Osho
- Hạt Cải Trời
Chương
6: Vô lý - Phi lý
Chúa Giê-Su
nói, “Nước Trời giống như người chủ chiên (1) có một trăm con. Con lớn nhất bị
lạc. Ông ấy bèn bỏ lại chín mươi chín con kia và đi tìm con bị lạc, cho đến khi
tìm ra được mới thôi. Khi tìm được rồi, ông ấy nói với nó, “Ta thương mày hơn
chín mươi chín con kia.” (2)
Một trong những
câu hỏi hóc búa nhất là chuyện gì sẽ xảy ra cho những người tội lỗi, cho những
người đi lạc? Giữa thánh linh và kẻ có tội có liên hệ gì chăng? Họ có bị trừng
phạt không? Họ có bị đày xuống địa ngục không? Bởi vì các thầy tu đều nói rằng
họ sa địa ngục để bị trừng phạt. Nhưng Thượng Đế có nỡ phạt ai không? Lòng nhân
từ của Ngài để đâu? Thượng Đế mà chẳng tha thứ, ai có thể tha thứ được?
Có nhiều giải
đáp khác nhau, nhưng giải đáp của Chúa tuyệt diệu nhất. Trước khi bàn về những
lời của Ngài, một số yếu tố cần phải hiểu rõ để làm sáng tỏ vấn đề. Mỗi khi trừng
phạt người nào, bất kể cớ gì mà ta nêu ra, thì lý do của ta luôn luôn khác hẳn.
Bởi vì cớ và lý do là hai cái khác hẳn nhau. Bạn là cha, hay là mẹ. Con của bạn
đã làm phật ý bạn. Chẳng cần biết là nó đúng hay sai, bởi vì lấy thước gì mà đo
để biết đúng hay sai? Có thể nó đúng, cũng có thể sai. Nhưng cái gì bạn cho
phép thì đúng. Cho nên tất cả tùy thuộc ở bạn.
Một đứa trẻ làm
gì sai. Bạn sẽ phạt nó. Lý do sâu xa là nó không tuân lệnh, chẳng phải là việc
nó làm là sai. Lý do chính là bạn cảm thấy bị tổn thương. Nó đã cả gan dám
thách đố bạn; nó đã khẳng định chính nó. Nó đã chẳng coi bạn ra gì, chẳng biết
bạn là cha mẹ, chẳng biết bạn là quyền lực tối cao. Cho nên bạn phạt nó. Lý do
là cái tôi của bạn bị đụng chạm nên sự trừng phạt có hình thức báo thù. Nhưng cớ
của bạn thì khác hẳn. Bạn nói nó làm sai nên phải phạt để nhớ đời. Bạn thương
nó nên phải cho roi, cho vọt. Cho nên nó sẽ bị phạt nếu không vâng lời, và nó sẽ
được khen thưởng khi ngoan ngoãn. Nó phải được dạy dỗ như thế để được nên người.
Đó là cái cớ của bạn; bạn nghĩ như thế trong đầu, nhưng đó không phải là lý do
cơ bản.
Lý do cơ bản
thì khác hẳn. Nó phải được nhắc đi nhắc lại là uy quyền thuộc về bạn, rằng bạn
là người quyết định cái gì đúng, cái gì sai, rằng nó phải vâng lời, rằng nó
không có tự do, rằng bạn là cha mẹ, rằng nó thuộc về bạn, rằng nếu không tuân lệnh,
nó sẽ bị phạt. Nếu bạn hỏi các nhà Tâm lý Miền Sâu (3), họ sẽ nói rằng, trong mọi
hành vi, sự phân biệt giữa lý do và cái cớ ấy cần phải được hiểu rõ. Cớ là một
thủ đoạn rất xảo quyệt. Nó dấu lý do thực sự và cho bạn cái giả dối, nhưng trên
bề mặt, chẳng có gì sai cả. Và không những điều đó xảy ra giữa cha mẹ và con
cái, mà còn xảy ra giữa xã hội và đám trẻ bụi đời. Đó là lý do tại sao có nhà
tù, có luật pháp. Chúng là những cách mà xã hội báo thù.
Xã hội không thể
tha thứ cho những người nổi dậy, bởi vì hắn sẽ phá hủy toàn bộ cơ cấu. Athens
đã không tha Socrates (4), chẳng phải vì ông ấy sai, mà vì Athens không thể chấp
nhận để cho toàn bộ cơ cấu của xã hội bị thách đố. Cho nên Socrates phải làm dê
tế thần. Và Chúa bị đóng đanh, chẳng phải vì Ngài sai, mà vì xã hội thời ấy
không thể chấp nhận những lời dạy của Ngài, những kiểu nói của Ngài, những hành
động của Ngài. Ngài bị coi là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù những chân lý mà
Ngài rao giảng chưa bao giờ được phát biểu một cách mạnh mẽ như thế.
Xã hội không thể
chấp nhận được thì nó trừng phạt bạn. Nhưng nó sẽ tìm đủ cớ. Nó nói rằng làm thế
là tốt cho bạn, bất kể là cái ước muốn đó có thành tựu hay không. Chúng ta đã
phạt những tội phạm trong nhiều ngàn năm, nhưng chẳng mấy người quan tâm là những
kẻ xấu số ấy có được hoán cải nhờ hình phạt hay không. Tội phạm mỗi ngày một
đông. Khi nhà tù ngày càng nhiều thì luật pháp càng phức tạp hơn, tòa án nhiều
hơn, tội phạm đông hơn, hình phạt nặng hơn. Vô lý tuyệt đối!
Đâu là sự thật?
Can phạm cũng thừa biết đó chỉ là cái cớ, rằng hắn bị phạt không phải vì phạm
luật, mà thật ra, hắn bị phạt chỉ vì bị bắt. Cho nên hắn cũng có lối giải thích
riêng: lần sau hắn sẽ ma mãnh hơn, quỷ quyệt hơn. Lần này hắn bị bắt vì không cẩn
thận, chẳng phải vì hắn sai. Lần này xã hội đã khôn hơn hắn, nhưng lần sau hắn
sẽ láo cá hơn, quỷ quyệt hơn, thông minh hơn, và hắn sẽ không bị bắt. Một tù
nhân, một tội phạm luôn luôn nghĩ rằng hắn bị phạt, không phải vì tội đã phạm,
mà vì hắn đã bị bắt. Cho nên hắn chỉ học được một điều là đừng để bị bắt nữa.
Cho nên một tù
nhân được phóng thích trở nên nguy hiểm hơn, bởi vì trong tù hắn gặp được những
tay tổ, hắn học được kinh nghiệm của những lão làng, của những tay thiện nghệ.
Hắn học bằng cách sống với họ, gần gũi họ, trở thành đệ tử của họ. Qua những
kinh nghiệm ấy hắn trở nên thành thục hơn. Chẳng mấy người nhờ hình phạt mà khá
hơn, nhưng xã hội luôn luôn nghĩ rằng hình phạt cần phải có để răn đe tội phạm.
Cả hai đều sai cả. Xã hội sai vì muốn báo thù. Tội phạm cũng sai vì cái tôi của
nó xung đột với cái tôi của xã hội; nó nghĩ nếu có cơ hội thì nó sẽ trả thù.
Nhưng Thượng Đế
cũng cá mè một lứa sao? Ngài cũng chẳng khác một chánh án, một người cha, hay một
ông chủ sao? Ngài cũng tàn bạo như xã hội sao? Ngài cũng có cái tôi to tướng
như chúng ta sao? Ngài cũng báo thù nếu bạn không tuân lệnh sao? Thế thì Ngài
có khác gì người thường? Thế thì Ngài có gì là thiêng liêng chứ?
Đó là một trong
những vấn đề gai góc nhất: Thượng Đế sẽ xử sự với người lầm lạc như thế nào?
Ngài có lòng nhân không? Vì có những điều luôn luôn đi đôi với nhau. Nếu muốn
được tuyệt đối công bằng, Ngài không thể nhân từ, bởi vì công bằng và nhân từ
không đi đôi với nhau. Nhân từ nghĩa là tha thứ một cách vô điều kiện, nhưng
không thể công bằng. Thiếu nhân từ thì Thượng Đế không thể là Thượng Đế được. Một
vị thánh cầu nguyện liên tục cả đời, chẳng làm gì sai bao giờ, không hề xông
xáo ra ngoài, luôn luôn sống trong phạm vi nhỏ hẹp của mình, tự giam giữ chính
mình, cả đời cố gắng làm người nhân đức, không bao giờ chịu làm tôi cho xác thịt,
sống rất đạm bạc. Ngược lại là một người trụy lạc, nghĩ gì làm thế, cả đời chỉ
biết ham vui, không tội nào không phạm. Rồi cả hai về nước Chúa.
Điều gì xảy ra?
Nếu thánh nhân không được thưởng, và người có tội kia không bị phạt thì đó là bất
công. Nếu cả hai đều được thưởng thì cũng bất công, bởi vì vị thánh kia sẽ
nghĩ, “Ta là người có đức hạnh mà chẳng được phần thưởng đặc biệt gì cả. Nếu
người kia cũng được thưởng như vậy thì nhân đức để làm gì? Tất cả trở nên vô
ích.” Thế thì Thượng Đế có thể nhân từ, nhưng không công bằng.
