Osho - Thiền - Con đường nghịch lý (Tập 2)
Chương 4: Nhập dòng thánh
Ngài luôn luôn đề cập đến một người nam chân xác, thực sự . Ngài
có thể nói đôi điều về một người nữ như thế ... hay ít ra một người nữ lý tưởng
theo quan niệm của ngài?
Cái thói quen hủ lậu khi
nghĩ về người nam và người nữ một cách tách biệt cần phải được loại bỏ. Không
có gì khác biệt giữa họ. Chân xác là chân xác -không hề có vấn đề phải là nam
hay nữ. Tự phát là tự phát -nó không trở thành giống cái, cũng không là giống
đực.
Chính cái ý tưởng cho rằng
nam và nữ như là những sinh thể khác biệt đã tạo nên sự phân cách trong tâm
thức con người. Con người là một nhất tính. Mỗi người nam là một người nữ và
ngược lại. Chúng ta đều là những con người. Không ai hoàn toàn là một người nam
hay người nữ.
Một khi phân chia ra nam
nữ, bạn sẽ gặp rắc rối ngay. Một khi bạn chia cách ra, sẽ có một ngàn lẻ một
vấn đề phát sinh: Ai siêu đẳng hơn ai? Ai là người thống trị và ai là kẻ bị
trị? Nhân loại từ lâu đã phải khốn khổ vì cái chủ nghĩa giống đực siêu đẳng
này. Rồi có khả năng không
sớm thì muộn nhân loại cũng
sẽ lại phải khốn khổ vì cái chủ nghĩa giống cái siêu đẳng. Những người giải
phóng phụ nữ đang tích cực hoạt động cho việc này. Họ muốn làm tất cả những
điều tồi tệ mà phe đàn ông đã từng đối xử với họ -họ muốn trả đủa những điều
như thế đối với cánh đàn ông. Điều này cũng sẽ chẳng gúp ích được gì! Bạn chỉ
thay thế một căn bệnh này bằng một căn bệnh khác.
Người phụ nữ đã gánh chịu
khá nhiều khổ đau, điều đó đúng. Thế nhưng bây giờ nếu người ta muốn lật ngược
lại mọi chuyện, cũng sẽ chẳng có gì tốt đẹp hơn. Nam giới sẽ lại bắt đầu khốn
khổ. Và bằng cách này, cái vòng lẩn quẩn lại tái diễn. Thế nên, nếu chúng ta
thực sự muốn chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này, tốt hơn là nên bắt đầu
nhìn về con người một cách toàn diện, không cần phải phân biệt nam giới hay nữ
giới. Đây phải là một phương cách tiếp cận cơ bản.
Thế nên khi tôi nói về sự
chân xác, tự phát, hay tình yêu, tôi không hề quan niệm người nam, người nữ như
là những thực thể tách biệt. Họ là một. Họ là những bộ phận của một tổng thể,
gắn bó cùng nhau. Đó là lý do tại sao luôn luôn luôn có một hấp lực bất biến
giữa người nam và người nữ -bởi vì cả hai đều cảm nhận rằng mình chỉ là một
nửa. Một người nam trơ trọi cảm thấy mình bị tước đoạt, như bị mất mát, thiếu
vắng điều gì.
Điều này đúng ở trên nhiều
bình diện. Có rất nhiều người đàn ông và phụ nữ, mà khi nghĩ về họ chúng ta có
thể cho rằng họ chẳng bao giờ cần đến người khác phái. Cụ thể như, một vị Phật
hay là một Mahavir. Chúng ta có thể cho rằng Đức Phật không hề cần đến bóng
dáng một người phụ nữ, tuy nhiên điều này không đúng. Đó là chỉ nhìn trên bề
mặt. Cung cách của Ngài thay đổi -bây giờ ngài là một vị đạo sư, và ngài cần
những môn đệ. Những môn đệ thực hiện chức năng như là người nữ -mặt tích cực
cũng như tiêu cực. Ngài không cần đến một người vợ
-điều đó đúng, đúng hoàn
toàn- thế nhưng điều này không
có nghĩa là Ngài không cần
đến phái nữ. Điều này có nghĩa rằng, trên một bình diện khác, nữ phái đã tự
khẳng định. Bây giờ thì vị đạo sư cần đến những môn đệ, nếu không ông ta sẽ cảm
thấy mất mát, thiếu vắng một cái gì đó.
Môn đệ mang chất nữ tính.
Ngay cả những môn đệ phái nam cũng mang nữ tính, bởi vì thái độ của một đệ tử
là của một người thụ nhận còn của vị thầy là một người ban cho. Vị thầy cho,
người đệ tử nhận -đó là quan hệ âm/dương được khẳng định trên một bình diện
mới.
Nó tiếp diễn trong cách thế
đó. Nó sẽ luôn như thế. Đừng để bị lừa dối bởi sự kiện cho rằng Đức Phật không
còn cần đến một người phụ nữ. Bây giờ thì Ngài thu nhận năng lượng âm tính trên
một bình diện vi tế hơn. Và cũng đừng nghĩ rằng Meera không cần đến một người
nam. Bây giờ thì người nam trong giấc mơ của bà đã chuyển thành Krishna. Có thể
là bà không cần đến một người chồng -đâu có ai còn bận tâm đến một người chồng
thế tục khi bạn đã có Krishna như một đấng phu quân? Bây giờ thì bà sống trên
một cõi khác; người chồng trần tục đã biến đi, người yêu thế gian không còn ý
nghĩa nữa. Tuy nhiên chất nam tính vẫn có mặt ở đó, đang vận hành như là một
năng lượng thuần khiết -như Krishna.
Nó như thế. Sẽ không bao
giờ xảy ra, sẽ không hề có chuyện có thể xảy ra rằng một người hoàn toàn là nam
hay nữ, bởi vì nam-nữ là một thể thống nhất. Hoạt động và thụ động là một thể
thống nhất. Ngày và đêm, sống và chết cũng thế. Sự sống không thể hiện hữu nếu
thiếu vắng cái chết, và dĩ nhiên chết cũng không thể hiện hữu nếu vắng bóng sự
sống, v.v... và v.v....
Thế nên bất cứ lúc nào tôi
nói về sự chân xác, tự phát, hay tình yêu, tôi không hề nói riêng về người nam,
hay người nữ -tôi không chia cách họ. Đó là phương cách tiếp cận căn bản của
tôi. Tất cả mọi sự chia cắt đều nguy hiểm, tất cả mọi sự chia cắt đều tạo ra
bệnh thái rối loạn chức năng. Đã quá đủ! Hãy bỏ ngay cái ý tưởng đó đi!
Đừng có bắt đầu đi từ một
thái cực này qua một thái cực khác. Người nam cũng đã khổ đau nhiều rồi
-"người nam" ở đây tôi muốn nói đến "con người" - nhân loại
đã khổ đau khá nhiều về sự phân chia này. Những người nghĩ rằng họ đang cố gắng
mang lại một thế giới mới, một hình thái nhân bản mới, vẫn đang tiếp tục suy
nghĩ trong cùng một cung cách phân chia lạc hậu, thối rửa cũ.
Hãy nghĩ đến nhân loại nói
chung. Đừng nghĩ đến phương Đông hay phương Tây, đen hay trắng, người áp bức và
kẻ bị áp bức. Hãy bắt đầu suy nghĩ trong tinh thần của nhất thể. Cái phương
cách tiếp cận căn bản này sẽ xóa đi rất nhiều vấn nạn.
Tuy nhiên đây là một câu
hỏi rất có ý nghĩa: Ngài có thể nói đôi điều về một người nữ như thế ... Nam
hay nữ - không thành vấn đề ... hay ít ra một người nữ lý tưởng theo quan niệm
của ngài?
Tôi không có những khuôn
mẫu lý tưởng. Tôi là một con người đứng ngoài mọi mẫu mực lý tưởng. Tôi là
người bài trừ những thánh tượng. Tôi là người hủy diệt những thần tượng. Tôi
tin rằng khi không còn thần tượng, con người sẽ hoàn toàn được tự do. Khi không
còn mục tiêu theo đuổi, con người sẽ hoàn toàn tự do -điều chưa bao giờ có
trước đó.
Tất cả những thần tượng lý
tưởng đều tạo ra tinh thần nô lệ -bởi vì lý tưởng đứng sừng sững ở tương lai,
nó bắt đầu ngự trị bạn từ tương lai. Nó bắt đầu lên án hiện tại của bạn. Nó bắt
đầu thông báo cho bạn hay là bạn chưa đạt đúng tiêu chuẩn: Hãy trở nên hoàn hảo
hơn! Hãy là cái này, là cái nọ! Nó mang đến cả ngàn lẻ một thứ nên và
không-nên. Với tất cả những thứ nên và không-nên đó, làm thế nào bạn hình dung
ra là mình sống trong tự do được? Chúng ngăn trở bạn từ mọi nơi, chúng hạn chế
bạn từ mọi hướng, chúng hủy diệt bạn bằng mọi phương cách có thể được -bởi vì
chúng đang lên án cái hiện tại của bạn. Thế nhưng người ta chỉ có một cách thế
duy nhất để sống, đó là sống trong hiện tại.
Chỉ có một đời sống duy
nhất và đó là khoảnh khắc của hiện tại. Nếu cái khoảnh khắc này bị lên án bởi
bất cứ cách thức nào, phương pháp nào, đời sống của bạn lập tức bị hủy diệt. Đó
là lý do tại sao có đến hàng triệu người ở trên trái đất này nhưng chỉ có một
số rất ít người là đang thực sự sống. Những lý tưởng, thần tượng đã đầu độc
cuộc đời họ. Và những người thích lý tưởng hoá đều là những tay đại độc thủ.
Tôi không phải là kẻ lý
tưởng hoá, tôi tin vào sự thực. Mà thực ra bạn cũng không cần phải tin tưởng
vào sự thực; đúng như vậy. Niềm tin chỉ cần thiết cho những kẻ sống trong lý
tưởng mộng mơ. Còn sự thực đâu cần đến niềm tin? Mặt trời mọc -bạn không cần
phải nói "Tôi tin vào mặt trời mọc". Chim muông ca hát líu lo -bạn
đâu cần phải nói, "Tôi tin vào chim chóc". Bạn tin vào Thượng Đế bởi
vì bạn không thể nhìn thấy Thượng Đế, bởi vì Thượng Đế không phải là một thực
thể. Tôi không tin vào Thượng Đế vì với tôi Thượng Đế cũng là một thực tế chẳng
kém gì mặt trời đang mọc, chim chóc hát ca, cũng như những đoá hoa này, những
đám cây kia, và đại chúng, và bạn đang ở trước mặt tôi đây.
Tôi không tin vào Thượng
Đế. Niềm tin đặt trên một tiền đề rằng bạn không hề biết; niềm tin bao hàm sự
vô minh. Ngay cái chữ "niềm tin" tạo ra một điều chắc chắn
-rằng cái đó là không có
thực. Còn tôi, tôi hoàn toàn tin vào thực tại. Đó là ý nghĩa của điều mà tôi
nói rằng tôi tin
ở thực tế. Tôi không hề đưa
ra bất cứ mẫu mực lý tưởng nào trái ngược với thực tại.
Trải qua bao thời đại, thần
tượng, lý tưởng đã là một trò bịp bợm, là đòn phép vi tế nhằm khống chế con
người
-bởi vì lý tưởng tạo ra mặc
cảm tội lỗi. Bạn luôn luôn cho
rằng mình chưa đạt yêu cầu
-đang ở dưới tiêu chuẩn, ở dưới mức trung bình, chưa đúng là mẫu người mà bạn
mong muốn. Điều này trở thành một tảng đá nặng trĩu trong trái tim bạn. Nó làm
cho bạn trở nên tàn phế, tê liệt.
Nó không cho phép bạn vươn
đến tự do, nhảy múa hát ca cùng đời sống.
