ho lại mang tờ đơn chạy
kiếm cô thư ký. Một lần nữa họ xuất hiện trước mặt vị Chánh Án, lần này ông ta
nhìn vào và bảo, "Lại quên đóng dấu nữa rồi. Đừng có hỏi tôi cái chuyện
đóng dấu nghe. Đó không phải là công việc của tôi. Mang cái đơn trở lại gặp cô
thư ký."
Cay đắng và kinh tởm họ lại
chạy đi kiếm cô thư ký và cuối cùng rồi cũng trở về lại văn phòng của vị Chánh
án. "Được rồi, tốt lắm," Ông ta nói xong và ký tên vào tờ chứng thư.
Thế rồi khi ngững lên, lần đầu tiên ông chợt nhận thấy cặp vợ chồng này có dẫn
theo một đứa bé trai khoảng ba tuổi.
"Con của ai đây?"
ông ta hỏi. "Của chúng tôi," cô vợ trả lời. "Của bà hả? Như vậy
có nghĩa là bà đã có đứa con này trước khi bà..."
"Vâng," người cha
trả lời, "Trước khi chúng tôi làm
đám cưới."
"Vâng, dĩ nhiên đây
không phải là công việc của tôi," vị Chánh án tiếp, "Nhưng tôi hy
vọng ông nhận thức rằng cậu bé này là một đứa con hoang về mặt kỹ thuật."
"Dạ, chuyện đó cũng
không có gì lạ lùng cả," người cha trả đủa, "Cô thư ký mới đây cũng
nói với tôi về ngài y như thế!"
Như vậy, loại thứ nhất là
con hoang về mặt kỹ thuật. Có nghĩa là một người được sinh ra từ thương yêu mà
không có chứng thư hôn thú hợp pháp -không có chuyện cưới hỏi. Thế nhưng đây
không hẵn là loại tồi tệ. Loại tồi tệ là kẻ được sinh ra từ hôn nhân mà không
có thương yêu. Và cái loại này thì có đến hàng triệu triệu người hiện hữu trên
thế gian này, chiếm đại bộ phận nhân loại.
Đó mới là đứa con hoang
thật sự. Còn đứa con hoang này chỉ là con hoang về mặt kỹ thuật -trai hay gái
được sinh ra từ tình yêu thật sự. Không có gì sai trái trong chuyện này cả; đây
chỉ là một vấn đề kỹ thuật, trên căn bản không có gì sai. Đó vẫn là một đứa trẻ
toàn hảo, và nên được như thế -kêt quả của tình yêu. Trong một thế giới tốt đẹp
hơn, những người này sẽ không bị kêu là những đứa con hoang -bởi vì nó tùy
thuộc vào cách thế mà bạn nhìn mọi chuyện. Những người này sẽ phải được kính
trọng hơn là những kẻ được sinh ra từ chứng thư hôn thú, hôn nhân, hợp pháp mà
không hề có mặt tình yêu. Còn thụ thai mà không có yêu thương, sinh ra mà không
có yêu thương -những người này thực sứ mới là những đứa con hoang. Thế nhưng
những đứa con hoang này lại gọi cái loại thứ nhất là "những đứa con
hoang."
Nhưng mà ngay cả loại này
cũng chưa đến nỗi tệ lắm. Đứa con hoang thực sự đúng nghĩa là loại thứ ba,
những người được sinh ra không phải từ thương yêu, cũng không phải từ hôn nhân
mà chỉ là một tai nạn. Đây là ba loại con hoang căn bản. Thế nhưng tại sao bạn
lại quá lo lắng về chuyện này? Nếu bạn thuộc loại thứ nhất, đó là điều hoàn
toàn hạnh phúc.
Tôi không hiểu tại sao Chúa
Giêsu đã không chúc phúc cho những đứa con hoang: "Phúc cho những đứa con
hoang, bởi vì chỗ của chúng là ở Thiên quốc, do chúng đã được sinh ra từ tình
yêu thật sự." Phải vậy không? Lẽ ra Chúa nên nói như thế. "Tai họa
hãy giáng xuống những đứa con hoang thực sự! Bởi vì chúng chỉ được sinh ra từ
hôn nhân, thế nên chúng sẽ sống trong hoả ngục."
Và tôi không biết chỗ nào
để chúng ta có thể đưa cái loại con hoang đúng nghĩa vào -cái loại thứ ba đó.
Không có gì để phải lo
lắng, không có gì để phải coi là nghiêm trọng, đừng để cho nó nghiền nát bạn.
Sinh ra từ tình yêu, đó là chuyện tuyệt vời -sinh ra từ tình yêu có nghĩa là
sinh ra từ Thượng Đế. Hôn nhân chỉ là một sáng
chế của xã hội, một định
chế. Không sơm thì muộn rồi hôn nhân cũng sẽ biến mất -nó nên được biến mất.
Con người nên sống trong thương yêu. Tại sao con người lại nên cố gắng để sống
trong một định chế? Tại sao con người lại nên cố gắng để sống trong hôn nhân?
Hôn nhân đã được tạo ra bởi vì con người thiếu trách nhiệm, bởi vì con người
không hề biết ý nghĩa của thương yêu. Hôn nhân chỉ là một sự thay thế -có một
cái gì đó mất đi trong đời sống thực của con người, và rồi họ tạo ra hôn nhân
để thế vào.
Một khi chàng yêu nàng hay
nàng yêu chàng, tình yêu là đủ rồi! Tình yêu sẽ tự nó chu toàn. Và nếu tình yêu
không tự mình chu toàn, thì cái gì khác có thể làm được chuyện này? Chỉ có cái
giấy hôn thú thôi.
Dưới cái nhìn của tôi,
trong một trăm cuộc hôn nhân thì đã có đến chín mươi chín cái là sự mãi dâm hợp
pháp. Đó không phải là những cuộc hôn nhân. Một cuộc hôn nhân đích thực khi
được phát xuất từ tình yêu. Hợp pháp hay bất hợp pháp, không thành vấn đề. Vấn
đề thực sự chỉ là tình yêu. Nếu tình yêu hiện hữu giũa hai người, đó là điều
đáng chúc phúc. Nếu tình yêu không hiện hữu giữa hai người, thì tất cả mọi luật
lệ pháp lý để trói buộc nhau cũng không thể bắc một nhịp cầu giữa họ. Và họ
sống nhưng trong chia lìa, họ đồng sàng nhưng dị mộng, họ sống mãi hoài trong
xung đột, chiến tranh. Họ tạo ra đủ mọi thứ vấn nạn cho kẻ khác. Họ thô bỉ với
nhau, cãi cọ mè nheo, chiếm hữu nhau, bạo động, đàn áp, chiếm đoạt, và độc tài
với nhau.
Trong một thế giới tốt đẹp
hơn, một nhân loại tốt đẹp hơn, mọi chuyện rồi sẽ đổi khác. Trong cái thế giới
đó, một đứa trẻ được sinh ra từ tình yêu sẽ không bị gọi là đứa con hoang; chỉ
có những đứa trẻ được sinh ra từ
chứng thư hôn thú, từ luật
pháp, mới được gọi là những
đứa con hoang.