Nếu Ngài công bằng
thì tất cả rõ ràng. Tội nhân phải bị phạt; thánh nhân phải được thưởng. Nhưng
thế thì thiếu nhân từ. Một người công bằng phải lạnh lùng, nếu không thì luật
pháp không thể thi hành; người ấy không thể để tình cảm xen vào. Luật pháp phải
vô tình, nếu không thì công lý không thể thi hành. Nhân từ không có chỗ đứng
trong đó, bởi vì nhân từ là một trở ngại cho công lý. Một người công bằng phải
hành xử như cái máy; ông ta chỉ biết có luật pháp, thưởng và phạt, và không cho
phép tình cảm xen vào quyết định của mình. Ông ta phải là một quan sát viên lạnh
lùng, như thể ông ta không có con tim. Nhưng vấn đề không đơn giản như thế, bởi
vì qua nhiều thế kỷ ta thường nói rằng Thượng Đế vừa công bằng, vừa nhân từ;
Ngài có tình thương, nhân từ nhưng công bằng.
Đó là một mâu
thuẫn, một nghịch lý. Giải quyết sao đây?
Chúa Giê-Su có
một giải đáp tuyệt vời. Hãy cùng tìm hiểu giải đáp của Ngài. Điều ấy rất phức tạp,
bởi vì nó đi ngược lại những quan niệm thông thường của chúng ta, ngược lại những
thiên kiến của chúng ta vì Chúa không tin vào hình phạt. Người như Chúa không
thể tin vào hình phạt vì đó chỉ là một hình thức báo thù. Phật, Chúa, Krishna
không thể tin hình phạt. Ngược lại, các Ngài có thể loại bỏ tính công bằng của
Thượng Đế. Nhưng nhân từ thì không thể loại bỏ được, bởi vì công bằng là lý tưởng
của con người, mà nhân từ là phẩm chất thiêng liêng. Công bằng có điều kiện:
“Làm cái này thì được thưởng.
Làm cái kia thì
bị phạt.” Nhân từ chẳng có điều kiện nào cả. Thượng Đế nhân từ. Mà muốn hiểu được
sự nhân từ của Ngài, ta phải đi từ một tội nhân. Chúa Giê-Su nói, “Nước Trời giống
như người chủ chiên có một trăm con. Con lớn nhất bị lạc. Ông ấy bèn bỏ lại
chín mươi chín con kia và đi tìm con bị lạc, cho đến khi tìm ra được mới thôi.
Khi tìm được rồi, ông ấy nói với nó, ‘Ta thương mày hơn chín mươi chin con
kia.’”
Vô lý, phi lý –
nhưng rất đúng. Nước Trời giống như người chủ chiên có một trăm con. Con lớn nhất
bị lạc. Ông ấy bèn bỏ lại chín mươi chín con kia và đi tìm con bị lạc. Bao giờ
cũng thế. Người “đi lạc” luôn luôn là người giỏi nhất (5). Nếu bạn là người cha
và có năm con thì đứa thông minh nhất bao giờ cũng cãi lại bạn, bởi vì nó muốn
khẳng định chính nó. Những đứa tầm thường nói sao làm vậy. Đứa sắc sảo sẽ chống
đối, bởi vì đó là đặc tính của nó. Thông minh đi kèm với nổi dậy; càng thông
minh thì càng nổi dậy. Và những người không nổi dậy, những người chỉ biết dạ với
vâng, là những người như thể đã chết rồi. Bạn có thể thích họ, nhưng họ thiếu hẳn
sinh khí. Họ theo bạn chẳng phải vì yêu bạn. Họ theo bạn chỉ vì họ yếu đuối, họ
sợ, vì không thể đứng một mình. Họ yếu đuối, họ bất lực.
Nếu nhìn quanh
bạn sẽ thấy những người tốt phần lớn là những người yếu đuối. Nhân đức của họ
không phải do sức mạnh mà có, mà từ sự yếu đuối mà ra. Họ là người tốt vì chẳng
dám tự ý làm gì cả. Nhưng tốt vì yếu đuối thì có giá trị gì? Nếu tính tốt do sức
mạnh tràn trề mà có thì mới thực sự tốt, bởi vì có sự sinh động trong đó, có sức
sống mãnh liệt trong đó.
Cho nên một khi
một tội phạm trở thành thánh nhân thì người ấy có một phong thái đặc biệt (6).
Nhưng khi một người thường trở thành thánh nhân vì yếu đuối thì phong thái của
người ấy rất tầm thường, nhợt nhạt, chẳng có sinh khí gì cả. Bạn cũng có thể trở
thành thánh nhân vì nhu nhược, nhưng sẽ phí cả đời. Chỉ khi nào bạn trở thành
thánh nhân qua sức mạnh thì mới xứng đáng. Một người tốt vì không dám tự ý làm
gì khác không nhất thiết là tốt. Khi có quyền lực trong tay người ấy sẽ làm bậy;
nó sẽ làm hư ông ta ngay lập tức.
Điều này đã xảy
ra ở Ấn Độ, cho những người theo thánh Gandhi. Sức mạnh của họ do sự yếu đuối
mà ra. Là những người tốt nhưng chưa có uy quyền trong tay bao giờ, nên khi trở
thành những người lãnh đạo quốc gia, họ trở nên đồi bại ngay tức thì. Quyền lực
có thể làm hư hỏng một người có sức mạnh thực sự không? Không bao giờ. Bởi vì
ông ta đã mạnh mẽ rồi. Nếu quyền lực có thể làm thối nát ông ta thì nó đã làm rồi.
Chỉ khi bạn yếu đuối, và lòng tốt của bạn dọ nhu nhược mà ra thì quyền lực mới
có thể làm hư hỏng bạn được. Lord Acton (7) nói, “Quyền lực làm hư con người,
và làm hư một cách tuyệt đối.” Nhưng tôi muốn điều kiện hóa nó. Câu nói ấy
không có điều kiện, không dứt khoát và không rõ ràng. Quyền lực làm hư người chỉ
khi tính tốt do sự yếu đuối mà ra. Nếu tính tốt do sức mạnh mà có thì không sức
mạnh nào làm hư người được. Quyền lực không thể làm bạn hư, nếu bạn đã biết mùi
của nó là gì và đã nếm rồi. Nhưng khó mà biết được nhân đức của bạn do đâu mà
có. Nếu không ăn cắp vì sợ bị bắt thì bạn sẽ làm ngay, nếu bạn biết chắc sẽ
không bị bắt. Bạn không ăn cắp vì sợ; bạn không giết kẻ thù vì bạn biết rõ sẽ bị
bắt. Nhưng nếu có những tình huống mà bạn biết rõ là bạn sẽ không bị bắt, không
bị trừng phạt, thì bạn sẽ giết hắn ngay lập tức. Cho nên chỉ vì chết nhát mà bạn
là người tốt.
Nhưng sao tính
tốt có thể vì nhu nhược mà có được? Tính tốt cần phải có một năng lượng dồi
dào. Tính tốt là một xa xỉ phẩm, nhân đức là một xa xỉ phẩm – nó có vì sự sung
mãn. Khi bạn có quá nhiều năng lượng, khi bạn tràn ngập yêu thương, thì bạn
chia sẻ. Bạn sẽ không lợi dụng vì không cần thiết. Bạn sẽ ban phát do con tim
vì bạn có quá nhiều, đến đỗi nó trở thành một gánh nặng cho bạn. Bạn muốn chia
sẻ và muốn trút cái gánh nặng ấy, bạn muốn cho tất cả như một quà tặng.
Khi bạn có gì
thì bạn muốn cho đi, và bạn bám vào cái mà bạn không thực sự có. Đó là một quy
luật. Chỉ khi bạn là sở hữu chủ, bạn mới cho một cách vui vẻ. Nếu bạn bám lấy
nó thì trong thâm tâm bạn sợ vì bạn không phải là chủ nhân của nó. Bạn biết rõ
là nó không thuộc về bạn, là chẳng chóng thì chầy bạn sẽ mất nó. Đó là lý do tại
sao bạn không muốn cho. Cho nên chỉ khi một người dâng hiến tình yêu của mình
thì đó là bằng chứng là người ấy có tình yêu. Chỉ khi một người hiến cả đời
mình mới là người sống động.
Chẳng có cách
nào khác để biết cả. Vì nhu nhược mà tốt thì cũng nhiều. Nó chỉ là cái vẻ bề
ngoài, chẳng khác gì tiền giả, hay hoa giả vậy. Cây có hoa chỉ vì nó có quá nhiều
năng lượng. Hoa chỉ là những xa xỉ phẩm. Cây chỉ ra hoa khi có quá nhiều chất bổ.
Nếu nước không đủ, nếu phân bón dư hay thiếu, nếu đất không màu mỡ, cây có thể
sống nhưng không thể sinh hoa, kết trái. Cái quý nhất chỉ xuất hiện khi có đủ
năng lượng để nó phát triển. Nếu không có đủ ăn, sự thông minh của bạn sẽ biến
mất, bởi vì đó là sự nở hoa của bạn. Một xứ nghèo không phải nghèo trong thể
xác, mà nghèo về chất xám, bởi vì thông minh không thể có giữa nghèo đói. Chỉ
khi những đòi hỏi của cơ thể được thoả mãn thì năng lượng còn dư mới được dùng
cho cái cao hơn; khi bụng đói thì năng lượng sẽ dồn cho cơ thể trước, bởi vì cơ
sở phải được bảo vệ trước, gốc phải được an toàn trước đã. Gốc không chắc thì
chẳng có hoa. Nếu ăn không đủ thì đòi hỏi thông minh làm gì? Từ bi, bác ái còn
cao hơn nữa.