Làm sao bạn có thể lên
tiếng chúc tụng cuộc đời khi chung quanh bạn bao bọc bởi những khuôn mẫu lý
tưởng, thần tượng? Bạn cảm thấy mình bị hạn chế ở khắp nơi - những giới hạn đó
đều do những mẫu mực lý tưởng tạo ra. Bất cứ làm điều gì bạn cũng cảm thấy
không bao giờ hoàn hảo. Thế nên làm bất cứ điều gì bạn cũng không bao giờ cảm
thấy hạnh phúc. Luôn luôn mang một cảm giác ê chề -vì việc làm chỉ chứng minh
thêm cho sự không hoàn hảo của bạn. Lại thất bại, lại mang mặc cảm phạm tội,
lại lên án, lại bắt đầu thống trách oán hận chính mình. Mỗi một hành động đều
mang thêm nỗi oán hận, tự trách cứ và chối bỏ mình thêm.
Và rồi nếu bạn không biết
tự thương mình, bạn chỉ còn sống như là một thi hài-còn tệ hơn là cái chết! Nếu
bạn không tự thương mình, rồi sẽ không có ai thương bạn. Làm sao ai đó có thể
thương bạn nếu như chính bạn không biết thương mình?
Người sống trong lý tưởng
mộng mơ không thể yêu thương chính mình; y là người rất mực khô khan, một tên
bạo dâm không hơn không kém. Khi một người là kẻ bạo dâm, khi y tiếp tục hành
hạ chính mình nhân danh những khuôn mẫu lý tưởng nào đó -"Ta phải là thế
này, ta phải là thế nọ"... mà thực ra y không thể đạt đến như vậy, thì
cũng có nghĩa là y đang tự tra tấn mình. Thế mà y cứ tiếp tục xô đẩy mình đến
những mẫu mực lý tưởng bất khả này. Những mẫu mực lý tưởng đều bất khả -tự bản
chất của chúng là thế, là những cái không thể thành tựu. Đó là toàn bộ trò bịp;
bởi vì nếu chúng có thể thành tựu được, thì chúng sẽ không được gọi là những
mẫu mực lý tưởng.
Mẫu mực lý tưởng tự bản
chất là một cái gì đó không thể thành tựu, không bao giờ có thể đạt đến. Thế
nên, nó vẫn mãi hoài treo lủng lẳng trước mắt bạn như một củ cà- rốt. Và con
lừa cứ tiếp tục tiến tới ... củ cà-rốt cứ tiếp tục đong đưa. Đó là một thứ ảo
ảnh. Nó giống như một chân
trời xa tít -bạn cứ tiếp
tục đi tới, chân trời cứ tiếp tục lùi xa, và bạn không bao giờ đi tới đích.
Tôi là một người duy thực.
Tôi là người rất mực thực tế. Tôi muốn bạn đứng vững đôi chân trên mặt đất này,
đây chính là ngôi nhà của bạn. Đây cũng là cách thế của Thượng Đế -Thượng Đế
cũng rất mực hồng trần. Không có một thế giới nào khác, chỉ có một thế giới duy
nhất này đây. Và cũng không có một phương cách nào khác, chỉ có một con đường
duy nhất để hiện hữu. Sự chấp nhận này, niềm vui hoàn toàn trong chính tự thân
mình -đó là cái mà tôi gọi là một người nam thực sự hay người nữ thực sự. Niềm
vui hoàn toàn trong chính tự thân, mỗi người là chính mình -không bao quanh bởi
mặc cảm phạm tội, không khởi dậy lòng thống trách, không chạy theo ý tưởng bạn
phải là thế này, thế nọ. Đây là cách thế duy nhất mà bạn hiện hữu, không còn
một cách thế nào khác. Thế nên đừng mang lại bất cứ sự đối kháng nào -bạn không
tạo ra sự xung đột, bạn không tạo ra một sự cọ xát giữa con người thực của bạn
và mẫu mực lý tưởng.
Từ sự cọ xát đó mà cái ngã
phát sinh, không là cái gì khác. Bản ngã hiện hữu thông qua ma xát. Chạy theo
một mẫu mực lý tưởng và rồi bạn sẽ trở nên một con người vị kỷ. Người lý tưởng
mộng mơ là một người duy ngã. Chạy theo một mẫu mực lý tưởng lớn hơn, bạn sẽ
càng trở nên ích kỷ nhiều hơn. Mẫu mực lý tưởng càng lớn chừng nào, cái ngã
càng lớn chừng nấy, do sự ma xát lớn hơn. Bản ngã được cấu thành bởi sự cọ xát
giữa thực tại và lý tưởng. Bây giờ thì bạn có thể theo đuổi mẫu mực lý tưởng
của vô ngã -nhưng cũng chẳng có gì đổi khác. Bạn có thể nói rằng, "Thế
nhưng lý tưởng mà tôi theo đuổi là vô ngã" -thì cũng thế, lý tưởng chỉ
mang đến bản ngã. Bây giờ cái ý tưởng vô ngã đó sẽ mang đến cho bạn một cái ngã
lớn hơn. Thế nên những con người duy ngã thực sự là những người luôn cho rằng
mình là những kẻ khiêm nhường, những người giả bộ rằng mình đã không còn có cái
ta.
Một con người không bản ngã
là một người không hề đặt ra cho mình những mẫu mực lý tưởng. Hãy xem đây là
tiêu chuẩn và như thế bạn đã rơi tỏm vào một quy điều cơ bản. Một người không
bản ngã là một người không hề đặt ra cho mình những mẫu mực lý tưởng. Làm sao
mà cái ta của bạn có thể hình thành được? -cái năng lượng cơ bản đã mất đi rồi.
Cái năng lượng này đến từ ma xát, xung đột, đấu tranh, ý chí.
Khi bạn sống một cách an
nhiên tự tại -trong lúc ăn sáng, trong lúc ngủ, trong lúc đi đứng, tắm rửa- làm
thế nào mà cái ta có thể sinh khởi được trong những lúc này? Ngủ khi nào thấy
buồn ngủ, ăn khi nào thấy đói, làm thế nào mà cái ta của bạn hình thành? Không
bao giờ -Thế nhưng, nếu bạn cố tình nhịn ăn, bạn có thể tạo ra cái ngã. Nếu bạn
canh thức suốt đêm dài, và tự nhủ, "Ta sẽ không đi ngủ," bạn có thể
tạo ra cái ngã.
Vào buổi sáng, một người đã
ngủ một giấc ngon lành sẽ không còn có cái ta, còn bạn, bạn sẽ kéo theo mình
một cái ta thật lớn. Bạn đã tĩnh thức suốt đêm; con buồn ngủ đã cố gắng không
ngừng để lôi kéo bạn vào giấc ngủ nhưng bạn đã cưỡng chống lại. Bạn là một
chiến sĩ. Bạn chứng tỏ cho thể xác của bạn biêt rằng, "Tinh thần mạnh hơn
vật chất". Bạn muốn chứng tỏ rằng, "Ta là chủ nhân ông. Cơn buồn ngủ
không thể vật ngã được ta." Thế là bạn có thể tạo nên cái ngã. Một người
nào đó đang ăn uống một cách ngon lành -cái ngã đâu còn chỗ nào để hiện diện?
Thế nhưng nếu bạn đang tuyệt thực. Bạn là một tu sĩ Kỳ Na giáo chẳng hạn và bạn
đang nhịn ăn, trong một cuộc tuyệt thực kéo dài hai mươi mốt ngày. Thế là từng
ngày một, cái ngã của bạn cứ lớn dần, lớn dần lên. Và cùng với cái ngã của bạn,
một điều hiển nhiên, trước mắt bạn những kẻ khác đều trở thành những kẻ tội
lỗi. Tất cả những ai đang ăn uống, đang thích thú thưởng thức những thực phẩm
trần gian này đều là những kẻ tội lỗi. Bạn lên án họ tất cả. Chỉ có sự lên án
họ mới làm bạn cảm thấy thoải mái. Chỉ thông qua sự lên án này mà bạn có thể
cảm thấy cái ngã sinh khởi trong bạn.
Như thế, trước tiên xung
đột, cọ xát mang lại cái ngã. Và cái ngã kéo theo sự lên án tha nhân, từ đó bạn
cảm thấy mình "thánh thiện hơn người".
Một người khi nhận thức
được rằng mẫu mực lý tưởng tạo nên cái ngã, y sẽ buông bỏ tất cả những lý
tưởng, thần tượng. Y sẽ sống một cuộc đời rất mực bình thường tự nhiên. Tự
nhiên, đúng như vậy, tôi không nói là một đời sống tín ngưỡng. Đối với tôi,
sống tự nhiên là một thứ tín ngưỡng. Nếu tín ngưỡng của bạn đi ngược lại với tự
nhiên thì đó không phải là tôn giáo, bạn đang phục vụ cho cái ngã của mình -cho
dù bạn có thể gọi nó bằng bất cứ danh xưng nào bạn thích.
Thế nên, tôi là người tán
trợ sự thực, tán trợ cái như thị. Bất cứ bạn là gì, tôi muốn bạn chấp nhận nó
với tất cả lòng biết ơn, thích thú và chúc tụng cái sẵn có của bạn. Đừng đòi
hỏi cái bất khả. Khi đòi hỏi cái bất khả bạn đã đánh mất luôn cái khả thể. Đây
là điều tôi muốn nhấn mạnh: Sống trong cái khả thể. Bình thường tâm thị đạo. Và
khi sống trong khả thể, một ngày nào đó cái bất khả có thể đạt đến mà bạn không
cần phải vận dụng một chút nỗ lực nào.
Nếu bạn cứ luôn nghĩ đến
cái bất khả, bạn đánh mất luôn cái khả thể, bởi vì toàn bộ năng lượng của bạn
đều đổ dồn vào cái bất khả đó. Nếu bạn không chút nào quan tâm dến cái bất khả,
nếu bạn không có bất cứ cái gì để tơ tưởng đến, nếu bạn sống trong khả thể -một
cuộc sống tự nhiên, đơn giản, hồn nhiên vô tư- làm sao mà cái bất khả có thể
chạy thoát khỏi bạn được? Toàn bộ năng lượng của bạn được đổ dồn vào hiện tại.
Và sống trong hiện tại có nghĩa là bạn đang đứng trước ngưởng cửa của Thượng
Đế. Toàn bộ năng lượng của bạn không ngừng gỏ vào cánh cửa ... không ngày này
thì ngày khác, bạn sẽ nhập vào dòng thánh như một cơn lũ. Và cái bất khả kia
trở thành cái khả thể.
Đối với tôi, một người nam
hay người nữ chân xác thực sự là một sinh thể hồn nhiên. Đơn giản, không phức
tạp. Sự phức tạp đến từ
những mẫu mực lý tưởng. Rất mực hồn nhiên vô tư. Nhưng đừng đem cái hồn nhiên
vô tư này biến thành một mẫu mực lý tưởng -hãy nhớ một điều, tôi không hề nói
đến những mẫu mực lý tưởng. Tôi chỉ nói một cách đơn giản rằng: Hãy giống như
một trẻ thơ, như một con thú, như đám cây kia hay những viên đá cuội.
Và cũng xin nhớ rằng, tôi
đã phải dùng đến một thứ ngôn ngữ đang bị ô nhiễm nặng nề. Làm ơn đừng hiểu lầm
những điều tôi nói. Khi tôi bảo rằng hãy rất mực tự nhiên, đừng vội tạo nên một
cái khuôn mẫu lý tưởng trong tâm bạn -"Thế thì bây giờ tôi phải sống rất
mực tự nhiên". "Phải sống"? -bạn đã đánh mất trọng điểm. Bạn đã
bị dính mắc vào cái ngôn ngữ xưa cũ mất rồi. Tôi buộc phải dùng đến ngôn ngữ
này, tuy nhiên khi nói rằng: Hãy như đám cây kia -điều này không có nghĩa là
tôi bảo bạn phải chạy ra đứng ở ngoài vườn giống như một cái cây. Bằng không,
bạn lại tạo ra cho mình một mẫu mực lý tưởng khác. Và rồi bạn lại dõi mắt tìm
kiếm ... sao cái cây này lại không đâm chồi, mọc lá! Thế là bạn khởi sự mang
mặc cảm tội lỗi. Nhưng rồi biết đâu -một hôm nào bạn chợt thấy những cánh lá
mọc lên. Thế là bạn bắt đầu dương dương tự đắc. Rồi nhìn thấy bất cứ ai không
có cánh lá mọc lên, dưới mắt bạn họ là một kẻ tội lỗi, đáng phải bị quăng vào
hoả ngục. Còn bạn thì chắc chắn là sẽ đi ngay lên thiên đàng thôi -bạn đang đâm
chồi, mọc lá.
