Osho
– Bồ Đề Đạt Ma: Thiền sư vĩ đại nhất
Chương
4: Chư phật không thực hành điều vô nghĩa
Osho kính yêu,
Nhưng giả sử tôi không thấy bản tính mình, chẳng
lẽ tôi vẫn không thể đạt tới chứng ngộ bằng việc cầu chư phật, tụng kinh, cúng
dường, gìn giữ giới luật, thực hiện cầu nguyện hay làm những việc tốt sao?
Không, ông
không thể chứng ngộ được. Và tại sao không?
Nếu ông đạt tới
bất kì cái gì tất cả đấy chỉ là điều kiện, đấy là nghiệp. Nó nảy sinh trong sự
trừng phạt. Nó làm quay Bánh xe. Và chừng nào ông còn là chủ thể cho sinh và tử,
ông sẽ không bao giờ đạt được chứng ngộ cả. Để đạt tới chứng ngộ ông phải thấy
bản tính của mình. Chừng nào ông chưa thấy bản tính của mình, mọi việc nói này
về nhân quả đều vô nghĩa. Chư phật không thực hành điều
vô nghĩa. Vị phật là tự do với nghiệp, tự do với nhân quả. Nói ông ấy đạt tới bất
kì điều gì là phỉ báng vị phật. Ông ấy có thể đạt tới điều gì? Ngay cả hội tụ
vào tâm trí, vào quyền năng, hiểu biết hay cách nhìn đều là không thể được với
vị phật. Vị phật không phải là người một chiều. Bản tính tâm trí ông ấy về cơ bản
là trống rỗng, không thuần khiết không không thuần khiết. Ông ấy tự do với việc
thực hành và hiểu. Ông ấy tự do với nhân quả.
Vị phật không
giữ giới luật. Vị phật không làm điều thiện hay ác. Vị phật không hăng hái hay
lười biếng. Vị phật là ai đó người làm cái không, người thậm chí không thể hội
tụ tâm trí mình vào vị phật. Vị phật không phải là vị phật. Đừng nghĩ về chư phật.
Nếu ông không thấy điều ta đang nói tới, ông sẽ không bao giờ biết tới tâm trí
riêng của mình.
Mọi người không
thấy bản tính của mình và cứ tưởng tượng họ có thể thực hành làm cái không mọi
lúc đều là kẻ dối trá và kẻ ngu. Họ rơi vào trong không gian vô tận. Họ như người
say. Họ không thể biết điều thiện từ điều ác. Nếu ông định thực hành làm cái
không, ông phải thấy bản tính của mình trước khi ông có thể đặt dấu chấm hết
vào suy nghĩ hợp lí. Đạt tới chứng ngộ mà không thấy bản tính của ông là điều
không thể được.
Vậy mà những
người khác vẫn phạm phải đủ mọi loại hành vi ác, cứ nói nghiệp không tồn tại. Họ
xác nhận sai lầm rằng vì mọi thứ đều trống rỗng, phạm điều ác là không sai. Những
người như thế rơi vào trong địa ngục của bóng tối vô tận không hi vọng gì được
thoát. Những người trí huệ không giữ quan niệm như vậy.
Nhưng nếu mọi
tình cảm và trạng thái của chúng ta, bất kì khi nào nó xuất hiện, đều là tâm
trí, tại sao chúng ta không thấy tâm trí này khi thân thể của người ta chết đi?
Tâm trí bao giờ
cũng hiện diện. Ông không thấy nó mà thôi.
Nhưng nếu tâm
trí hiện diện, sao tôi không thấy nó? Ông có bao giờ mơ không?
Tất nhiên.
Khi ông mơ, đấy
có phải là ông không? Có, đấy là tôi.
Và điều ông
đang làm và nói có khác với ông không? Không, điều đó không khác.
Nhưng nếu nó
không khác, thế thì thân thể này là thân thể thực của ông. Và thân thể thực này
là tâm trí ông. Và tâm trí này, qua vô hạn kalpas không có bắt đầu, chưa bao giờ
thay đổi cả. Nó chưa bao giờ sống hay chết, xuất hiện hay biến mất, tăng hay giảm.
Nó không thuần khiết cũng không không
thuần khiết, không thiện không ác, quá khứ hay tương lai. Nó không đúng hay
sai. Nó không nam hay nữ. Nó không xuất hiện như sư hay dân thường, người già cả
hay người mới lớn, hiền nhân hay kẻ ngu, vị phật hay người hữu tử. Nó cố gắng để
không nhận ra và không chịu nghiệp. Nó không có sức mạnh hay hình dạng. Nó giống
như không gian. Ông không thể sở hữu nó. Và ông không thể làm mất nó. Chuyển động
của nó không thể bị chặn lại bởi núi, sông hay tường đá. Sức mạnh không thể nào
dừng nổi của nó thấm vào núi của năm uẩn và đi ngang qua dòng sông luân hồi.
Không nghiệp nào có thể kìm lại được thân thể thực này. Nhưng tâm trí này là
tinh tế và khó thấy. Nó không phải là một với tâm trí giác quan. Mọi người
đều muốn thấy tâm trí này. Và những người di chuyển tay và chân họ bằng ánh
sáng của nó là nhiều như hạt cát dọc sông Hằng. Nhưng hỏi họ. Họ không thể giải
thích được điều đó. Họ giống như những con rối. Nó là của họ để dùng. Sao họ
không thấy nó?
Tôi cảm thấy cực
kì buồn và tiếc bởi vì Bồ đề đạt ma đã có loại người sai để ghi lại các phát biểu
của ông ấy; họ đang trộn sự lẫn lộn của riêng họ vào. Họ đang cố gắng vất vả để
làm cho dường như điều họ đang nói là do Bồ đề đạt ma nói. Và những người không
hiểu về mặt tồn tại chứng ngộ là gì, nhất định rơi vào trong bẫy của họ. Họ sẽ
không có khả năng phân biệt điều gì thuộc về Bồ đề đạt ma và điều gì thuộc về
người đã ghi lại những ghi chép đó.