Phật Thích Ca
và Mahavira xuất hiện khi Ấn Độ còn trù phú. Kể từ đó đã có nhiều cái gọi- là
thánh nhân, nhưng chẳng có Phật Thích Ca nữa. Bởi vì sự nở hoa đó chỉ có thể có
khi có nhiều năng lượng dư thừa, năng lượng không cần thiết. Năng lượng thừa
thãi ấy sẽ khởi động chính nó. Và khi năng lượng tự khởi động, nó sẽ quay vào
trong và trở thành thiền định. Một vị Phật được sinh ra từ đó; chân lý được hé
mở từ đó.
Nếu thiếu nước
thì hoa sẽ héo trước tiên, sau đó đến lá, rồi cành; rễ thì chết sau cùng, bởi
vì nếu rễ còn thì cây có thể sống lại được. Cho nên cây phải bảo vệ gốc của nó
bằng mọi giá. Gốc thấp nhất, nhưng cái thấp nhất phải được bảo vệ vì đó là nền tảng.
Khi mưa thuận gió hoà thì chồi sẽ mọc lại, lá sẽ xanh và hoa sẽ thắm lại. Trật
tự ấy cũng áp dụng cho bạn.
Cho nên nhân đức
phải vì năng lượng của bạn mà có, không nên vì yếu đuối. Mà tôi không nói bạn
phải bất lương. Ác độc cũng cần năng lượng như lòng tốt vậy. Bạn không thể tồi
tệ mà không có năng lực, cũng không thể tốt mà thiếu năng lực – bởi vì cả hai đều
có thực. Bạn có thể làm gì mà thiếu năng lượng không? Có thể bạn chỉ có cái mặt
giả dối, chỉ có cái mã bên ngoài; bạn chỉ biết lừa đảo, ma quái. Những gì bạn
làm thì ma cũng chê, quỷ cũng hờn. Bạn sẽ tốt một cách giả dối, kịch cỡm. Bạn
nghĩ bạn là người thánh thiện vì bạn không làm gì xấu cả, chẳng phải vì bạn đã
hội nhập được với thánh linh.
Khi bạn đã hội
nhập được với thánh linh thì đó là một thành tích lớn lao. Bạn trở nên như thần
thánh mà không cần phải cố gắng, bởi vì nó xảy ra một cách tự nhiên. Nếu bạn chống
lại ý tưởng xấu thì đó là cách tiêu cực. Nếu bạn chống lại thì có sự thèm muốn,
và nếu ước muốn của bạn xấu thì bạn đã phạm tội rồi (8). Đó là sự khác biệt giữa
tội của tôn giáo và của pháp luật.
Pháp luật căn cứ
vào hành động. Bạn có thể nghĩ về đủ mọi tội ác, nhưng không tòa nào xử bạn được,
vì tòa chỉ có thẩm quyền trên thể xác của bạn; nó bó tay với những ý tưởng của
bạn. Tôi có thể nghĩ, có thể nói rằng tôi sẽ giết mọi người, nhưng chẳng hề
liên lụy với pháp luật vì tôi chưa thực hiện điều đó. Tòa án chỉ phán quyết
hành động mà không xét về ý tưởng.
Tôn giáo không
phân biệt hành động và ý tưởng của bạn; mầm mống của nó đã có rồi; nó đã xảy ra
hay không không phải là vấn đề. Nếu nó trở thành hành động, pháp luật sẽ can
thiệp. Nhưng nếu có ý nghĩ thì bạn đã phạm tội trong tư tưởng; đối với tòa án
lương tâm, bạn đã phạm tội, bạn đã sa ngã. Nhưng nói rằng những con chiên lạc
có nhiều ý chí hơn những người không hề sa ngã thì khó mà nghe lọt tai. Những
người “lạc đường” luôn luôn là những người ưu tú nhất. Bạn sẽ thấy những người
thông minh nhất trong nhà thương điên. Trong hơn bảy chục năm cuối của thế kỷ
hai mươi, phần lớn người điên là người thông minh nhất, không phải những người
tầm thường. Nietzsche (9) là một trong những người cực kỳ thông minh nhất của
nhân loại đã bị điên. Ông ta có quá nhiều năng lượng, nhiều đến đỗi không thể
kiềm chế được và đã thành thác lũ; cuối cùng ông ta đã điên. Nietzsche đã điên.
Nijinsky (10) đã điên. Nhìn qua bảy chục năm đó bạn sẽ thấy những thiên tài, những
người thông minh nhất đã điên (11), còn những người tầm thường thì vẫn vậy.
Điều này có vẻ
vô lý: tầm thường thì vẫn vậy, mà thiên tài thì điên. Tại sao người tầm thường
không thay đổi? Vì họ không có sức, không có can đảm để xông xáo. Một đứa trẻ
trở nên hư khi năng lượng của nó tràn trề; nó không thể ngồi yên được. Những đứa
nhát gan thì quanh quẩn trong xó nhà; nếu bảo nó đọc kinh thì nó sẽ ngoan ngoãn
nghe theo; nếu bảo nó lần hạt thì nó sẽ làm theo ngay. Nhưng gặp đứa ngang ngược
thì nó sẽ nói, “Tôi không đọc kinh đâu! Tôi phải đi chơi, hoặc làm gì khác!” Cuộc
sống là sinh lực. Chỉ một tâm trí nhu nhược, thiếu sức sống mới không đi lạc, bởi
vì trước hết phải có sinh lực đã; thiếu can đảm thì sao dám nhảy rào, dám vượt
qua hố thẳm được? Nhưng người đi lạc, nếu tìm ra lối đi riêng, sẽ trở thành Phật,
thành tiên thánh.
Nếu Nietzsche
biết tìm đường tu thì đã thành Phật rồi. Ông ta có trí thông minh và năng lực để
điên, thì cũng sinh lực ấy sẽ giúp ông ta đạt đạo; cũng năng lực ấy, nhưng khác
chiều. Người có tiềm năng đạt đạo sẽ bị điên nếu ông ta không trở thành tiên
thánh. Bởi vì năng lực sẽ biến đi đâu? Nếu năng lực không được dùng cho sự sáng
tạo, nó sẽ trở thành hủy diệt. Bạn sẽ thấy những người thông minh nhất trong
nhà thương điên vì họ không tầm thường; họ điên vì họ có thể thấy xa hơn bạn,
thấy sâu hơn bạn. Và khi họ thấy sâu hơn bạn, ảo tưởng biến mất.
Toàn bộ cuộc sống
sẽ trở nên mơ hồ vì, nếu bạn có thể hiểu thấu đáo hơn thì khó mà không có thay
đổi. Bạn không thay đổi vì bạn không thấy rõ; bạn chỉ thấy được hai phần trăm của
đời sống, còn chín mươi tám phần thì các nhà tâm lý nói đã bị che lại (12), bởi
vì nếu thấy được bạn sẽ không chịu đựng được; bạn sẽ phát điên, sẽ nổi khùng.
Một số nhà tâm
lý đã khảo cứu sâu rộng về điên, chẳng hạn R. D. Laing (13) và nhiều người
khác, đã khám phá nhiều điều quan trọng. Một trong những điều ấy là người điên
đều là những người thông minh nhất, và những tội phạm đều là những người bướng
bỉnh nhất. Họ có thể trở thành thánh nhân (14), mà nếu Valmiki trở thành thánh
nhân thì cũng không có gì lạ. Valmiki là một tướng cướp khét tiếng, chuyên nghề
giết người, cướp của.
Rồi ông ta đạt
đạo một cách bất thình lình. Một hôm tên lục lâm đại đạo ấy gặp một thánh nhân
trên đường của hắn. Ngài hỏi hắn, “Ông sẽ làm gì đây?”
Valmiki nói,
“Tao sẽ lột tất cả những gì mà mày có!”
Ngài nói với hắn,
“Nếu ông có thể làm được thì tôi sẽ khen ông là tài, bởi vì bảo vật tôi có thì nằm
tận bên trong. Nếu ông lấy được thì cứ tự tiện.”
Valmiki không
hiểu nhưng nói, “Tôi chỉ lấy những cái bên ngoài thôi.”
Ngài nói, “Vậy
thì chúng chẳng có giá trị gì nhiều. Mà tại sao ông lại làm thế?”
Valmiki nói,
“Vì tôi có mẹ già, có vợ, và một đàn con phải nuôi. Nếu tôi không làm thế thì họ
sẽ chết đói hết. Tôi chỉ biết ăn cướp mà thôi.”
Ngài nói với hắn,
“Hãy trói tôi vào gốc cây kia đi để tôi không trốn được. Sau đó ông về hỏi mẹ,
và vợ con xem khi bị đày xuống địa ngục thì họ có chịu tội chung với ông
không?”
Lần đầu tiên
trong đời Valmiki suy nghĩ rồi nói, “Chắc ông nói đúng đấy. Để tôi hỏi họ xem
sao.”
Valmiki hỏi vợ
thì bà ấy nói, “Sao tôi phải chịu chung với anh chứ? Tôi có làm gì đâu. Tội ai
người ấy chịu chứ!”