Hãy nhìn kỹ xem! Bề nào thì
bạn cũng đều sẽ gặp khổ nạn. Mọc lá hay không mọc lá. Bề nào bạn cũng sẽ sống
trong địa ngục. Nếu cây đời của bạn không đâm chồi mọc lá, bạn sẽ cảm thấy một
mặc cảm tội lỗi, bực dọc buồn phiền -bạn sẽ cứ mãi dõi mắt trông chờ, mà sao nó
vẫn chưa hề mọc lá. Hoặc, một hôm nào đó -phép lạ xuất hiện- bỗng dưng bạn thấy
nó đâm chồi. Có thể thực sự là nó chưa hề mọc nhưng mà bạn tưởng tượng ra thôi.
Bạn đã đứng ở đó quá lâu rồi, năm này qua năm nọ, chỉ suy tưởng có một điều
-bạn đã trở thành một cái cây, làm sao đế cho nó đâm chồi mọc lá. Và một điều
tự nhiên thôi,
năm này qua tháng nọ, cái
tâm của bạn đã bị tự kỷ ám thị. Đề nghị cách này, đề nghị cách khác ... và cứ
thế, thời gian trôi qua bạn bắt đầu hình dung tưởng tượng đủ mọi thứ chuyện.
Cho đến một ngày bạn thấy cái cây của bạn đâm chồi mọc lá. Bạn mừng đến phát
điên lên -phép lạ đã xuất hiện. Bạn lại sống trong địa ngục, bởi vì bây giờ bạn
đã khùng lên rồi.
Những vị thánh của bạn đều
là những tên khùng. Và những kẻ được gọi là tội lỗi trên thế gian này đang rất
mực khổ đau vì những anh khùng đó. Những anh khùng này thường là những khuôn
mẫu lý tưởng, thần tượng. Nếu bạn đang thích thú thưởng thức những món ăn ngon,
sẽ có không thiếu những người đứng ngoài nhìn vào và lên án bạn. Cái ông
Mathama Gandhi chẳng hạn -ông ta đang thuyết giáo về aswad, về sự kiêng khem.
Bây giò nếu bạn đang tận nếm hương vị của món ăn, bạn là một kẻ tội lỗi. Chỉ
một niềm vui nho nhỏ như thế, thưởng thức hương vị của thức ăn, cũng vẫn sẽ bị
lên án. Nếu bạn đang yêu đương người bạn tình của mình, bạn là một kẻ tội lỗi.
Trải qua bao thời đại, những ông thánh khùng của bạn đã không ngừng lên án tình
yêu. Nếu bạn yêu thương con cái của bạn, bạn cũng sẽ là một kẻ tội lỗi như
thường.
Tôi có nghe một câu chuyện
về một ông thánh đạo Hồi, ông này chắc phải là người đã hoàn toàn bị loạn thần
kinh. Một hôm ông ta đang ngồi chơi với đứa cháu nội ở trên đùi -một ông già
đang trò chuyện với một đứa trẻ, còn bé, chắc là mới lên bốn, lên năm gì đó. Và
rồi thằng bé hỏi ông, "Nội ơi, giữa Thượng Đế và con, ông nội yêu ai
hơn?" Bởi vì thằng bé thấy ông nội mình tối ngày cứ lập đi lập lại
"Allah, Allah, Allah!", thế nên nó mới hỏi, "Giữa Allah và con,
nội thương ai?"
Và rồi người ông đã bảo
cháu, "Dĩ nhiên, nội thương con!" Nhưng rồi một tư tưởng chợt loé lên
làm ông kinh sợ -mình đang nói cái gì thế này! Thế là ông xô thằng cháu qua một
bên, đẩy nó đi ra xa và mắng, "Mầy thật là
đồ qủy quái. Quỷ Sa Tăng đã
chui vào miệng mày rồi. Tao phải yêu Thượng Đế chứ!"
Chuyện kể rằng, từ hôm ấy
trở đi ông ta không bao giờ trò chuyện với đứa cháu nội nữa. Điều này đã được
tuyên dương trong những sách vở nói về ông ta -rằng ông là một vị thánh nhân vĩ
đại.
Ông ta sống thêm hai mươi
năm, nhưng không hề đụng đến thằng cháu nội. Thằng bé đã trở thành một thứ ma
qủy, gian ác.
Và câu chuyện cũng cho biết
là ông ta đã lên thiên đàng sau khi chết. Tôi nghi quá! Khó mà tin chuyện này.
Lẽ ra, ông ta phải chui vào địa ngục thì đúng hơn. Có thể nào ông ta lại không
thấy được một điều rất mực đơn giản
-rằng tình yêu của Thượng
Đế không hề chối bỏ bất cứ một tình cảm yêu thương nào? Mà thực ra, tình yêu
của Thượng Đế bao hàm tất cả những tình cảm yêu thương của bạn gộp chung lại.
Đây là một hiện tượng khá đơn giản. Bạn thương yêu vợ bạn, thương yêu con cái
bạn, thương yêu cha mẹ, anh em, bạn bè. Những điều này đâu có chống lại Thượng
Đế? Đây là những phương cách tiếp cận Thượng Đế từ muôn hướng khác nhau.
Theo tôi, một người có tín
ngưỡng có thể nhìn vấn đề như thế này. Đối với y, tất cả mọi tình thương yêu có
thể được xem như trăm nhánh sông cùng tuôn về một đại dương. Tình thương yêu
đến từ muôn hướng và chảy vào cùng một bể cả.
Nếu tôi có mặt ở đó thay vì
ông già kia, tôi sẽ ôm thằng bé vào lòng và hôn nó. Tôi sẽ nói với nó rằng,
"Cháu ơi! Ông yêu cháu lắm, Đó cũng là cách thế mà ông yêu mến Thượng Đế.
Cháu là một phần của Thượng Đế - không hế có sự xung đột nào cả!"
Không hề có hai tình yêu
thương nào lại xung đột lẫn nhau, không thể có chuyện như vậy. Trong tình yêu
thương không bao giờ có xung đột. Chỉ có những thứ khác: Bản ngã, ganh ghét,
chiếm hữu mới có xung đột. Không hề có xung đột trong yêu thương.
Tình thương yêu không bao
giờ biết đến xung đột. Tôi không hề lên án bất cứ cái gì. Khi bạn ăn uống, hãy
ăn uống với tất cả sự tận hưởng hương vị của giác quan; hãy để cho cái hương vị
này là Thượng Đế của bạn trong giây phút đó. Khoảnh khắc đó chính là Thượng Đế.
Nếu bạn đang ăn một trái táo, cũng có nghĩa là bạn đang thưởng thức Thượng Đế,
thế nên sẽ là một chuyện hoàn toàn lăng mạ nếu bạn ăn mà không nếm trọn mùi vị
của nó. Các ông đại thánh của bạn thì luôn luôn chống đối Thượng Đế
-đó là cách thế mà tôi nhìn
mọi chuyện. Nếu bạn đang ăn một trái táo, phải tận nếm tất cả cái hương vị của
trái táo. Hãy để cho mình tan biến vào cái hương vị này -bởi vì đó chính là
Thượng Đế đã đến với bạn qua thể dạng của một trái táo. Đó chính là Thượng Đế!
Đã được kết tinh lại như một trái táo. Mật ngọt của trái táo chính là mật ngọt
của Thượng Đế: Hãy đón nhận nó trong niềm biết ơn sâu xa, trong yêu thương,
niềm vui, như một lời chúc tụng.
Hãy cầm lấy trái táo trong
tay và ngữi lấy mùi hương của nó. Hãy nâng trái táo vào sát ngực mình để cảm
thấy nó mát rượi làm sao! Hãy cùng nó hoà vào khúc luân vũ
... và rồi trái táo với bạn
sẽ trở thành một. Đón nhận nó.
Đón nhận với nguyện cầu,
với yêu thương và trân trọng biết ơn, hãy để cho trái tim bạn chan hoà trong
tràn đầy ân nghĩa. Thượng Đế đã đến với bạn như là một trái táo, và Thượng Đế
rất muốn thể nhập vào bạn. Rồi đây bạn sẽ tiêu hoá Thượng Đế và Ngài sẽ tuôn
chảy trong máu huyết bạn, sẽ trở thành xương, thành tủy, trở thành suy nghĩ,
mộng mơ, quán chiếu, yêu thương, cùng những nguyện cầu của bạn.
Hãy nhìn trong hướng này!
Đây là ý nghĩa của những gì mà tôi gọi là thực tế. Thượng Đế, đối với tôi,
không phải là một nhân vật lý tưởng xa vời. Thượng Đế, đối với tôi chính là
thực tại cơ bản của đời sống.
Thế nên đối với tôi, không
hề có một mẫu người nam hay người nữ lý tưởng. Người nam và người nữ lý tưởng
đều là những kẻ loạn thần kinh -họ cần phải được đưa vào
bệnh viện để chữa trị. Tôi
không mang trên người bất cứ ý niệm nào về sự toàn hảo. Tôi hoàn toàn chống lại
cái ý tưởng như thế, bởi vì đó chính là thảm hoạ lớn nhất xảy ra cho con người.
Tôi ủng hộ cái toàn bộ. Hãy trở nên toàn bộ trong mọi hành động của bạn. Hãy
trở nên toàn bộ trong bất cứ công việc gì bạn đang làm. Và đừng bao giờ nghĩ
đến sự toàn hảo -bởi vì toàn bộ là trong hiện tại còn toàn hảo là trong tương
lai.
Cái khoảnh khắc mà bạn mang
tương lai vào, bạn mang theo xung đột. Cái khoảnh khắc mà bạn mang tương lai
vào, bạn mang theo căng thẳng, khổ đau, bồn chồn lo lắng. Cái khoảnh khắc bạn
mang tương lai vào, bạn đang mở ra cánh cửa địa ngục. Hãy nên bây giờ và tại
đây! Hãy nên thực tế, bây giờ và tại đây, và sống cuôc đời của bạn trong từng
khoảnh khắc với tất cả lòng trân trọng biết ơn.
Còn chuyện bạn có là người
nam hay người nữ, đâu thành vấn đề? Chân thực, tự phát, toàn bộ không hề thuộc
về giống đực hay giống cái.
Câu hỏi thứ hai
Này Thượng Đế, Chúng tôi
đang làm cái quái qủy gì ở đây thế?
Tôi hoàn toàn không biết gì
về bạn. Tôi chỉ biết là tôi đang làm gì ở đây. Về chuyện của bạn, bạn sẽ phải
biết bạn đang làm gì ở đây. Bạn chỉ có thể hỏi một điều -Tôi đang làm gì ở đây.
Tôi muốn bạn quán tưởng về
một bài thơ tuyệt vời của Eustace Owen: Cánh Bướm. Đó là những gì tôi đang làm
ở đây. Hãy lắng nghe thật kỹ lưỡng.
Chàng bướm nghiêng mình đáp
xuống hoa
Nhẹ như bông tuyết và sặc
sỡ làm sao
Một con sâu bướm đang thu
mình ở đó
Khóc lóc thở than như ai
đang bóp vỡ tim mình
Nó làm cho con bướm hạnh
phúc đau lòng
Khi thấy con ngài khóc lóc
bi thương như thế. "Ồ, ta không biết chuyện gì đã xảy ra với ngươi, Để xem
ta có thể giúp ích được chút gì chăng?" "Anh tôi mới qua đời,"
con ngài chùi nước mắt, "Mấy hôm rày anh ta không được khoẻ,
Bây giờ tôi khám phá ra một
chuyện thật buồn, Anh ta chỉ còn là một cái vỏ không, đã chết."
"Nay chú ấu trùng đáng
thương ơi, thôi đừng khóc nữa, khổ cho ngươi Người anh ốm yếu không hề chết:
Y đâu còn bò như một con
trùng nhỏ
Mà đã lớn khôn, mọc cánh
bay rồi. Y đang nhảy múa đùa trong nắng Uống mật trong hoa dưới mặt trời."
"Này cút đi, cút ngay
đi tên lưu manh lừa dối, Hãy bay theo cùng những ngọn gió của ngươi, Ta chẳng
thèm khóc khi thấy ngươi đi khỏi
Và mang theo với mi cái
giọng lưỡi gạt người, Bộ tưởng ta là một con ốc sên ngu xuẩn,
Nên tin vào chuyện thần
thoại hoang đường?" Ta không là ốc sên khờ dại
Đâu tin chuyện thần thoại
Cút đi hãy cút đi nhanh
Mang đi giọng lưỡi lưu manh
gạt người.
"Này chú em nghi ngờ
kia, ta sẽ chứng minh rằng ta không nói dối
Hãy nhìn kỹ đây và lắng
nghe điều ta nói.
Ta chẳng phải ai xa lạ mà
là anh ruột của ngươi, Còn sống đây, khoẻ mạnh, hạnh phúc vui chơi
Rồi chẳng bao lâu ngươi sẽ
cùng ta nhởn nhơ trên khắp bầu trời
Cùng đàn bướm suốt ngày
rong chơi bay lượn." "Thôi đi," con ngài tiếp tục khóc la
"Ta chỉ tin khi thấy
tận mắt mọi chuyện rõ ràng
Ngươi chỉ là một con ma đi
nút nhụy hoa
Phe phẩy trên đôi cánh vay
mượn hào nhoáng
Nói những chuyện tầm phào
vô nghĩa
Ta không còn muốn nghe bất
cứ lời nào." Anh chàng bướm chào thua cuộc tranh luận "Ta chẳng còn
gì để nói với ngươi"
Tung đôi cánh vàng rực rỡ
bay lên
Vào khoảng trời không gian
cao rộng
Khi chàng bướm thong dong
vỗ cánh bay xa
Con ngài vẫn tiếp tục ngồi
đó khóc la.
Tôi không biết bạn đang làm
gì, còn tôi, tôi biết tôi đang làm gì. Các bạn toàn là những con sâu bướm. Và
tôi biết là bạn không tin tưởng ở tôi, tôi biết là bạn không thể tin tưởng ở
tôi -và tôi hiểu chuyện đó. Tin tưởng ở tôi là chuyện bất khả. Làm thế nào con
nhộng có thể tin nó sẽ thành bướm?
Con sâu bướm chưa hề biết
những chuyện như thế, chưa hề có những kinh nghiệm như thế. Nó hoàn toàn sống
trong một chiều kích khác, một thế giới khác, một thực tại cách biệt. Làm thế
nào mà con ngài có thể tin được rằng vào một ngày nào đó nó sẽ lột xác và tung
cánh vào trời cao? Bây giờ nó chỉ biết có một chuyện là bò trên mặt đất. Nó thu
mình trong chiếc vỏ của mình, không hề biết gì về đôi cánh tương lai. Nó không
hề biết đến khả năng tiềm ẩn của mình. Con người cũng thế, vẫn luôn là một phôi
bào, vẫn còn nương tựa trong bào thai, chưa bao giờ được khai sinh.
Thế nên khi có ai đó -một
con bướm, một Đức Phật, hay Chúa Giêsu- đến và nói với bạn điều gì, cũng chẳng
khác gì chuyện thần tiên hoang đường. Có vẻ như Đức Phật đang nói láo. Nếu tôi
bảo với bạn rằng, "Tôi là Thượng Đế", thì cũng có vẻ như chuyện nói
dóc mà chơi, chuyện thần thoại hoang đường. Và tôi hiểu tại sao. Bạn không thể
nào tin rằng bạn có thể trở thành Thượng Đế - đó là lý do. Bạn không thể nào
tin rằng bạn có khả năng có đôi cánh. Một khi bạn không thể có cánh, làm sao
bạn có thể tin được một người nào khác có cánh? Mà tôi xem ra cũng giống như
bạn, có gì khác lắm đâu...
Đó chính là vấn nạn đã xảy
ra với Đức Phật, với Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu bảo rằng, "Ta là con trai
của Thiên Chúa", nhiều người đã vô cùng giận dữ -như những con ngài giận
dữ với con bướm. Và rồi những con ngài này sẽ tụ họp cùng nhau để giết cho được
con bướm.
Khi Đức Phật bảo rằng,
"Ta là Đấng Thế Tôn", người Ấn Độ giáo đã vô cùng giận dữ. Họ đã bứng
tận gốc rễ của đạo Phật tại Ấn Độ, huỷ diệt nó hoàn toàn. Bằng
phương cách này người Ấn
giáo còn tinh ma xảo quyệt hơn cả người Do Thái. Người Do Thái giết Chúa -đây
không phải là một mất mát lớn lao, bởi vì Cơ Đốc giáo vẫn còn bám rễ. Người Ấn
Giáo thì không giết Đức Phật - họ thông minh xảo quyệt hơn- họ giết đạo Phật.
Họ để yên cho Đức Phật. Họ bảo, "OK. Cứ để yên cho ông ấy. Đừng tỏ ra quan
tâm, đừng chú ý gì đến ông ấy. Nếu bạn tỏ ra lưu ý, ông ta sẽ trở thành quan
trọng. Nếu bạn chống lại ông ta, bạn tạo thêm năng lượng. Nếu bạn giết ông ta,
người đời sẽ nhớ đến ông ta cả hàng ngàn năm."
Đó là những gì xảy ra trong
câu chuyện về Chúa Giêsu -ông ta bị giết. Và đó là lý do tại sao mà hơn hai
ngàn năm trôi qua, Giêsu vẫn còn sống mãi hơn bất cứ ai khác -hơn Đức Phật, hơn
Mahavir, hơn cả Krishna. Chúa Giêsu đã kéo rất nhiều những tâm hồn đến gần ông
hơn bất cứ ai khác. Tại sao? Tại vì ông ta đã bị giết. Nếu như ông ta sinh ra
tại Ấn Độ, người Ấn giáo chỉ làm một việc hết sức đơn giản là bỏ mặc, không
quan tâm gì đến ông ta. Và như vây cũng chẳng khác gì là một sự khai tử.
Quả là điều bất khả khi tin
rằng chuyện như thế đã không xảy ra cho bạn. Thế nên tôi biết rằng, nếu bạn tin
cậy tôi, thì đó quả là phép lạ. Nếu bạn không tin cậy ở tôi, thì đó là chuyện
rất tự nhiên. Nếu bạn tin tôi, điều đó cho thấy sự can đảm rất mực của bạn -bạn
là kẻ phiêu lưu, là tay liều mạng. Nếu bạn không tin tôi, nếu bạn hoài nghi,
thì bạn cũng giống như bao nhiêu người bình thường khác. Chẳng có gì sai trái
cả; chuyện bình thường thôi; đầu óc của con người bình thường nào cũng thế.
Tôi biết tôi đang làm gì ở
đây. Tôi đang nỗ lực để mang cái ý thức này đến bạn, rằng bạn là một con bướm -
rằng cả bầu trời cao rộng kia là thuộc về bạn, rằng tất cả những mật ngọt trần
gian trong những đoá hoa kia là thuộc về bạn. Thế nhưng tôi không biết bạn đang
làm gì ở đây. -đó là quyền quyết định của bạn. Nếu bạn tin tôi, có nghĩa là bạn
đang dùng thời gian của bạn một cách sáng
tạo. Nêú bạn không tin tôi,
thì cũng có nghĩa là bạn đang lãng phí thời gian và năng lượng của mình.
Chỉ nên có mặt ở đây nếu
tin tưởng ở tôi.
Trong một ngôi trường nhỏ,
vị thầy giáo hỏi đám trẻ, "Cho thầy một thí dụ các em hiểu như thế nào về
sự 'lảng phí năng lượng'." Có rất nhiều thí dụ được đưa ra nhưng tôi thích
cái này nhất: Một đứa trẻ đứng dậy trả lời, "Kể một câu chuyện dựng tóc
gáy cho một tên bị hói đầu. Cái đó gọi là lãng phí năng lượng."
Tôi thích cái thí dụ này...
Đúng như thế.
Đừng lảng phí năng lượng
của bạn. Nếu bạn có thể tin tưởng ở tôi, hãy có mặt ở đây, hãy đến với tôi, cho
phép tôi đưa bạn đến những vùng đất hoang vu xa lạ. Nếu bạn không tin tưởng ở
tôi, hãy đến bất cứ nơi nào khác, làm những công chuyện khác. Nếu bạn quyết
định cứ mãi làm những con sâu bướm, đó là quyết định của bạn và tôi tôn trọng
điều đó. Nếu bạn cảm thấy không thoải mái với kiếp làm sâu bướm và đang mơ trở
thành một cánh bướm rực rỡ, thì hãy đến với tôi. Đó là điều khả thể -nó đã xảy
ra với tôi, nó có thể xảy ra đối với bạn. Bạn phải chui ra khỏi cái vỏ kén của
mình, bạn phải từ bỏ không còn bám víu vào chiếc vỏ đó nữa. Bạn phải từ bỏ sự
phòng thủ, cái áo giáp kiên cố của bạn. Bạn phải chui ra khỏi cái trứng của
bạn, cái bản ngã đó.
Câu hỏi thứ ba
Sự khác biệt giữa phân tích
và nhận biết là gì? Có cần thiết phải nhìn về quá khứ để hiểu biết những gì xảy
ra trong tương lai?
Có rất nhiều khác biệt
-không phải chỉ là một điểm khác biệt, chúng khác nhau một trời một vực.
Phân tích là một hiện tượng
thuộc tâm thức, nhận biết là hiện tượng không thuộc tâm thức. Phân tích, bạn
trụ lại ở trong tâm, bởi vì bạn phải suy nghĩ. Phân tích là suy nghĩ. Phân tích
là đi vào luận lý, dựa trên lý trí. Nhận biết không liên hệ gì đến luận lý, đến
suy nghĩ. Hiểu biết là bay bỗng lên trên luận lý, là đi vượt ra ngoài luận lý.
Nhận biết là một bắt gặp đơn thuần -một cái nhìn thuần khiết, không chứa một ý
niệm sẽ làm bất cứ cái gì. Phân tích không hề là một cái nhìn thuần khiết; nó
chứa một mối bận tâm và bạn phải phân tích nó.
Đó cũng là sự khác biệt
hoàn toàn giữa phân tâm học và tôn giáo. Phân tâm học dạy bạn phân tích, tôn
giáo dạy bạn hiểu biết. Nếu bạn đến với Freud hoặc Jung, họ sẽ dạy cho bạn cách
phân tích một giấc mộng, làm thế nào để phân tích ý nghĩ, làm thế nào đê phân
loại chúng. Nếu đến với một ông Phật, ngài chỉ dạy bạn một điều đơn giản là làm
thế nào để nhìn vào vạn pháp, mà không khởi lên ý niệm làm cái gì cả -bằng cách
nào ta nhìn thẳng vào giấc mộng.
Cũng đừng gọi đó là giấc
mộng, bởi khi bạn gọi đó là giấc mộng bạn lại bắt đầu phân tích. Nếu bạn gọi đó
là giấc mộng thì bạn đã mang vào đó cả một phạm trù của lý luận. Bạn bảo rằng
đó là một giấc mộng, không còn là thực tế nữa -thế là phân tích bắt đầu. Bạn
phân loại nó, bạn xếp nó vào một hạng mục nào đó -thế là phân tích khởi sự.