Mẹ của Valmiki
cũng nói, “Sao tao phải chịu tội chung với mày? Tao là mẹ mày nên mày có bổn phận phải nuôi tao.”
Valmiki tỉnh ngộ.
Chẳng ai chịu tội chung với hắn cả. Hắn trở lại tìm vị thánh ấy, quỳ xuống dưới
chân ngài và nói, “Xin hãy cho con cái bên trong. Con không quan tâm đến cái
bên ngoài nữa. Con muốn tìm cái bên trong ấy vì nay con đã hiểu là chính con phải
chịu trách nhiệm cho những hành động của mình, không ai có thể thay thế được.
Con đã sinh ra một mình thì cũng chết một mình, và không một ai có thể gánh
trách nhiệm cho con được. Cho nên con muốn tìm vào bên trong (15) để biết con
là ai. Con đã chán ngấy tất cả rồi.” Valmiki cải tà quy chánh ngay lúc đó (16).
Một chuyện
tương tự cũng đã xảy ra trong đời Đức Phật. Có một tên nữa điên nửa khùng. Y thề
sẽ giết đủ một ngàn người mới thôi vì hắn quá hận đời. Y muốn trả thù bằng cách
giết đủ một ngàn người. Và cứ giết một người thì hắn chặt một ngón tay treo
trên cái vòng đeo cổ. Đủ một ngàn ngón mới thôi. Vì thế Y được tặng cái biệt
danh là Angulimala (Thiên Chỉ Vương) – nghĩa là người có xâu chuỗi bằng tay người.
Y đã giết được chín trăm chín mươi chín người rồi. Còn một người nữa y phải giết
bằng mọi giá. Cho nên khi thấy bóng của y, mọi người bỏ chạy hết.
Đức Phật một
hôm đi ngang qua khu rừng ấy. Dân làng đều nói với Ngài, “Xin đừng đi! Tên
Angulimala hiện đang ở đó. Nó chẳng biết phải trái là gì. Nó cũng bất kể Ngài
là ai. Nếu Ngài muốn qua đường thì xin đi lối khác!”
Đức Phật nói,
“Nếu ta không vào hang cọp, ai sẽ vào? Mà hắn chỉ cần một ngón nữa thôi nên ta
phải đến.”
Ước nguyện của
Angulimala sắp thành tựu. Hắn là người có nhiều nghị lực; một mình dám chống lại
cả xã hội; hắn đã giết cả ngàn người rồi. Quân binh cũng phải e dè. Chính quyền
cũng bó tay. Nhưng Phật nói, “Hắn cần sự giúp đỡ của tôi nên tôi phải liều một
phen vậy. Hoặc là hắn sẽ giết tôi, hoặc là tôi sẽ độ cho hắn.” Đó là việc mà
các thánh nhân vẫn thường làm (17). Phật đến gặp hắn. Ngay cả các đệ tử thân cận
nhất của Ngài cũng lùi lại đàng sau. Cho nên Đức Phật một thân một mình đến gặp
Angulimala lúc hắn đang ngồi trên một tảng đá. Y nhìn con người hồn nhiên ấy mà
cảm thấy tội nghiệp thay.
Y tự nghĩ, “Người
này hẳn không biết ta là ai nên mới đến đây nạp mạng như thế. Nhưng ông ta là
người rất đáng thương. Ta không nỡ giết ông ta. Vậy ta sẽ tha cho ông ấy và chờ
người khác vậy.”
Y nói với Đức
Phật, “Dừng lại! Đừng bước thêm một bước nữa. Hãy quay lại và trở về. Ta là
Thiên Chỉ Vương đây. Xâu chuỗi của ta đã có chín trăm chín mươi chín rồi. Ta cần
một ngón nữa là đủ. Thậm chí nếu mẹ ruột ta đến đây, ta cũng giết bà ấy để hoàn
thành lời hứa của ta. Đừng đến gần đây. Ta cảnh cáo ngươi đó. Ta chẳng tin thần
thánh. Ta bất kể ông là ai. Ông có thể là một tu sĩ, một thánh nhân, nhưng ta
chẳng cần biết. Ta chỉ cần một ngón tay nữa thôi. Của ông hay của ai cũng được.
Vậy đừng đến gần nữa, không thì chớ trách ta.” Đức Phật vẫn tiến tới.
Angulimala nghĩ
bụng, “Chắc là tên này điếc hay là điên rồi!” Y hét lên, “Đứng lại! Đừng đến gần
ta!”
Đức Phật nói,
“Ta đã dừng lại từ lâu rồi. Thiên Chỉ Vương, ông mới là người còn vọng động. Ta
đã ngưng rồi vì chẳng còn gì thúc đẩy ta nữa. Ta đã dừng lại rồi vì chẳng còn
tham vọng gì nữa. Ta chẳng có chủ đích nào nữa. Ông mới là người còn nhiều vọng
động đấy. Cho nên ta nói với ông: hãy đứng lại!”
Angulimala cười
ngất. Y nói, “Ông thật là điên rồi! Tôi đang ngồi đây mà ông bảo tôi đứng lại!
Ông đang đi mà lại nói đã dừng lại rồi. Hoặc là ông điên, hoặc là khùng. Ông
thuộc loại nào vậy?”
Đức Phật đến gần
và nói, “Nghe nói ông cần một ngón tay nữa. Cái thân già của lão đây cũng vô dụng.
Khi ta chết đi thì nó sẽ bị đốt đi, chẳng giúp gì cho ai cả. Vậy ông cứ giết ta
đi rồi lấy ngón tay của ta mà hoàn thành lời hứa. Đây là cơ hội cuối cùng để
cho thân xác của ta có thể được dùng cho một lợi ích nào đó, trước khi nó hóa
ra tro bụi.”
Angulimala nói,
“Ông nói sao? Ta cứ tưởng ta là người điên duy nhất ở đây. Đừng có đóng kịch với
ta, vì ta vẫn có thể giết ông đấy!”
Đức Phật nói,
“Ta có một ước nguyện trước khi chết. Xin ông hãy cắt cành cây kia cho ta.”
Angulimala vung đao lên. Một cành cây to đổ xuống. Đức Phật nói tiếp, “Xin hãy
gắn nó lại!”
Angulimala nói,
“Điên thật rồi mà! Ta có thể chém đứt nhưng không thể gắn lại được.” Đức Phật
cười sặc sụa và nói, “Vậy là ông chỉ biết phá hoại mà không biết xây dựng. Phá
hoại thì con nít cũng làm được, có gì mà anh hùng chứ? Cành cây này con nít
cũng cắt được, nhưng chỉ có thánh mới gắn lại được. Mà nếu cành cây mà ông
không gắn lại được, sao ông dám cắt cổ người ta? Ông đã nghĩ về việc đó chưa?”
Angulimala nhắm
mắt lại. Y quỳ xuống chân Đức Phật và nói, “Xin hãy nhận con làm đệ tử!” Và
truyền thuyết nói rằng ngay lúc đó Angulimala đã chứng nghiệm được chân lý. Hôm
sau Angulimala theo Đức Phật vào thành khất thực. Nhà nhà đều khóa chặt cửa. Mọi
người nói, “Mặc dù y đã là đệ tử của Phật, nhưng ai mà biết được. Nó rất nguy
hiểm.” Dân chúng vẫn còn sợ. Chẳng ai dám ra đường. Khi Angulimala gõ cữa,
không ai dám mở cửa vì tất cả đều sợ. Nhiều người đứng trên lầu nhìn xuống. Có
người lấy đá mà liệng vì nhiều gia đình đã có người bị hắn giết chết.
Angulimala ngã
qụy xuống đường, máu me đầy mình, thương tích chỗ nào cũng có. Đức Phật và các
đệ tử khác hỏi, “Angulimala, Ông có sao không?”
Angulimala mở mắt
ra và nói, “Con cám ơn Thầy. Họ có thể giết con, nhưng không thể chạm đến con
được. Con đã giết nhiều người, nhưng nay mới nhận ra điều đó.”
Đức Phật nói,
“Angulimala đã đắc đạo; ông ấy là một Bà La Môn, người biết rõ về Brahma.”(18)
Nó có thể xảy
ra trong một nháy mắt, nếu có đủ năng lực, nếu không thì khó khăn lắm. Mục đích
duy nhất của yoga là tạo ra năng lượng, càng nhiều càng tốt. Những phương pháp
của Mật Tông là khơi lại những năng lượng bên trong của bạn, làm cho bạn tràn
ngập năng lượng. Nhưng đó là con dao hai lưỡi.
Chúa Giê-Su
nói, “Con lớn nhất bị lạc.”
Chỉ những con lớn
nhất, tốt nhất mới đi lạc. Những kẻ có tội rất đáng thương, nhưng họ có thể trở
thành thánh nhân bất cứ lúc nào (19). Một số nhỏ hoặc là thánh nhân, hoặc tội lỗi.
Nhưng phần lớn ở giữa. Họ chẳng có gì đáng nói cả, bởi vì họ thiếu nghị lực,
thiếu năng lực. Những người thiếu năng lượng là những người đã chết rồi; họ là
những thây ma đang chờ trước mộ phần của mình.
Tại sao những
người tốt nhất, vĩ đại nhất lại đi lạc? Có một bí mật cần phải biết: tiến trình
tăng trưởng là trước hết bạn phải có cái tôi. Nếu cái tôi của bạn không được kết
tinh, bạn không thể quy phục được. Có vẻ mâu thuẫn, nhưng lý và sự phải thế.
Trước hết, cái tôi của bạn phải được kết tinh, sau đó bạn phải vất bỏ nó. Nếu
cái tôi không được kết tinh, bạn không thể quy phục được. Bạn không có gì cả, lấy
gì mà loại bỏ, mà quy phục?
Người giầu có
có thể từ bỏ của cải, nhưng tên ăn mày lấy gì mà từ bỏ? Một học giả có thể vất
bỏ trí năng của mình, nhưng người đần độn lấy gì mà bỏ? Hắn không thể bỏ đi những
gì hắn không có. Là người hiểu biết, bạn có thể trở nên khiêm tốn, nhưng nếu bạn
là người đần độn thì nhún nhường với ai?
Socrates có thể
nói, “Tôi không biết gì cả.” Đó là phần hai; ông ấy biết quá nhiều, và nhận thức
được rằng mọi tri thức đều là vô ích (20). Nhưng người tầm thường không thể nói
thế được. Trí năng cần phải được huấn luyện; tri thức cần phải có; cái tôi cần
phải được kết tinh. Đó là phần đầu của cuộc sống. Khi có dư tiền, bạn mới có thể
từ bỏ được. Khác nhau là chỗ đó.
Một tên ăn mày
và Đức Phật cùng khất thực như nhau, nhưng phẩm chất đôi bên khác hẳn. Đức Phật
ăn xin do sự lựa chọn của Ngài. Chẳng ai bắt buộc Ngài cả; Ngài tự chọn như thế.
Ngài xin ăn vì từ trên đỉnh cao của danh vọng, Ngài đã thấy cái vô vị của nó;
Ngài đã sống qua mọi đam mê và thấy được cái vô dụng của chúng, vì Ngài đã nhận
ra rằng vương quốc của trần gian này chẳng đem lại bình an cho tâm hồn. Cho nên
sự khất thực của Đức Phật có một hào quang của nó, mà không một ông hoàng nào
có thể so sánh được, bởi vì họ mới đi được nửa vòng, còn Đức Phật thì đã hoàn tất.
Một tên ăn mày
cũng xin ăn ở xó chợ vì chẳng biết gì khác cả; y chưa hề biết nhung lụa là gì.
Sao y có thể không ham muốn cho được? Sao y có thể nói lầu cao gác tía là thừa
thãi được? Sao y có thể nói đàn bà đẹp là vô ích được? Chỉ có qua kinh nghiệm bạn
mới biết được bản lãnh của mình. Thiếu kinh nghiệm thì bạn chỉ tự an ủi mình,
như mọi người nghèo vốn thường làm.
Nếu không có vợ
đẹp mà bạn cứ lải nhải, “Có gì đâu? Xác thịt là xác thịt; đó chỉ là chỗ thần chết
nằm chờ.” Nhưng thật sâu bên trong là chỗ núp của ham muốn, mà ham muốn chỉ có
thể hết khi bạn đã từng trải, kinh nghiệm. Cho nên bạn chỉ tự an ủi chính mình.
Người nghèo có thể tự an ủi mình rằng cung điện chẳng là gì cả, nhưng anh ta biết
rõ lắm, không thì sao ai cũng đâm đầu vào đó vậy? Anh ta bị ám ảnh và nổi điên
vì nó: đêm đêm anh ta mơ thành ông vua, nhưng mở mắt ra thì thấy mình là tên ăn
mày. Cho nên anh ta mới lẩm bẩm, “Tôi không cần, tôi chẳng quan tâm, tôi đã từ
bỏ tất cả rồi!” Tự an ủi thế cũng chẳng giúp được gì; nó rất nguy hiểm, rất giả
dối. Phần đầu của một người trưởng thành một cách đúng đắn là kết tinh cái tôi
của mình. Và phần còn lại là loại bỏ nó.
Một đứa trẻ chỉ
trưởng thành được khi nó cưỡng lại cha mẹ nó, khi nó chống đối lại cha mẹ nó
(21), khi nó thoát khỏi ảnh hưởng của họ (22), khi nó có cái tôi mạnh mẽ. Nếu cứ
bám vào cha mẹ nó, nếu cứ theo đuôi họ, nó sẽ chẳng làm nên tích sự gì cả (23).
Nó sẽ bị lạc, bởi vì nó chỉ học được qua kinh nghiệm. Nó phải tự lập. Nó phải
trả giá bằng nước mắt của nó. Nó phải tranh đấu, vì qua đó nó mới biết được khả
năng của nó. Đó là một vòng tròn: bạn biết khả năng của mình, bạn sẽ cố gắng
hơn, bạn cố gắng hơn nữa, bạn tự tin hơn nữa, bạn biết rõ mình hơn. Đứa trẻ trưởng
thành thực sự khi nó hoàn toàn độc lập. Vì sự độc lập này, nó phải đi lạc (24).
Kẻ có tội muốn
độc lập với xã hội, với cha mẹ, nhưng hắn đi lộn đường. Thánh nhân cũng tìm sự
độc lập, nhưng đi đúng đường. Chánh, tà là hai đường khác nhau, nhưng đường tà
thênh thang hơn. Trở thành thánh nhân thì khó hơn, vì bạn phải là kẻ có tội trước
đã. Để tôi giải thích. Kẻ có tội không cần phải là thánh nhân trước, nhưng muốn
là thánh nhân bạn phải nếm mùi tội lỗi trước. Nếu không thì sự thánh thiện của
bạn rất nghèo nàn, nhạt nhẽo, buồn chán, thiếu sự sống, như thể con kinh đã cạn,
không phải con sông mùa lũ.
Con lớn nhất đi
lạc. Con lớn nhất nghĩa là con tốt nhất. Bởi vì con chiên lớn nhất là con khỏe
nhất, to nhất, có nhiều lông nhất, to béo nhất, mắc tiền nhất, đắt giá nhất.
Càng to càng mắc, càng nhỏ càng rẻ. “Lớn nhất” nghĩa là tốt nhất. Con tốt nhất
đã đi lạc. Đó là biểu tượng.
Chủ chiên bỏ lại
chín mươi chín con – vì chúng chẳng giá trị gì cả. Tại sao Chúa Giê-Su chọn chủ
chiên và chiên? Biểu tượng mà Ngài dùng rất có ý nghĩa. Tâm trí của người trong
đám đông chẳng khác gì con chiên; họ sống trong đám đông. Hãy quan sát đàn
chiên: chẳng có con nào độc lập cả, chẳng có ý chí riêng tư nào cả, chẳng con
nào dám rời khỏi đàn. Chúng sống vì đám đông.
Tôi nghe kể: thầy
giáo hỏi đám trẻ, “Có mười con chiên. Một con nhảy rào. Còn lại mấy con?”
Một đứa nói,
“Không còn con nào!”
Thầy hỏi nó,
“Sao vậy? Đây là bài toán đố mà em lại nó gì thế? Mười con tất cả. Một con nhảy
rào. Còn lại mấy con?”
Nó trả lời, “Thầy
biết bài toán, nhưng em biết chiên. Không còn con nào. Vì một con nhảy rào thì
tất cả nhảy theo.”
Chủ chiên bỏ lại
chín mươi chín con kia và đi tìm con bị lạc.
Chúa nói Thượng
Đế sẽ đi tìm kẻ có tội, chẳng thiết gì đến kẻ tầm thường, bởi vì họ chẳng xứng
đáng gì. Hơn nữa, họ đã theo đường của đám đông rồi; họ không thể đi lạc, chẳng
cần phải tìm làm gì. Đó là lý do tại sao chủ chiên bỏ chín mươi chín con lại giữa
rừng, trong đêm tối, mà đi tìm con lạc đàn: bởi vì nó đã trở thành cá nhân, cái
tôi của nó đã kết tinh; chín mươi chín con kia vẫn chưa có cái tôi; chúng vẫn
là một với đám đông.
Hãy nhìn lại
chính mình: bạn là đám đông, hay bạn đã có cái tôi? Nếu đã có cái tôi, Thượng Đế
sẽ lên đường tìm bạn về vì bạn rất xứng đáng. Bạn đã đi hết nửa vòng tròn; nửa
còn lại là quy phục; nửa còn lại là hội nhập với Thượng Đế. Nửa đầu là trách
nhiệm của bạn; nửa còn lại là của thánh linh. Nếu bạn đã có cái tôi, thì ở nơi
nào đó, trong hình thức nào đó, Thượng Đế sẽ tìm bạn vì nhiệm vụ của bạn đã
xong; bạn đã trở thành tách biệt. Nếu bỏ được sự tách biệt ấy, bạn trở nên huyền
đồng cùng vạn vật (25).
Đó là sự khác
biệt: trước khi là một cá nhân, bạn chỉ là một đám đông, nên khi đạt được cá
nhân tính, bạn trở nên độc lập, bạn có cái tôi lớn, và khi đánh mất được cái
tôi ấy, bạn trở thành đại dương, bạn trở thành toàn thể. Hiện giờ bạn chưa thể
thành toàn thể. Bạn ở giữa một đám đông; bạn chỉ là một con số trong đám đông ấy,
như thể trong quân đội, bạn là một, hai, ba, bốn… bạn chẳng có tên tuổi vì bạn
không có gì cả; bạn chưa xứng đáng. Bạn chỉ là một con số, cho nên khi có người
chết, họ sẽ thông báo là con số đó đã ngã xuống. Bạn chỉ là con số, mà số thì
được thay thế dễ dàng. Khi số một gục ngã, nó sẽ được thay thế bởi người khác.