Ngay cả không gọi đó là giấc mộng. Vì nếu bạn gọi đó là một giấc mộng đẹp, lại
đòi hỏi sự phân tích nhiều hơn. Nếu bạn gọi đó là một cơn ác mộng, bạn cần phân
tích nhiều hơn nữa. Đừng nói gì về nó, đừng đưa ra bất cứ phán đoán nào. Chỉ
nhìn thôi, không quan tâm; chỉ nhìn thẳng vào nó.
Một khi bạn nhìn vào nó
không chút bận tâm, sẽ có một kinh nghiệm lớn lao, một kinh nghiệm không tưởng
tượng nổi, khởi dậy. Khi bạn thuần tuý ngắm nhìn, ngay
cả không có một lời nào
chen vào giữa bạn và đối tượng được nhìn, đối tượng sẽ bắt đầu tan biến. Tan
biến như một đám mây. Nó càng lúc càng rời xa, càng lùi dần vào hậu trường, và khi
thời điểm đến, bỗng dưng nó biến mất. Chỉ còn trơ lại một mình bạn ở đó, đơn
độc, trống rỗng.
Đây là tất cả những gì mà
ta gọi là thiền định -tỉnh thức trong trạng thái trống rỗng. Và cách thức để
buông bỏ những gì được tích chứa không phải là phương cách của phân tích, mà là
phương cách của một cái nhìn thuần khiết.
Thế nên không cần thiết
phải phân tích. Nếu bạn phân tích, bạn đang đi vào một tiến trình tiếp diễn mãi
hoài đến vô tận. Sẽ không có kết cuộc -chuyện này dẫn đến chuyện kia. Nếu bạn
phân tích một giấc mộng, bạn phải phân tích cả toàn bộ cuộc đời mình. Và cũng
thế, tiến trình này không bao giờ chấm dứt; bạn phải đi trở ngược lại cả những
tiền kiếp xa xưa. Điều đó đã xảy ra -đã từng xảy ra tại Ấn Độ.
Freud đã bắt đầu với những
điều thật ra chẳng phải là những khám phá mới mẻ gì mà chỉ là sự khám phá lại.
Freud đã khởi sự phân tích để rồi không sớm thì muộn bao nhiêu những chuyện
khác đã khởi sinh từ đó: căn bản trị liệu pháp. Một khi bạn khởi sự phân tích
một giấc mơ mà bạn nằm mộng thấy đêm rồi, không sớm thì muộn rồi bạn sẽ phải đi
sâu vào tận chỗ thai sinh ra cơn mộng, mới hy vọng có thể hiểu được ý nghĩa của
giấc mơ kia. Bởi vì tất cả mọi chuyện đều nối kết chằng chịt cùng nhau; cái
giấc mơ này không phải từ trên trời rớt xuống. Cái giấc mơ mà bạn mộng thấy đêm
rồi được đan kết với không biết bao nhiêu chuyện đã xảy ra trong quá khứ -bạn
sẽ phải phân tích chúng. Và chúng được đan kết trong cái chiều hướng riêng của
nó cùng với bao nhiêu thứ khác - bạn sẽ phải phân tích chúng... vân vân và vân
vân.
Nếu bạn thực sự muốn phân
tích một con người, bạn sẽ phải phân tích cái toàn bộ của sự hiện hữu này. Bởi
vì nếu người cha của bạn không có mặt trên thế gian này, dĩ
nhiên là sẽ không có mặt
bạn ở đây. Và có thể là cha và mẹ của bạn đã gặp nhau một cách tình cờ bởi vì
họ đã học chung trường với nhau. Nhưng nếu như ngôi trường kia không hiện hữu ở
đó, chắc gì bạn đã có mặt ở đây.
Và giả dụ như có ngôi
trường kia mà ở đó con trai con gái học chung cùng nhau, bạn cũng có thể đã
không có mặt ở đây. Bởi vì khi nam nữ không học chung với nhau, tình yêu dễ
dàng bộc phát hơn -nếu khác phái tính cùng chung một mái trường, đâu có ai phải
bận lòng? Học chung, giao tiếp ít phát sinh ra những tình cảm lãng mạn. Thế
nhưng khi trai gái được tách rời ra, dưới mắt nhau, con gái trở nên cực kỳ diễm
lệ và con trai cũng thế. Sự chia cách đã tạo ra những ảo tượng.
Và cứ tiếp tục như thế -bạn
có thể đi lùi lại đến tận điểm khởi đầu của vũ trụ. Không phải chỉ là tiếng
khóc đầu tiên của con người mà bạn sẽ phải đi đến tận cùng tiếng kêu của Thượng
Đế -tiếng kêu đầu tiên khi ngài phán: "Hãy mang đến ánh sáng!". Tôi
thì cho rằng khi ông ta thốt ra những lời đầu tiên, có thể không phải là
"Hãy mang đến ánh sáng!" -chắc ai đó đã hiểu lầm ý của ngài. Ngài hẵn
đã nói: "Hãy mang đến luận lý!" Chính vì vậy mà từ đó nhân loại luôn
gặp phải khổ nạn. Ánh sáng thì đã không mang đến những khổ nạn như thế, mà chỉ
vì: "Hãy mang đến luận lý!"
Cái thế giới mà chúng ta
đang sống là một cấu trúc luận lý. Phân tích sẽ chẳng giúp ích được gì; bạn có thể
tiếp tục đến vô cùng vô tận. Đó là lý do tại sao phân tích lại cứ được kéo dài
ra. Một khi bạn rơi vào cái bẩy của một nhà phân tâm Freud, chuyện phân tích có
thể kéo dài đến ba năm, sáu năm, mười năm và có thể sẽ còn tiếp tục lâu hơn
-vấn đề là khả năng túi tiền của bạn. Việc phân tích này sẽ không bao giờ kết
thúc, chỉ có tài khoản trong ngân hàng của bạn. Khi tài khoản này khô cạn, nhà
phân tích sẽ bảo, "Công việc phân tích xong rồi". Bằng không, nó sẽ
vẫn cứ kéo dài đến vô tận, bởi vì sự phân tích không hề có điểm khởi đầu cũng
như điểm kết thúc. Nó là một
cái vòng tròn -và bạn cứ
tiếp tục đi vòng quanh, đi mãi không bao giờ tới đích.
Nhìn! Đó là cách thế để bẻ
gãy cái vòng tròn này. Chỉ nhìn, và nhìn thẳng vào vạn hữu. Không cần phải tính
toán tìm hiểu xem cái này là cái gì, chỉ nhìn thẳng vào vạn hữu như là chúng
hiện hữu. Chỉ nhìn thôi, một cái nhìn thuần khiết ... rồi đột nhiên đám mây mù
tan biến, bốc hơi. Và ngay lập tức, cái nhìn thuần khiết này sẽ tạo nên một
khoảng không gian thuần khiết chung quanh bạn.
Câu hỏi thứ tư
Sự khác biệt giữa phân tích
và nhận biết là gì?
Phân tích thuộc về tâm
thức; đó là một sự thao diễn của luận lý, của lý trí, suy tưởng. Nhận biết
không thuộc về tâm thức mà đơn thuần là một chứng kiến. Bạn chỉ nhìn. Tâm thức
luôn có mặt ở đó, chung quanh bạn và bạn nhìn từ điểm trung tâm. Tâm thức là
tất cả những gì chung quanh bạn, những đám mây đang bay, lưu thông trên đường
phố, giờ cao điểm... Bạn thấy đối tượng nhưng bạn đơn thuần chỉ là người thấy.
Bạn sẽ không gặp rắc rối với nó; không có gì để phải bị rắc rối. Chỉ là một vài
ý niệm trống rỗng thoáng qua chung quanh bạn -tại sao lại phải rắc rối với
chúng? Và tại sao lại phải đi vào phân tích? Những ý niệm trống rỗng chỉ là
những ý niệm trống rỗng, chỉ là những sắc trần lung linh chung quanh bạn. Hãy
để chúng lung linh. Bạn vẫn an nhiên trong sinh thể của mình, bạn vẫn luôn hiện
hữu tại trung tâm điểm, trong tận cùng cốt lõi.
Đây là điều mà ta gọi là
chứng. Chứng là một kỹ thuật, một kỹ thuật tối hậu, của tất cả mọi hiểu biết
tâm linh. Chỉ nhìn.
Các vị thiền sư thường chấm
dứt buổi pháp thoại của mình với tiếng hét: "San!" San! Có nghĩa là
Nhìn. Tiếng
thét này là sự tiếp cận
cuối cùng của các buổi pháp thoại - và với tiếng thét này, không có ai được
phép ở trong tình trạng buồn ngủ nữa. Nó giống như là tiếng sư tử hống: Nhìn!
Nhìn vào cái gì? -Đó không phải là trọng điểm. Chỉ nhìn -mọi chuyện sẽ xảy ra.
Khi bạn nhìn vào những cái cây, chỉ nhìn thôi. Đừng bảo rằng đây là cây ashoka
hay cây cypress. Đừng bảo rằng cái cây này tuyệt đẹp, cái cây kia thật xanh,
cây gulmohr đang trổ hoa. Đừng thốt lên một lời gì cả, rằng những bông hoa kia
màu đỏ, màu xanh... đừng nói gì hết. Chỉ nhìn!
Hãy để cho lời tan biến đi.
Chỉ còn lại bạn và hiện tượng của đám cây có mặt. Hoặc là bạn và hiện tượng
người nữ, người nam, bạn bè của bạn -những con người. Có mặt như là một thực
tại. Và nhìn chúng. Thế rồi bỗng dưng bạn sẽ bắt đầu có một vài khoảnh khắc,
những khoảnh khắc thật tuyệt vời. Những khoảnh khắc tuyệt vời của vĩnh cửu, của
thị kiến, rõ ràng, trong suốt. Những khoảnh khắc tuyệt vời khi bỗng nhiên tất
cả đều ngưng đọng. Và với cái nhìn đơn thuần, một thị kiến thuần khiết sinh
khởi -cùng một cái thị kiến đã có mặt từ lúc bạn sinh ra, lần đầu tiên bạn mở
mắt chào đời ...
Không hề có một lời lúc đó.
Chắc chắn là bạn đã nhìn thấy màu sắc, dĩ nhiên. Chắc hẵn là bạn đã nhìn thấy
có người đứng đó, ông bác sĩ sản khoa. Chắc hẵn là bạn đã nhìn thấy mẹ mình,
hay cô y tá. Chắc hẵn là bạn đã nhìn thấy cái đồng hồ trên tường, cái bóng đèn
điện -thế nhưng không có cách gì để nói ra. Bạn đã không thể kêu lên, "Đây
là đèn điện". Bóng đèn có mặt ở đó, nhưng lời nói của bạn không thể thành
hình. Bạn đã không thể nào thốt ra, "Đẹp quá! Cái phòng này xinh xắn quá,
bày biện khang trang quá," -bạn không thể nói ra lời, dù là một lời chào
hỏi, xã giao, "Chào Bác sĩ, Bác sĩ mạnh giỏi không?"
Tất cả đều đã có mặt ở đó
-chỉ có lời nói là mất dấu. Tuy nhiên chắc chắn là bạn đã nhìn thấy chúng -đôi
mắt
bạn có mất đâu. Đó là ý
nghĩa của điều mà tôi muốn nói, "Nhìn", đó cũng là ý nghĩa trong
tiếng thét của các vị thiền sư: San!
Hãy mang trở lại cái nhìn
của thuở đầu đời. Vâng, bạn có thể mang trở lại, bởi vì bạn biết rõ nó. Bạn đã
từng có nó -bạn chỉ quên nó, bỏ nó qua một bên mà thôi. Bạn đang bám víu vào
những đồ linh tinh phế thải mà quên đi viên ngọc kim cương quý giá của mình.
Tôi nghe kể rằng ngày xưa
có một vị đại hoàng đế. Một hôm trong lúc vi hành trên đường phố, ông ta đi
ngang qua một tên ăn mày. Bỗng dưng ông ta nhận ra y chính là một người bạn cũ
của thời ấu thơ -hai người đã từng học chung trường với nhau. Chuyện gì đã xảy
ra cho anh ta?
Ông ta dẫn y về hoàng cung.
Y được cho tắm rửa, ăn uống thịnh soạn và săn sóc chu đáo -chính tay nhà vua
đích thân chiêu đải y- với những loại rượu quý giá. Gã đàn ông nghèo khổ kia ăn
uống thật no say và lăn quay ra ngủ vùi ngay tại bàn tiệc.
Trong giây phút đó nhà vua
cảm thấy thương hại cho người bạn cũ nghèo khổ này. Họ đã từng sống chung với
nhau, học chung, chơi đùa với nhau từ lúc còn tấm bé... Nhà vua liền tuột chiếc
nhẫn kim cương qúy giá của mình và lén bỏ vào túi kẻ ăn mày.
Sáng hôm sau khi tỉnh dậy
sau giấc ngủ dài, người hành khất rời khỏi hoàng thành trong lòng rất mực hân
hoan. Nhà vua dĩ nhiên không nói gì về chiếc nhẫn kim cương kia vì không muốn
làm bận lòng người bạn cũ. Ông ta biết rõ anh ta, một người rất mực kiêu hãnh
-y chắc là sẽ từ chối món quà.
Vài hôm sau nhà vua lại du
hành ngang qua đường phố và gặp lại người hành khất kia đang xin ăn giữa chợ.
Ông ta tiến đến gần và hỏi, "Tại sao bạn lại đi hành khất? Có mục đích gì
trong việc ăn xin này không?"
Người hành khất trả lời,
"Tôi phải làm gì đây? Đâu có phải chỉ vì hôm nọ nhà vua chiêu đãi tôi thức
ăn ngon, rượu quý, nệm ấm chăn êm là tôi có thể sống mãi như thế trọn đời? Tôi
phải đi xin ăn đẻ sống. Tôi là một kẻ nghèo khổ."
Nhà vua liền bảo, "Thế
thì chuyện gì đã xảy ra? Ta đã lén bỏ vào trong túi anh chiếc nhẫn kim cương
quý giá nhất của ta."
Tên hành khất liền mò tìm
trong túi áo của mình, và chiếc nhẫn kim cương vẫn còn nằm ở đó. Mấy hôm rồi y
đâu có bận tâm thò tay vào túi của mình để làm gì. Đâu có ai mất công tìm kiếm
gì trong túi của mình khi biết nó luôn là chiếc túi rỗng? Thật là chuyện rỗi
hơi mới phải thò tay vào túi lục đi lục lại mà chẳng kiếm được gì trong đó. Thế
nên y chẳng hề tìm kiếm, chẳng hề bận tâm. Không có gì ở trong đó, y biết chắc
như thế, chỉ là cái túi rỗng.
Trường hợp của bạn cũng
giống y như thế: Bạn đã dẹp bỏ viên kim cương quý báu mà bạn đã mang theo sẵn
trong người. Khi bạn từ giã ngôi nhà của Thượng Đế, ngài đã lén bỏ viên kim cương
đó vào túi bạn. Ngài luôn luôn trao tặng một viên kim cương cho tất cả mọi
người khi họ đến thế gian -một món quà cực kỳ qúy giá, tiềm ẩn mọi khả năng
trong viên kim cương đó. Tất cả mọi kho tàng của thế gian đều khả thể qua viên
kim cương này, một người có thể trở thành một vị Phật cũng qua viên kim cương
này. Hạt kim cương đó chứa đựng rất nhiều mầu nhiệm. Bạn đã đến thế gian này
cùng với nó -thế mà bạn chưa hề nhìn vào bên trong mình để nhìn thấy nó.
Không, người ta không bao
giờ cần đến phân tích. Nếu bạn đi vào phân tích, bạn sẽ đánh mất hạt kim cương
quý giá kia. Chỉ nhìn, và chỉ nhìn thôi. Hãy rất mực tỉnh táo, hãy vô cùng cảnh
giác -trở nên tĩnh thức hơn, nhưng không phân tích. Chỉ nhìn. Thế rồi với thời
gian, những khoảnh khắc vi tế sẽ đến -những khoảnh khắc giá trị, những khoảnh
khắc quý giá, như hạt kim cương. Chúng
sẽ tiếp tục lớn dần lên.
Một khi bạn nếm được hương vị của chúng, mọi chuyện sẽ bắt đầu dễ dàng hơn. Một
khi bạn nhận ra sự có mặt của chúng ở đó, chúng càng quy tụ đến nhiều hơn -vì
bạn có khả năng nhận ra chúng nhiều hơn. Và chúng khởi sự lớn dậy. Rồi những
khoảng nhỏ xuất hiện -có thể chừng nửa tiếng đồng hồ, không một niệm sinh khởi.
Rồi một giời trôi qua, bạn tỉnh toạ an nhiên ở đó, không một niệm khởi dậy.
Cái đó gọi là thiên đàng!
Cái đó gọi là cực lạc! Bạn đang thể nhập vào một chiều kích khác: con sâu bướm
đang bắt đầu mọc cánh.
Thế nhưng chỉ nhìn thôi. Sự
nhận biết không quan hệ
gì đến phân tích.
Câu hỏi thứ năm
Những bài giảng về Thiền
khiến tôi vô cùng thích thú. Tôi cảm thấy mình gắn bó với nó ngày càng nhiều
hơn. Tuy nhiên với tôi nó có vẻ chẳng khó khăn gì cả. Có phải tôi đang trở nên
lười biếng? Tôi cứ nghĩ là chuyện rèn luyện tâm linh phải rất mực gian khổ
-không phải là một chuyện tà tà, thảnh thơi như thế.
Vâng, người ta cứ thường
cho là thế -đó là những kẻ bạo dâm, những người thích hành hạ kẻ khác. Thực ra,
bạn đã được giáo dục với ý tưởng này, được nuôi dưỡng với ý tưởng này ngay từ
trong sữa mẹ -tất cả chỉ vì người ta cho rằng cực lạc phải kiếm được bằng nỗ
lực lớn. Cực lạc phải được chắt chiu, và lạc cảnh còn là một đổi đường rất mực
xa vời. Từ đó người ta phải dấn mình vào cuộc viễn du, một cuộc hành trình đầy
gian khổ, khó khăn vất vả.
Thật là chuyện hoàn toàn vô
nghĩa. Cực lạc là bây giờ và tại đây! Và con người chỉ cần một điều duy nhất để
vươn tới cực lạc: An trú trong cực lạc. Không còn điều gì khác, không có một
đòi hỏi nào khác.
Cực lạc không phải là mục
tiêu. Thượng Đế cũng không phải là mục tiêu, Thượng Đế đã là một tình huống.
Thượng Đế đã hiện hữu với bạn -bạn đang mang theo y ngay trong chính mình. Đây
là trọng điểm của Thiền. Thiền không hề bảo bạn phải chạy kiếm tìm y ở một nơi
nào đó. Y không trốn tránh bạn, không chơi trò trốn tìm với bạn. Y không hề
ngồi dấu mình trong một hang động nào đó ở Hy Mã Lạp Sơn mà ở ngay trong hang
động của trái tim bạn! Đừng có mất công chạy vào Hy Mã Lạp Sơn mà hãy nhìn sâu
vào trong bạn. Và cái nhìn đó không cần phải chuẩn bị trước, không hề có bất cứ
đòi hỏi nào. Không hề có giả định trước. như bạn đang là, trong khả năng, tầm
tay. Đây là trọng điểm của Thiền, tính cách mạng của Thiền.
Thiền không hề cho rằng
chân lý là phức tạp. Chỉ có những dối trá mới rắc rối phức tạp. Chúng bắt buộc
phải phức tạp, bởi vì chúng là những dối trá -lý do là bạn phải cưu mang, duy
trì chúng. Từ một điều dối trá bạn phải tạo ra hàng ngàn điều dối trá khác. Để
bao che một điều dối trá bạn phải trở thành một tên nói dối chuyên nghiệp, bạn
phải tạo ra toàn bộ một đời sống căn cứ trên điều dối trá đó. Nói ra một điều
dối trá, và rồi bạn sẽ thấy điều gì xảy ra -bạn phải sáng tác ra cả một ngàn lẻ
một điều dối trá khác để bảo vệ cho điều dối trá đầu tiên. Và rồi điều gì sẽ
xảy ra cho một ngàn lẻ một điều dối trá kia? Mỗi một điều dối trá mới lại sẽ
được bảo vệ bởi một ngàn lẻ một điều dối trá khác.
Dối trá thì rắc rối phức
tạp, chân lý thì rất mực giản đơn. Chân lý đã là một tình huống. Chân lý có mặt
ở đó - chân lý như mưa tuôn trong ánh mặt trời, cơn mưa chan hoà khắp chốn. Bất
cứ bạn ở chốn nào, chân lý đều ở trong tầm tay với. Bạn không cần phải chạy đi
đâu cả,
ngay cả việc bước đi một
bước! -và cuộc hành trình đã mãn. Bạn chỉ trở nên tĩnh lặng và nhận biết nó.
Vâng, buông bỏ là cánh cửa.
Hãy quăng bỏ tất cả
những rác rưởi mà bạn đã
được dạy dỗ.
Xã hội luôn bị chế ngự bởi
những kẻ bạo dâm -họ luôn luôn cho rằng cái gì cũng phức tạp; họ biến mọi
chuyện trở thành khó khăn. Cái gì quá dễ dàng, đối với họ sẽ chẳng mảy may có
giá trị gì. Tại sao thế? Bởi vì chuyện dễ dàng không hề mang đến cho bạn cái ý
thức về bản ngã. Thế nên mọi chuyện đều phải làm cho chúng trở thành phức tạp
khó khăn. Họ biến đời sống trở thành một cuộc chạy đua vượt rào -những khó khăn
chướng ngại được dựng lên trên đường đi của bạn để tạo cảm giác rằng bạn đã đạt
đến mục tiêu.
Cái ngã chỉ được khởi dậy
khi nào có những khó khăn chướng ngại, và cái ngã cũng là vật chướng ngại lớn
lao nhất trên hành trình của bạn tiến đến Thượng Đế. Thế nên Thượng Đế không
thể phức tạp khó khăn -mà là một bài toán đơn giản, đó là điều chắc chắn. Bản
ngã cần đến những chuyện khó khăn phức tạp, nuôi dưỡng bởi những khó khăn phức
tạp. Một việc càng khó chừng nào thì cái ngã cảm thấy càng bị cuốn hút đến
chừng nấy -quyến rũ hơn, hút vào như một từ trường. Khó khăn, hắc buá, không
thể tiếp cận được, không thể đạt đến được, bất khả, đó là những điều mà bản ngã
rất mực thích thú. "Đây là điều cần làm, bởi vì không ai có thể làm được
việc đó. Nếu ta làm được, ta sẽ là kẻ trội bật hơn cả."
Bản ngã cần đến những
chuyện khó khăn, và xã hội mà chúng ta đang sống được cấu trúc phù hợp theo cái
ngã. Nền tảng triết học sâu xa nhất của tất cả mọi nền văn hoá trên thế giới
này quy hướng vào bản ngã. Bất kể họ nói điều gì, tận căn bản tất cả mọi xã hội
đều hiện hữu chung quanh ý niệm về cái ngã: biến mọi chuyện trở nên khó khăn
nhiều chừng nào hay chừng nấy. Thế nên cái ý niệm này đã bám rễ chặt chẽ ở
trong bạn.
Chân lý không hề phức tạp,
tình thương yêu không hề phức tạp, cực lạc không hề phức tạp. Bạn chỉ phải khởi
sự sống với nó. Không có gì bị mất đi, dù chỉ một sự việc cỏn con. Tất cả mọi
chuyện đều sẵn sàng, bạn chỉ cần bắt đầu mà thôi.