Trong quân đội chỉ có chiên, có cừu. Và nhà binh là một xã hội toàn hảo, như thể
đàn kiến vậy. Nếu muốn biết tâm trí đám đông, hãy nhìn vào quân đội: bạn sẽ được
huấn nhục thành thục, cho đến khi bạn mất hẳn tính độc lập mới thôi. Lệnh là lệnh,
không thể bàn cãi. Họ nói, “Quay phải!” bạn phải quay phải. Nó sẽ ăn sâu vào
tâm khảm của bạn.
Có một chuyện
thú vị về một ông tướng. Vợ ông rất khó chịu, vì mỗi khi ngủ ông ấy ngáy như
trâu. Mà không phải ngáy như người ta đâu. Ông tướng ngáy mà! Ông ấy ngáy như
thể rống lên vậy, cho nên bà ấy không thể nào ngủ được. Lạ một cái là khi
nghiêng qua bên phải thì ông ta hết ngáy. Bà ấy hỏi ý bác sĩ tâm lý. Ông ấy
nói, “Vậy thì dễ rồi!
Khi ông ấy ngáy
thì lăn ông ấy qua bên phải.”
Bà ấy nói,
“Không dễ thế đâu! Ông ấy nặng lắm, lại hay cộc nữa. Nếu tôi lay thì ông ấy sẽ
nổi giận. Cả đêm cứ vậy hoài.”
Bác sĩ tâm lý
nói, “Vậy thì hãy rỉ vào tai ông ấy, ‘Tay phải, quay!’ là ông ấy sẽ làm theo.”
Hiệu nghiệm như thần. Lệnh là lệnh – nó đã đi sâu vào tận vô thức.
Xã hội là một
đám đông. Bạn có thể bị biến thành một chiến binh rất dễ dàng. Đó là tại sao
Hitler đã biến Đức Quốc Xã thành một trại lính. Mao cũng đã làm vậy. Xã hội chỉ
sống bề ngoài nên bạn có thể thay đổi dễ dàng: chỉ cần một ít kỷ luật là cả nước
làm lính. Chẳng có cá nhân tính, vì nó không cho phép điều ấy; bạn không thể khẳng
định chính mình. Đó là đàn chiên, tâm trí chiên.
Bạn có suy tư của
riêng mình không? Hay bạn là một phần tử của xã hội nơi bạn được sinh ra? Bạn
là người Ấn, người Hồi, người Sikh (26), nhưng bạn có phải là người không?
Không thể nói bạn là một cá nhân vì cá nhân không có xã hội. Socrates là một cá
nhân. Chúa Giê-Su là một cá nhân. Nanak là một cá nhân. Bạn thì không! Bạn thuộc
về đám đông, nhưng một cá nhân không dựa vào ai cả; người ấy tự lập, tự cường.
Cho nên Chúa Giê-Su nói: Con lớn nhất đi lạc. Và khi con lớn nhất đi lạc, chủ
chiên bỏ lại chin mươi chín con kia để đi tìm đến khi thấy nó mới thôi.
Bạn cầu nguyện,
nhưng Thượng Đế chẳng đi tìm bạn, nên bạn cầu cũng vô ích. Trước hết, hãy trở
thành chính bạn; Ngài sẽ đi tìm bạn. Chẳng cần phải tìm Ngài – vì biết đâu mà
tìm? Bạn chẳng có địa chỉ, chẳng biết Ngài ở đâu. Bạn chỉ biết những sáo ngữ,
những lý thuyết vớ vẩn; chúng chẳng giúp được bạn.
Tôi nghe kể về
một tu sĩ đến nhiệm sở mới. Hôm ấy tài xế taxi đình công, mà ông phải đến đền
thờ vì chiều hôm ấy có bài giảng. Ông nhờ đứa trẻ dẫn ông đến. Khi đến nơi ông
cám ơn nó và nói, “Cám ơn con đã giúp ta nhé. Không những con đã chỉ đường cho
ta, mà còn đến đây với ta nữa. Nếu con muốn biết Thượng Đế ở đâu, chiều nay hãy
đến nghe ta giảng. Ta sẽ nói về con đường tìm về với Ngài.”
Thằng nhóc cười
và nói, “Ngài không biết đường đến đền thờ, sao lại biết đường về với Thượng Đế?
Con không đến đâu!”
Nhưng tôi nói với
bạn là dù bạn biết đường đến đền thờ chăng nữa cũng chẳng ích gì. Người nào
cũng biết đường đến đền thờ, nhưng cũng chẳng có gì khác cả, vì đền thờ không
phải là chỗ Ngài trú ngụ. Bạn không thể tìm được Ngài, vì bạn không biết về
Ngài. Nhưng Ngài có thể tìm bạn, vì Ngài biết bạn. Và đó là một trong những lời
dạy cơ bản nhất của Chúa: rằng con người không thể tìm đến thánh linh, nhưng
thánh linh có thể đến với con người. Và Ngài luôn luôn xuất hiện khi bạn đã sẵn
sàng (27).
Cho nên vấn đề
không phải là đi tìm Ngài, mà phải sẵn sàng và chờ đợi. Mà việc đầu tiên để sẵn
sàng là trở thành cá nhân, nghĩa là ‘đi lạc’. Đầu tiên là phải nổi dậy, vì chỉ
có thế bạn mới có cái tôi. Trước hết là phải bỏ rơi đám đông – đó là ý nghĩa của
‘đi lạc’ – nghĩa là vượt qua những giáo điều, những hình thức bề ngoài của xã hội.
Bởi vì bên ngoài đó là cái hoang vu, là sự huyền bí của Thượng Đế.
Xã hội chỉ làm
mất sự huyền bí ấy. Nó không có thực thể, mà do người tạo ra. Mọi định chế đều
do người bày vẽ ra; những gì bạn gọi là nhân đức, là tội lỗi, đều tùy thuộc mỗi
xã hội mà thay đổi. Cho nên bạn không biết rõ nhân đức là gì. Từ ‘nhân đức’
(virtue) có gốc La-Tinh, nghĩa là ‘mạnh mẽ’, là ‘đầy nam tính’; nó không có
nghĩa là ‘tốt’.
Hãy khẳng định
chính mình, đừng dựa vào ai cả. Đừng để bị đám đông đè bẹp. Hãy suy nghĩ, hãy sống
cho chính mình. Và hãy theo con đường riêng của mình (28) – đừng trở thành
chiên.
Chín mươi chín
con chiên có thể để lại trong rừng mà chẳng phải lo gì cả. Chúng chẳng dám đi lạc,
vì chúng quây quần với nhau, cho nên chúng có thể được tìm lại bất cứ lúc nào.
Chúng không phải là một mối ưu tư, nhưng con lớn nhất đi lạc mới là vấn đề. Khi
một con đã dám bỏ đàn thì nó phải có sức mạnh, nó chẳng sợ rừng sâu, chẳng ngại
ác thú, nó bất chấp tất cả. Vì gan dạ đầy mình nên nó mới dám bỏ đàn mà đi.
Dũng cảm là bước đầu để chuẩn bị.
Cái tôi là bước
đầu tiên để quy phục. Điều đó có vẻ mâu thuẫn hoàn toàn. Có thể bạn nghĩ là tôi
điên rồi, vì bạn nghĩ rằng khiêm tốn mới là cái cần thiết. Không! Tôi nói cái
tôi mới cần, không thì khiêm tốn chỉ là giả dối. Trước hết, phải có cái tôi mạnh
mẽ và sắc như nước. Nó đưa lại cho bạn một vẻ độc đáo, một sắc thái đặc biệt cần
thiết để bạn có thể vất bỏ nó sau này. Khi đó bạn sẽ khiêm tốn, và sự khiêm tốn
ấy có một đặc tính khác thường; nó không phải sự khiêm tốn của một người nghèo,
không phải khiêm tốn của một kẻ yếu. Đó là khiêm tốn của một kẻ mạnh, của một
người có uy quyền. Lúc đó bạn có thể nhượng bộ, không phải đầu hàng.
Ông ta bỏ lại
chín mươi chín con mà đi tìm con lạc, cho đến khi tìm ra được mới thôi. Và đừng
quên rằng bạn không cần phải đi tìm Thượng Đế; Ngài sẽ đến với bạn. Nếu bạn xứng
đáng, Ngài sẽ xuất hiện; Ngài sẽ tìm đến với bạn. Một ngày nào khi thử thách đó
kết tinh, mọi sinh lực thiêng liêng sẽ hội tụ vào người ấy. Có thể Ngài đến với
bạn trong thân xác của một thánh nhân (29), có thể một đạo sư – Ngài có thể đến
với bạn qua nhiều cách khác nhau (30). Và đó không phải là quan tâm của bạn. Đó
là chuyện của Ngài. Bạn chỉ cần có cái tôi, trở nên sẵn sàng, trở nên một cá
nhân, thì thánh linh sẽ đến với bạn.
Khi tìm được rồi,
ông ấy nói với nó, “Ta thương mày hơn chín mươi chín con kia.”