Đừng cảm thấy bối rối khi
thấy nó có vẻ quá dễ dàng. Đây là điều dễ dàng nhất trên thế gian này -Nếu bạn
đơn giản. Còn nếu bạn khó khăn, dĩ nhiên bạn sẽ làm cho nó trở thành khó khăn
hơn; nếu bạn phức tạp, bạn sẽ làm cho nó càng trở nên phức tạp.
Có phải tôi đang trở nên
lười biếng? Sự lười biếng cũng đã từng bị lên án khá nhiều. Thế nhưng không nên
lên án nó quá mức như thế. Những người lười biếng cầu nhàn đã không hề tạo ra
điều gì sai quấy trong thế giới này -không tin bạn cứ việc nhìn vào lịch sử.
Những kẻ biếng lười là loại người tốt đẹp bậc nhất trong xã hội. Một kẻ biếng
lười không thể nào trở thành một Adolph Hitler hay một Thành Cát Tư Hãn. Một kẻ
biếng lười không thể nào trở thành một Tamurlaine hay Nadirshah, không thể trở
thành cái này cái nọ. Một kẻ biếng lười chỉ có thể trở thành một Lão Tử. Nếu
muốn trở thành một cái gì đó, y chỉ có thể trở thành Lão Tử thôi.
Lười biếng, tự căn bản,
không có gì sai quấy. Thế nhưng chúng ta đang bị chế ngự bởi một xã hội mang
dấu ấn của hành động, làm việc, gây hấn. Chúng ta đang bị chế ngự bởi những
người có thể tạm gọi là: Những Kẻ Thành Đạt". Dĩ nhiên, nếu bạn muốn đạt
đến một cái gì đó, chắc chắn là bạn không đươc phép lười biếng. Nếu bạn muốn
nhiều tiền lắm bạc hơn kẻ khác, bạn không thể nào lười biếng -tiền bạc không
thể nào đến với bạn qua cung cách như vậy. Tiền bạc không bao giờ đến với những
kẻ làm biếng, chắc chắn như thế.
Nếu bạn muốn trở thành một
ông Thủ tướng, dĩ nhiên điều này không thể hiện thực một cách dễ dàng; bạn phải
cật lực làm việc cho mục tiêu đó. Bạn phải vào tù ra khám, phải bị những ưrận
đòn thù của mật thám, công an,
con đường phải đi như thế.
Chứ còn gì nữa? Đó là cách thế mà người ta đi vào Tân Đề Li. Đó là cách thế mà
Morarji trở thành thủ tướng. Bạn phải tuyệt thực, phải làm đủ một ngàn lẻ một
cách để tạo ra những rắc rối, bất ổn. Bạn phải học tất cả những mánh lới chính
trị. Bạn phải không ngừng gây ra những xáo trộn cho thế lực đang nắm quyền -tạo
nên những khó khăn để họ bắt đầu nghĩ đến chuyện, "Tốt hơn là mình nên rời
khỏi quyền lực". Bạn phải tạo nên một tình huống khiến họ sẽ cảm thấy như
trút được gánh nặng nếu có ai đó thay mình cầm quyền. Nếu bạn muốn vào ngồi ở
Tân Đề Li, ở Toà Bạch Ốc, hay ở Luân Đôn, bạn phải làm việc tối đa; bạn không
thể nào lười biếng. Nếu bạn muốn trở thành một Rockefeller hay Morgan, bạn cũng
phải làm việc cật lực như thế.
Thế nhưng để đạt đến Thượng
Đế, người ta không cần đến cái tâm của một kẻ tranh đạt. Bạn có thể lười biếng
mà vẫn có thể nhập vào dòng thánh. Thực ra, còn dễ dàng hơn nữa là khác. Đối
với tôi, sự lười biếng chẳng có gí là sai quấy. Điều này không có nghĩa là tôi
cổ võ "Hãy nên làm biếng" -mà chỉ mang một ý nghĩa đơn giản rằng,
lười biếng không phải là một cái gì đó "mất phẩm giá". Nếu bạn cảm
thấy thoải mái với việc lười biếng, thì cứ việc lười biếng. Nếu bạn cảm thấy
thoải mái với hành động, cứ việc hoạt động. Nếu một người hoạt động năng nổ
muốn trở thành kẻ lười biếng, sẽ là một điều khó khăn, rất mực khó khăn. Nếu
một kẻ biếng lười muốn trở thành người hoạt động tích cực, cũng sẽ là một khó
khăn lớn -nếu không nói là bất khả.
Tôi không hề tán đồng
chuyện bạn phải trở thành một mẫu người nào đó khác hơn là chính bạn. Tôi chấp
nhận bạn nguyên trạng. Nếu bạn lười biếng, cũng tốt thôi, sẽ có phương cách cho
kẻ biếng lười. Vấn đề là bạn phải chọn lựa người khải đạo của mình một cách
đúng đắn -Lão Tử hoặc là tôi. Đừng có chọn cái ông Mahavira, ông ta sẽ không
giúp được gì cho bạn. Ông ta là một chiến sĩ, một kshatriya, và chỉ biết một
chuyện duy nhất là phải chiến
đấu như thế nào. Thế nên
ngay cả khi đã đến với Thượng Đế, ông ta cũng đánh nhau với Thượng Đế luôn. Vì
thế ông ta có tên là Mahavira -'người can đảm bậc nhất'. Vì thế cái hệ thống mà
ông xây dựng lên được gọi là 'Jaina'
-Kỳ Na giáo, có nghĩa là
'hệ thống giúp bạn chinh phục'.
'Mahavira" có nghĩa là
kẻ chinh phục, và 'Jaina' có nghĩa là phương pháp để chinh phục. Ngay cả đối
với chân lý,
ông ta cũng là một kẻ chinh
phục, một chiến sĩ. Đó là con
đường của ý chí và hành
động.
Nếu tự trong bản chất của
bạn có một chút nào hơi hướng của một kshatriya, một hiệp sĩ samurai, một chiến
sĩ, thì cứ việc chọn Mahavir -ông ta đúng là người khải đạo của bạn. Thế nhưng
bạn cũng đừng cảm thấy bị xuống tinh thần nếu bạn không phải là một kshatriya.
Nếu bạn là kẻ lười bìếng, cũng rất tốt -sẽ không thiếu những người khải đạo sẵn
sàng cho bạn. Và cảm nghĩ của riêng cá nhân tôi là có rất nhiều người đã đạt
đến Thượng Đế, Chân Như thông qua buông thả thay vì ý chí. Đó không phải là
chuyện ngẫu nhiên mà Mahavira đã không thể thu hút được nhiều môn đệ; cũng
không phải là chuyện ngẫu nhiên mà rất nhiều người đã không đạt đến chân lý
thông qua Mahavira. Ngược lại, với Lão Tử, với Đức Phật đã có rất nhiều người
chứng đạt hơn.
Riêng Đức Phật là một
trường hợp khác thường. Trong vòng sáu năm, ngài cũng giống y như Mahavira.
Trong vòng sáu năm ngài đã cố gắng hết sức bình sinh, đã đi qua già nữa lộ
trình của ý chí. Mahavira đã hạ thủ công phu trong suốt mười hai năm và chứng
đắc. Cũng cùng một hành trình như thế, Đức Phật đã nỗ lực không ngừng trong sáu
năm và cuối cùng nhận ra rằng, "Đây không phải là con đường của ta."
Ngài đã làm việc cật lực. Ngài cũng đã là người, ít nhất từ trong huyết thống,
sinh ra như là một kshatriya, thuộc giai cấp chiến sĩ. Tuy nhiên hình như ngài
là một loại người khác, không nằm trong truyền thống tự nhiên. Sau sáu năm dài
ngài đã nhận ra một điều rằng, tất cả những nỗ lực của mình đều vô nghĩa. Ngài
trở nên thư giản. Và trong cái đêm rất mực thư giản đó, ngài
chứng ngộ. Thế nên ngài là
một trường hợp khác thường. Ngài đã tu tập cật lực trong suốt sáu năm -thế rồi
trong một đêm ngài buông bỏ mọi nỗ lực, thư giản, lười biếng thong dong. Đêm đó
ngài đi vào giấc ngủ, không khởi lên lòng ham muốn chứng đắc bất cứ cái gì;
ngài chấp nhận trạng thái vô cầu. Và chính từ trong trạng thái vô cầu này, ánh
sáng giác ngộ đã bừng lên. Ngài là một nửa của Mahavira và một nửa của Lão Tử.
Từ đó ngài đã giúp đỡ cho
cả hàng triệu người -hơn bất cứ ai khác. Lý do có thể là như thế này, đối với
một số người, sáu năm đó không phải là không hữu ích -thế là họ chọn đi trên
con đường đó, hình thành một đạo lộ có tên gọi là hinayana, Tiểu Thừa. Đối với
một số người khác, Ngài cho họ những hình thức tiếp cận khác, mở ra cho họ một
cánh cửa khác -mahayana, Đại Thừa. Với những ai không thể chiến đấu cật lực,
những ai cảm thấy không thích chuyện phải đánh vật với chân lý -những người
muốn buông bỏ để trở thành tiếp thụ, những người muốn trở thành âm tính, như
thai nhi còn trong bụng mẹ, muốn đón nhận chân lý đến từ bất cứ lúc nào, sẵn
sàng thư giản và chờ đợi -vâng, họ có thể chứng đạt thông qua Đức Phật.
Mahavira ở một đầu thái
cực, ý chí. Lão Tử ở một đầu khác, buông thả. Đức Phật ở ngay trung đạo -một
nửa Mahavira, một nửa Lão Tử. Đo là lý do tại sao ngài có thể giúp đỡ được
nhiều người hơn -hơn Lão Tử, hơn cả Mahavira. Ngài là một tổng hợp vĩ đại, siêu
việt. Một số người muốn chọn con đường vận dụng nỗ lực, họ bước đi theo những
gì mà Đức Phật đã trải qua trong sáu năm đầu tiên, họ tránh nói đến cái đêm
cuối cùng của ngài. Thế nên mới có hai loại mẩu chuyện sau đây.
Mới hôm qua hôm kia gì đây,
Maitreya đã nêu lên một câu hỏi -Tôi đang đợi đúng thời điểm để trả lời câu hỏi
này. Có hai câu chuyện nói về Đức Phật đã chứng ngộ như thế nào. Một câu
chuyện, mang màu sắc Tiểu Thừa - những người đi theo đạo lộ của ý chí, đây là
câu chuyện
của họ. Họ kể rằng: Sau sáu
năm ngồi dưới gốc cây Bồ đề, với quyết tâm vô cùng mãnh liệt rằng nếu không
thành đạo ngài sẽ không rời khỏi chỗ này. Ngài sẽ không cử động, không mở mắt
ra, không đi khất thực. Ngài sẽ chấp nhận ngồi chết tại đây nếu như không đạt
thành giác ngộ. Tất cả như là một sự đánh cuộc. Và rồi sáng hôm sau, ngài chứng
quả.
Đây là câu chuyện của Tiểu
Thừa, đạo lộ của ý chí. Trong sáu năm Đức Phật đã tu tập tận tình, nhưng chưa
phải là nỗ lực tối hậu. Cái thành quả siêu tuyệt phải đến từ toàn thể quyết
tâm, toàn thể ý chí -thế nên bây giờ ngài sẽ chết. Thành công hay là sẽ chết
-nhưng sẽ không rời khỏi nơi này. Cái quyết tâm hoàn toàn này là nội dung chính
của câu chuyện.