Chúa nói Thượng
Đế yêu người bướng bỉnh hơn. Các thầy tu sẽ nói, “Nhảm nhí! Chúa nào yêu kẻ lầm
lạc?” Họ không thể tin được điều ấy, nhưng xưa nay vẫn thế. Chúa Giê- Su là con
chiên đã đi lạc. Phật là con chiên đã đi lạc. Mahavira đã đi lạc. Đám đông luôn
luôn thoả mãn với cái bình thường của nó, trong khi Mahavira, Chúa, Phật được
Thượng Đế sủng ái.
Điều đó xảy ra
cho Phật lúc Ngài ngồi dưới gốc bồ đề; Ngài đã bỏ lại sau lưng mọi xiềng xích của
xã hội, văn hóa và tôn giáo, và hoàn toàn tự tại. Thế rồi chân lý hiện đến với
Ngài từ mọi hướng, từ mọi phía, và Phật đã trở thành một thánh nhân. Và Ngài là
người đã phủ nhận Thượng Đế, bởi vì Ngài đã là một con chiên ‘đi lạc’. Ngài từng
nói, “Chẳng có Thượng Đế. Ta chẳng tin Thượng Đế nào cả.” Ngài nói không có xã
hội, chẳng có tôn giáo. Ngài phủ nhận kinh Vệ Đà (31), Ngài tẩy chay hệ thống đẳng
cấp. Ngài bác bỏ toàn bộ cấu trúc của Ấn. Ngài nói, “Ta không theo đạo Ấn, và
Ta chẳng thuộc xã hội nào cả. Ta không tin một lý thuyết nào cả. Nếu không tự
chứng nghiệm chân lý, Ta sẽ không tin gì cả.”
Ngài chối bỏ tất
cả. Ngài trở nên cô độc tuyệt đối khi mọi liên hệ đều bị cắt đứt. Ngài trở nên
một hoang đảo, hoàn toàn trơ trọi. Dưới gốc bồ đề đó, cách đây hơn hai mươi lăm
thế kỷ, Thượng Đế đổ xô đến với Ngài, với con chiên này, từ mọi hướng, và nói:
“Ta thương mày hơn chín mươi chín con kia.” Thượng Đế cũng nói như vậy với Chúa
Giê-
Su. Xưa nay đều
vậy cả. Đó là luật cơ bản. Thượng Đế đến với con người, chẳng phải người đến với
Thượng Đế (32). Con người phải chờ đợi. Sẵn sàng bằng cách nào? Trở thành cá
nhân; chối bỏ tất cả. Mặc kệ xã hội, hãy dũng cảm, bể gẫy mọi xiềng xích, mọi
quan hệ. Hãy cô độc, và sống như thể bạn là cái rốn của vũ trụ. Thế thì Thượng
Đế sẽ nhảy sổ đến với bạn. Và trong sự đổ xô tới ấy, cái tôi của bạn biến mất,
hoang đảo sẽ chìm vào đại dương – bỗng nhiên bạn biến mất hoàn toàn (33).
Xã hội phải bỏ
lại trước đã. Đó là lối vận hành của nội tâm, bởi vì cái tôi của bạn do xã hội
mà có. Nếu bạn kiên trì loại bỏ xã hội, thì tới một lúc nào đó cái tôi sẽ trơ
trụi một mình, bởi vì xã hội đã biến mất. Mà không có xã hội, cái tôi cũng chẳng
tồn tại được, vì cái tôi do xã hội mà có. Nếu bạn khước từ xã hội, dần dần nền
móng sẽ xụp đổ. Khi không có ‘người’ thì ‘ta’ cũng chẳng tồn tại. Cuối cùng ý
tưởng ‘ta’ biến mất vì ‘người’ không còn nữa. Khi ‘người’ không còn nữa, ‘ta’
cũng mất theo. ‘Ta’ theo ‘người’ mà triệt tiêu. Khi ‘người’ bị loại bỏ trước,
‘ta’ trở nên sắc bén hơn, kết tinh, tập trung, mạnh mẽ.
Cường độ cực mạnh
ấy sẽ nghiền nát cái tôi – đó là sự đổ xô tới của thánh linh. Chúa Giê-Su bị
đóng đanh vì những câu này. Ngài bị tố cáo là đã đầu độc con người, đã khuyến
khích họ bỏ đạo. Ngài nói rằng Thượng Đế thích những người đi lạc – người tội lỗi,
phản động, ích kỷ. Người Do Thái không thể chịu được. Họ tìm mọi cách để bịt miệng
Ngài, “Tên này phải bị trừng trị; y đã đi quá xa rồi; y sẽ phá hủy xã hội!”
Ngài đã tạo ra những tình huống mà các tu sĩ không thể chấp nhận được; Do Thái
Giáo cảm thấy bị thách đố.
Ngài đã chống lại
đám đông. Và đám đông ấy bao vây bạn, nên nó lo sợ triền miên. Họ nghĩ, “Người
này là kẻ thù của xã hội, hắn sẽ phá hủy tất cả. Nếu không có đám đông, sao
chúng ta có thể sống được?” Ngài khuyến khích chín mươi chín con chiên kia đi lạc,
nên chúng còn kết bè mạnh hơn nữa. Rồi chúng sẽ báo thù; chúng sẽ giết Ngài.
Chúng ta sống trong đám đông, là một phần của đám đông. Chúng ta không thể sống
đơn độc vì chúng ta không biết sống cách nào khác. Chúng ta luôn luôn hiện hữu
với người khác, không thể thiếu người khác. Không có người khác thì bạn là ai?
Nét đặc thù của bạn sẽ mất. Vấn đề là ở chỗ đó: chín mươi chín con chiên tạo ra
mọi tôn giáo, mà tôn giáo thực sự chỉ xảy ra với con chiên đã đi lạc.
Hãy can đảm!
Hãy bỏ sự quang đãng của đám đông mà tìm nơi hoang dã. Đời sống chờ bạn ở đó, để
bạn tăng trưởng. Sẽ có đau đớn, bởi vì không có tăng trưởng nào không đau đớn.
Sẽ có thánh giá, có thể sẽ có đóng đanh, bởi vì không thể có tăng trưởng mà
không có nước mắt. Xã hội sẽ báo thù bằng thập tự giá – hãy nhận lấy. Nhất định
điều ấy sẽ xảy ra, bởi vì khi con chiên ấy trở về, chín mươi chín con kia sẽ
nói, “Nó là tội phạm. Nó đã đi lạc; nó không cùng loại với chúng ta; nó không
phải là người của chúng ta.” Và chín mươi chín con chiên kia không thể tưởng tượng
được rằng chủ chiên đã vác nó trên vai – bởi vì con chiên lạc này đã được tìm lại.
Chúa nói rằng
chủ chiên sẽ trở về nhà, và sẽ mời thân hữu đến ăn mừng vì con chiên đi lạc đã
được tìm lại. Chúa nói rằng mỗi khi kẻ tội lỗi trở về thì cả thiên đường sẽ vui
mừng, chỉ vì con chiên lớn nhất đi lạc và đã được tìm lại (34).
Chú Thích:
1. Chiên, dịch
từ sheep của Anh ngữ. Từ điển Việt Nam thường dịch sheep và lamb là cừu. Chiên
được dùng ở đây vì người Công Giáo Việt Nam gọi mình là con chiên; các vị lãnh
đạo giáo hội được gọi là chủ chiên; Chúa Giê-Su được gọi là Con Chiên Thiên
Chúa (Lamb of God).
2. Đoạn văn này
tương tự nhưng ý nghĩa hơi khác, so với thánh kinh cách thức. Xin xem Luca
15:3-6
3. Tâm Lý học
Miền Sâu (Depth Psychology), do Carl Jung sáng lập, là phương pháp tâm lý để
quan sát những kinh nghiệm ẩn tàng và thâm sâu trong tâm linh con người.
4. Socrates,
469-399 BC, ông tổ của triết học tây phương, bị xử tử bằng thuốc độc vì bị cáo
là đã đầu độc giới trẻ.
5. Đối với Do
Thái Giáo thì Chúa Giê-Su đã lạc đường. Với Ấn Độ Giáo thì Đức Phật là đứa con
hoang.
6. Thánh
Agut-Ti-Nô (Agustine), trước khi theo đạo, từng sống với một phụ nữ không hề cưới
và có một con trai. Câu nói để đời của Ngài là, “Lạy Chúa! Xin cho con đức tinh
khiết. Nhưng khoan đã!” Đóng góp quan trọng của Ngài cho giáo hội là sự phối hợp
tín lý Công Giáo với triết học Plato, và Ngài đã hàng phục tất cả tà giáo thời ấy,
đặc biệt là Machianism mà trước đó Ngài là một tín đồ.
7. Lord Acton
(1834-1902), thi sĩ kiêm sử gia nổi tiếng người Anh.
8. Chúa Giê-Su
nói, “Nếu ngươi nhìn vào người đàn bà mà có lòng ham muốn thì ngươi đã phạm tội
tà dâm rồi. (Mat-Thêu 5:28). Phật Giáo cho rằng hành động (thân), lời nói (khẩu)
và ý tưởng đều tạo ra nghiệp.
9. Freidrich
Nietzsche là triết gia quan trọng nhất của tây phương. Những triết gia trong
hai phái Hiện Đại (Modernism) và Hậu Hiện Đại (Post-Modernism) đều là đồ đệ của
ông. Ông ấy đã xét lại toàn bộ văn minh tây phương và cho rằng Hy Lạp đã phạm một
lỗi lầm nghiêm trọng là đã chọn con người tính toán của Appolo mà bỏ con người
bản năng của Dionysus.
10. Nijinsky là
vũ công nổi tiếng người Nga.
11. Dịch, hào
sáu, Quẻ Truân, viết, “Thừa mã ban như. Khấp huyết liên như.” Nghĩa là “đã lên
ngựa mà còn dùng dằng. Huyết lệ đôi dòng còn chảy mãi.” Đã lên ngựa là đã sẵn
sàng cho một hành trình lớn. Còn dùng dằng là chẳng biết đi về đâu. Đó là nỗi
truân chuyên của nhiều khách tài hoa: Nietzsche, Wittgenstein (có 3 anh em trai
tự tử), Wolf, Goethe, van Gogh, Hemingway...
12. Các nhà
khoa học nói rằng ta chỉ dùng khoảng năm phần trăm bộ óc của ta; ngay cả
Einstein cũng chỉ dùng khoảng mười lăm phần trăm.
13. R. D. Laing
(1927-1978), một nhà tâm lý nổi tiếng người Tô-Cách-Lan.
14. Thánh
Phao-Lô (Paul), trước khi bị Chúa quật ngã khỏi ngựa trên đường đến
Damacus, từng
đi lùng bắt và khủng bố những người theo đạo. Xin xem Tông Đồ Công Vụ (Acts of
Apostles).
15. Chúa Giê-Su
nói, “Nước Trời ở trong lòng các ngươi.” (Luca 17:21)
16. Mã Tổ quy
phục tên thợ săn San Ping cũng trong trường hợp tương tự như vậy.
17. Chúa Giê-Su
cũng nói, “Không có tình yêu nào cao quý hơn là sự hy sinh mạng sống cho bạn của
mình.” (Gio-An 15:13)
18. Brahma =
Thượng Đế của Ấn Giáo.
19. Mai-Đệ-Liên
(Magdalene) là một kỹ nữ bị bắt quả tang. Chiếu theo luật Mai-Sen, bà bị dân
chúng ném đá. Bất ngờ Chúa đi ngang, Ngài nói với họ, “Người nào chưa hề phạm tội,
xin hãy lấy đá ném bà ấy.” Họ bèn bỏ đi. Chúa nói với bà, “Họ không kết tội cô
sao?” Bà ấy nói, “Thưa Ngài, không!” Chúa nói, “Còn ta, ta cũng chẳng kết tội
cô.” (Gioan 8:3-11) Kể từ đó Magdalene đi theo Chúa đến hơi thở cuối cùng. Bà
là người đã theo Chúa lên đồi Golgotha để bị đóng đanh, và là người đầu tiên đã
được Chúa hiện ra sau khi sống lại từ cõi chết.
20. Hà Bá khi
thấy được sự mênh mông của biển cả bèn nói với thần Bắc Hải, “Kẻ biết ít, không
cho ai bằng mình. Câu nói ấy phải để tôi nói mới đúng.” Bắc Hải nói, “Ếch ngồi
đáy giếng không thể nói về biển cả; nó chỉ biết cái hang của nó thôi. Con trùng
mùa Hạ không thể nói về băng tuyết; nó chỉ biết cái mùa của nó thôi. Bọn tu sĩ
không thể nói về Đạo, vì họ bị trói buộc trong giáo lý của họ. Vạn vật lấy số
muôn mà nói thì ngươi chỉ được số một mà thôi. Đối với vạn vật, cái biết của
ngươi chỉ là một sợi lông trên mình ngựa.” (Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Thu Thủy).
21. Kinh Dịch,
Sơn Thủy Mông, hào hai, viết, “Bao mông, nạp phụ cát. Tử khắc gia.” nghĩa là,
“Bao dung những người còn non nớt, tối tăm, trẻ thơ và phụ nữ thì tốt. Đặc biệt
những đứa ngỗ nghịch, chống đối cha mẹ.” Cha mẹ tượng trưng cho thẩm quyền của
xã hội, tôn giáo và gia đình. Đứa ngỗ nghịch là người đi lạc; nó chẳng biết
trên đầu có ai; nó sẽ phủ nhận mọi giá trị, mọi thẩm quyền và vạch ra một con
đường mới cho chính nó. Đó là hình ảnh của một triết gia với chiếc búa trên tay
mà Nietzsche đã nói đến; anh ta phải đập phá để xây dựng. Đôi khi những đứa ngỗ
nghịch ấy bị thu phục bởi một thánh nhân có biện tài vô ngại. Và trong số ấy sẽ
có đứa phản thầy, đưa đến sự tổn thương cho thầy. Thí dụ Phật với Đề Bà Đạt Ma,
Chúa với Juda, Osho với Sheela. Cho nên Kinh Dịch, quẻ Khôn, hào sáu viết,
“Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng.” nghĩa là, “Rồng đánh nhau ở đồng nội,
máu đen, máu vàng lai láng.”
22. Chúa Giê-Su
nói, “Nếu kẻ nào không ghét cha mẹ mình, anh em mình, vợ con mình, và ngay cả mạng
sống của mình, kẻ ấy xứng đáng là đệ tử của ta.” (Luca 14:26)
23. Người Mỹ
khi con tới 18 tuổi thì bắt chúng tự lập là vì lý do ấy. (James Hall,
Philosophy of Religion, The Teaching Company, Virginia, 2003).
24. Kinh Dịch,
Quẻ Càn, hào ba, viết, “Quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược. Lệ. Vô cữu.”
Nghĩa là “quân tử ngày đêm hăng hái tự cường, đêm tối vẫn còn thận trọng như lo
sợ. Nguy hiểm nhưng không lỗi.” Đó là tiến trình phát triển của cái tôi. Người ấy
phải vất vả ngày đêm, phải tranh đấu mạnh mẽ, phải vào sinh ra tử nhiều phen.
Nguy hiểm là anh ta sẽ phải nếm đủ mùi cay đắng, và sẽ phải lăn lộn trong luân
hồi qua rất nhiều kiếp. Nhưng không có lỗi, vì khi thành đạo anh ta sẽ giúp được
nhiều người hơn, bởi vì đã từng trải, kinh nghiệm, lịch lãm, lại làu thông kinh
sử, và quán triệt mọi ý hệ và học thuyết. Đó là con đường của một vị bồ tát.
Cho nên không có lỗi. Ngược lại những người không có cái tôi mạnh cũng có thể
thành đạo được, nhưng không giúp được nhiều người. Phật gọi họ là A-La-Hán - chỉ
giúp được chính mình mà không giúp được người khác.
25. Huyền đồng
vật ngã là cùng đích của mọi tôn giáo.
1. Xem Tề Vật
Luận, Trang Tử, Nam Hoa Kinh
2. Chúa Giê-Su
nói, “Nếu các ngươi không nên như con trẻ thì không vào được nước
Trời” (Mark
10:15)
3. Phật gọi là
vô ngã (anatta).
4. Áo Nghĩa Thư
có chuyện ngàn lẻ một con bò. Một thanh niên tìm thầy học đạo. Thầy gửi anh ta
đi để học những bộ kinh Vệ Đà và những bộ kinh khác. Sau nhiều năm anh trở về,
thầy nói với anh ta. “Nay anh đã trở nên ngạo mạn về sự biết nhiều, hiểu rộng của
anh. Ta vô cùng bất mãn. Ta có mười con bò. Anh hãy dẫn chúng vào rừng sâu. Khi
chúng thành một ngàn con thì hãy trở về. Sau nhiều năm ròng rã, anh quên cả
ngày về, quên cả loài người , quên cả chính mình. Khi nghe đám bò nói với anh
là chúng đã đủ một ngàn con rồi, anh dẫn chúng trở về gặp thầy. Có người đếm được
đúng 1,000 con bò, họ la lên, “1,000 con bò!” Thầy anh nhìn anh và đàn bò, nói,
“1,001 con!”
26. Sikh là một
tôn giáo của Ấn Độ, do đại sư Nanak thành lập.
27. Người Ấn có
câu, “Khi đệ tử đã sẵn sàng, thầy sẽ tự xuất hiện. Và Thượng Đế là vị thầy tối
cao.”
28. Lời dạy cuối
cùng của Đức Phật trước khi nhập niết bàn là, “Hãy trở thành ánh sáng soi đường
cho chính mình. Hãy là hải đảo cho chính mình.”
29. Thánh
Phao-Lô nói, “Không phải tôi sống nữa, mà chính Chúa Ki-Tô đang sống trong tôi”
(Galatians 2:20)
30. Kinh Dịch
viết, “Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh”. Nghĩa là sự hội nhập với Thượng Đế của mỗi
người luôn luôn khác nhau (nguyên), hanh thông (hanh), lợi ích (lợi) và chính
đáng (trinh).
31. Vệ Đà
(Veda=kiến thức) là bốn bộ kinh của Ấn Độ Giáo, gồm có: Rig-Veda, Sama- Veda,
Yajur-Veda, và Atharva-Veda.
32. Đó là ý
nghĩa của dụ ngôn mười trinh nữ canh thức để chờ chú rể (Mat. 25:1-13)
33. Sự biến mất
này Phật gọi là vô ngã (anatta); Kabir gọi là ‘Đại dương đã biến trong giọt nước’;
Osho gọi là ‘Tự do khỏi cái ta.”
34. Luca 15:7
Xem tiếp Chương 7 – Quay về Mục lục