Câu chuyện thứ hai là câu chuyện
của Đại Thừa -câu chuyện của những người thong dong lười biếng, những người
bước đi trên đạo lộ của buông thả, vô vi. Họ kể rằng: Sau sáu năm, cũng một đêm
như mọi đêm, ngài chứng đắc. Cũng là cái đêm thành đạo đó nhưng hai câu chuyện
lại khác nhau, tuỳ thuộc vào sự chú giải. Họ bảo rằng, cũng một đêm như bao
nhiêu đêm khác, sau sáu năm -cả hai bên đều không có gì bất đồng ý kiến về giai
đọan sáu năm này. Thế nhưng cái đêm cuối cùng về những gì thật sự xảy ra, thì
đã trở thành một vấn nạn. Và Đức Phật thì đã không hề đá động gì đến cái đêm
thành đạo này. Thế nên mới có hai câu chuyện khác nhau. Và với hai câu chuyện
này, Phật giáo đã chia ra làm hai nhánh, Tiểu Thừa và Đại Thừa -con đường gian
khổ và con đường buông thả.
Câu chuyện của Đại Thừa nói
rằng Đức Phật sau sáu năm khổ hạnh, đã đi đến nhận thức rằng tất cả mọi nỗ lực
đều trở thành vô nghĩa. Chân lý không thể đạt đến bằng chăm chăm vươn tới cho
bằng được, bởi vì ngay chính cái nỗ lực vươn tới này, cái ngã vẫn còn tồn tại
-người tranh đạt vẫn còn hiện hữu. Nhận biết như thế, ngài đã buông bỏ ngay
chính cái ý niệm này. Ngài đã hoàn toàn quên đi
cái ý niệm thành đạt, ngài
thư giản. Ngài thốt lên, "Đủ rồi". Ngài đã từng buông bỏ cái trần
gian hệ lụy này, tiền bạc, quyền lực, danh vọng -buông bỏ tất cả mọi mục tiêu.
Thế rồi ngài đã dồn tất cả mọi năng lượng của minh vào một mục tiêu khác -giác
ngộ, niết bàn. Bây giờ thì ngài đã thấy rõ cái trọng đìểm, rằng đây thực ra
cũng chỉ là một thứ ngã chấp, một lộ trình của bản ngã: "Ta cũng lại đang
cố gắng để đạt đến một cái gí đó". Thấy được điều này, chắc ngài đã phải
bật cười. Ngài đã buông bỏ luôn cái ý niệm đó; ngài thư giản.
Đêm hôm ấy một người thiếu
nữ đã đến đó để cúng bái cái cây. Cô ta là tín đồ của giáo phái thờ cây, đa
thần giáo. Đó là vào một đêm trăng tròn, người thiếu nữ mang theo một bình sữa
kheer, một loại nước ngọt làm bằng gạo và sữa, định để tưới lên trên những
chiếc rễ của cây bồ đề. Dưới ánh trăng vằng vặc, cô ta đã trông thấy người
thanh niên tuấn tú này, vẻ mặt đẹp như trong bức tranh vẽ, đang ngồi tĩnh tọa ở
đó. Người thiếu nữ thầm nghĩ, tưởng tượng rằng, "Đây chắc phải là ông thần
cây đang hiện ra, đang biến thành con người thực để cho mình trông thấy."
Nàng đã thờ cúng vị thần cây trong bao nhiêu năm nên không khỏi suy nghĩ,
"Chắc là lời cầu nguyện của mình nay đã đdược chứng giám."
Thế là người thiếu nữ đã
cúng dường bình sữa kheer cho Đức Phật. Nếu nàng đi đến đây trước đó một ngày,
có lẽ ngài đã đổ bình sữa này đi -kheer quá đổi sang trọng cho một nhà tu khổ
hạnh, người không bao giờ đụng đến những thực phẩm quý giá như thế. Có thể là
ngài đã từ chối. Có thể là ngài đã không ngó ngàng gì tới người thiếu nữ này
-một nhà tu khổ hạnh không bao giờ nhìn đến phụ nữ. Thế nhưng bây giờ ngài đón
nhận nó và uống cạn bình sữa. Thân xác của ngài chắc là đã cảm nhận một niềm
sảng khoái -sau bao nhiêu năm chưa hề có. Thế rồi ngài chìm vào một giấc ngủ
thật ngon.
Khi bạn quá mức khát khao
mơ ước được đạt đến một cái gì đó, bạ khó mà ngủ yên được, bởi vì lòng tham đắm
cứ tiếp tục quấy nhiễu nó
-vẫn tồn tại cái dư vị khó chịu ở đó. Lần đầu tiên Đức Phật đã có một giấc ngủ
ngon. Không còn lại một chút tham đắm nào, không còn đến cả giấc mơ - bạn chỉ
nằm mơ khi nào có những khát vọng cần thoả mãn. Những khát vọng của bạn khuấy
động những cơn mơ trong tâm thức.
Đêm hôm đó, với thể xác cực
kỳ sảng khoái, sau bao nhiêu năm... làn gió mát lạnh mơn man, ánh trăng chiếu
soi vằng vặc, những bóng cây mơ hồ lung linh... Đức Phật chìm vào giấc ngủ,
không một giấc mơ, không bị khuấy động. Một giấc ngủ thật hoàn toàn. Bình minh
hôm sau ngài mở mắt ra... Kinh sách Đại Thừa đã không nói rõ rằng "Ngài mở
đôi mắt ra" mà là "Ngài thấy mắt mình mở ra" -rất mực thư giản
đến độ ngài sẽ không còn mở đôi mắt ra nửa.
Khi ngài thấy đôi mắt mình
mở ra -bởi vì từ khi thức giấc, thông thường một khoảnh khắc đến trước khi đôi
mắt sẽ mở ra- khi ngài thấy đôi mắt mình mở ra, ngôi sao mai cũng vừa mới tắt
trên nền trời ... và cùng với sự biến mất của ngôi sao cuối cùng, cái ngã của
ngài cũng biến mất. Ngài thành tựu giác ngộ.
Giác ngộ xảy đến trong cùng
một đêm rằm. Nó xảy ra như thế nào, có hai nguồn lý giải. Chọn lựa của riêng
tôi là lối giải thích thứ hai. Tuy nhiên nếu bạn là con người của ý chí và hành
động, bạn có thể chọn lối giải thích thứ nhất -không có gì sai lầm trong đó cả.
Chọn lựa của riêng tôi là cái thứ hai.
Câu hỏi thứ sáu
Tôi đã đến viếng rất nhiều
đạo tràng, nhưng thấy bất cứ ở đâu người ta cũng tách riêng nam giới và nữ giới
ra
-ngoại trừ ở đây. Tại sao?
Bởi vì cái đạo tràng này
dành cho con người nói chung. Không chỉ riêng cho đàn ông, hay phụ nữ -không hề
có sự phân biệt đó ở đây. Dĩ nhiên vẫn có những khác biệt giữa nam giới và nữ
giới, nhưng không hề có sự đối xử phân biệt. Những khác biệt đó có mặt nhưng
chúng thật tuyệt vời. Chính vì những khác biệt này mà muôn đời vẫn có sự thu
hút lẫn nhau giữa những người khác phái và toàn bộ cuộc chơi của đời sống cứ
tiếp tục.
Có thể bạn đã viếng thăm
nhiều đạo tràng, những đạo tràng đó không thuộc về thế kỷ này! Những đạo tràng
đó phủ đầy bụi bặm quá khứ, không còn mang tính chất thời đại chút nào. Lẽ ra
chúng phải được biến đi từ ba ngàn năm trước mới phải. Chúng chỉ là những tàn
tích của quá khứ, những cổ vật trong viện bảo tàng, hoàn toàn vô nghĩa.
Đạo tràng này thuộc về
chính khoảnh khắc này và cũng là đạo tràng của tương lai. Ngay tại đây, một cái
gì mới mẻ đang được mở ra, hoàn toàn mới mẻ -một cái gì đó rất mực cần thiết
cho nhân loại hôm nay. Đạo tràng này là điểm gặp gỡ của thời đại.
Thế nên, để đi đến đây từ
đạo tràng của Sivanada tại Rishikesh không những là bạn đang du hành bằng xe
lửa mà còn du hành qua thời gian. Phải mất ba ngàn năm bạn mới đi từ Rishikesh
đến Poona này! Khó khăn thật -cuộc hành trình bằng xe lửa chỉ mất khoảng hai
mươi bốn tiếng đồng hồ, thế nhưng băng qua suốt ba ngàn năm quả là một chuyện
phi thường. Trừ phi bạn rất mực tỉnh táo, bạn sẽ không bao giờ có khả năng vào
được chốn này.
Đây là một nơi chốn mới mẻ.
Đây không phải nơi của truyền thống cổ xưa mà là nơi của hứa hẹn tiềm năng sắp
đến. Nó không phải là một sản phẩm của quá khứ, mà là hạt giống, là suối nguồn
của tương lai.
Những người sợ hãi phụ nữ
là sợ hãi thực tại, sợ hãi chính mình. Những người sợ hãi phụ nữ thực ra cũng
là
những người sợ hãi đời sống
-bởi vì phụ nữ chính là đời sống. Những người sợ hãi phụ nữ cũng là những người
sợ hãi yêu thương. Những loại người này cơ bản là thiếu thông minh, nếu không
nói là đần độn. Họ không có khả năng để trưởng thành trong thông minh, tĩnh
thức, và sáng lạn. Họ có thể là những kẻ độc thân nhưng không thể trở thành
những người vinh danh đời sống, chúc tụng cuộc đời.
Đối với tôi, đời sống độc
thân chỉ là một kế thừa của vinh danh đời sống. Đó là cực điểm của vinh danh.
Khi người ta yêu nhau, khi người đàn ông hiểu biết một người phụ nữ hay ngược
lại -hiểu biết một cách tường tận- kết quả sẽ là một sự thăng hoa. Lúc đó người
nam sẽ không còn là người nam, và người nữ sẽ không còn là người nữ. Đó là tình
trạng mà ta gọi là Phật cảnh; là cảnh giới giác ngộ. Lúc bấy giờ bạn sẽ không
còn là một bộ phận của nhị nguyên, bạn đã trở thành nhất thể.
Hãy luôn luôn nhớ rằng, ở
nơi đâu có đời sống, ở nơi đó có tình yêu. Ở nơi đâu có đời sống, với tất cả
cuộc chơì của đời sống -cái gọi là leela - ở nơi đó nam và nữ phải luôn có mặt,
gắn bó cùng nhau. Nam trơ trọi một mình, đời sống là một chuổi dài sầu thảm. Nữ
trơ trọi một mình, đời sống buồn da diết. Khi gắn bó cùng nhau, năng lượng sẽ
trào dâng như suối nguồn tuôn chảy. Khi gắn bó cùng nhau, năng lượng sẽ nhảy
múa reo vui. Khi gắn bó cùng nhau, một điều khá tự nhiên, năng lượng sẽ trào
dâng như ngọn thủy triều.
Như vầy tôi nghe:
Vị giáo sư kia là một người
chống đối kịch liệt việc cho học sinh nam nữ học chung trường. "Chuyện
không thể như vậy được", ông phân bua với một nhóm bạn bè, "thật khó
mà dạy toán cho một cậu thanh niên khi có sự hiện diện của một cô gái ở trong
lớp."
"Này ông giáo sư
ơi," một người lên tiếng phản đối, "chắc chắn là phải có chuyện miễn
trừ chứ?"
"Có thể," ông
giáo sư đốp chát, "nếu như anh ta là đồ đáng để quẳng đi."
Vâng, đúng thế. Nếu một
người đàn ông không còn cảm thấy thích thú trước một người phụ nữ, y sẽ không
còn thích thú trước cái đẹp, trước duyên dáng yêu kiều, trước nhu mì e lệ,
trước thanh thản yên bình. Y là đồ đáng để quẳng đi; y không phải là một con
người thông minh.
Một con người thông minh
không bao giờ trốn chạy trước bất cứ tình huống nào. Bất cứ cái gì Thượng Đế
trao tặng, y tận dụng ngay cơ hội ấy, và khai thác đến tận cùng. Y tận dụng
từng cơ hội trong một cách thế tích cực. Thế rồi mỗi một tảng đá chận đường sẽ
trở thành một bực thang cho y tiến dần đến Thượng Đế.