Thấy tình huống
này, tôi nhớ lại một thí dụ mà tôi đã kể cho các bạn, nhưng nó cần được nhắc lại.
Rabindranath Tagore, một trong những nhà thơ vĩ đại nhất của đất nước này, đã dịch
cuốn sách thơ của riêng mình, Gitanjali, sang tiếng Anh. Mặc dầu ông ấy đã được
giáo dục ở Anh... ông ấy thuộc về một gia đình cực siêu giầu có của Bengal; ông
nội ông ấy được đế quốc Anh trao cho tước hiệu vương.
Ông ấy đã có mọi
giáo dục tốt nhất có thể có trên thế giới, nhưng dầu vậy tiếng mẹ đẻ vẫn là tiếng
mẹ đẻ. Ông ấy đã viết toàn bài thơ của mình trong tiếng Bengal, nhưng vài người
bạn đã gợi ý rằng Gitanjali vĩ đại tới mức nếu nó được dịch sang tiếng Anh có mọi
khả năng nó sẽ đoạt giải thưởng Nobel. Nhưng ai sẽ dịch nó ngoại trừ bản thân
Rabindranath? Ai còn có thể là dịch giả tốt hơn được?
Thế là ông ấy
đã dịch nó ra, nhưng ông ấy vẫn còn ngần ngại. Ông ấy đã yêu cầu một nhà truyền
giáo Ki tô giáo lớn của thời đó, C.F. Andrews - một học giả lớn và rất có ảnh
hưởng, một nhân vật nổi tiếng thế giới - đọc qua bản dịch bởi vì ông này cũng
có thể hiểu được tiếng Bengali. Ông ấy đã sống ở Bengal như một nhà truyền
giáo; ông ấy đã làm việc giữa những người Bengal và đã học tiếng của họ. Cho
nên ông ấy là đúng người để đọc qua bản dịch và để nhìn vào bản gốc. Ông ấy đã
chấp nhận toàn bộ cuốn sách chỉ trừ bốn điểm, chỉ bốn từ rải rác đây đó trong
cuốn sách. Ông ấy nói, “Chúng không đúng về văn phạm, và tôi gợi ý các từ khác
có nghĩa gần như vậy, nhưng đúng về văn phạm.”
Và Rabindranath
đã bị thuyết phục rằng C.F. Andrews là phải khi có liên quan tới ngôn ngữ. Cho
nên ông ấy đã đổi bốn từ này và thay chúng bằng những từ mà C.F. Andrews gợi ý.
Tại Anh ông ấy có những người bạn trong số mọi nhà thơ Anh, cho nên ông ấy tới
London nơi ông là khách của một trong những nhà thơ lớn thời đó, Yeats. Và
Yeats đã triệu tập một cuộc họp chỉ các nhà thơ Anh để nghe đọc bản Gitanjali của
Rabindranath. Ông ấy đã bị thuyết phục rằng cuốn sách này hiếm hoi và duy nhất
đến mức nó có thể được đề nghị tặng giải thưởng Nobel, nhưng cũng tốt là có ý
kiến của nhiều nhà thơ đã được giải thưởng Nobel.
Thế là gần hai
mươi hay hai mươi nhăm nhà thơ đã tụ tập tại nhà của Yeats để nghe đọc thơ của
Rabindranath. Họ tất cả đều có ấn tượng rất lớn, và họ nhất trí muốn đưa ra lời
kêu gọi uỷ ban giải thưởng Nobel rằng cuốn sách này nên được vinh dự nhận giải
thưởng Nobel. Nhưng bản thân Yeats còn có chút bảo lưu. Ông ấy nói, “Mọi thứ đều
hoàn toàn đúng, ngoại trừ có bốn từ.” Rabindranath không thể nào tin được vào
điều đó - đấy đích xác là bốn từ mà C.F Andrews đã gợi ý!
Yeats nói,
“Chúng hoàn toàn đúng về văn phạm, nhưng chúng không mang tính thơ ca. Chúng có
vẻ dường như ai đó đã can thiệp vào; chúng ngăn cản dòng chảy đẹp đẽ của thơ
ca. Thay vì giúp thêm vào, chúng là cản trở và tôi gợi ý rằng ông nên đổi bốn từ
này đi.
"Ông lấy
chúng ở đâu ra vậy? Bởi vì tôi có mọi điều chắc chắn trong bản thể mình rằng
chúng không phải là lời của ông. Không nhà thơ nào có thể dùng những từ đó ở chỗ
mà chúng đã được dùng. Nhà ngôn ngữ, vâng; người muốn hoàn hảo về văn phạm và
ngôn ngữ sẽ dùng chúng. Nhưng nhà thơ có tự do nào đó; người đó có giấy phép
thơ ca để đi chệch đường ra ngoài một chút so với văn phạm bởi vì thơ ca có giá
trị cao hơn văn xuôi. Với văn xuôi, văn phạm là được, nhưng với thơ ca, văn phạm
có thể gây rối loạn.”
Rabindranath
không thể nào tin được vào điều đó, nhưng ông ấy nói, “Ông phải đấy, những từ
này không phải là lời tôi, nhưng từ này là từ C.F. Andrews. Tôi sẽ nói cho ông
những từ ban đầu tôi đã dùng.”
Và ông ấy đưa
ra những từ của mình và Yeats sung sướng vô ngần. Ông ấy nói, “Bây giờ thì mọi
thứ đều tốt cả. Bốn tảng đá đó đã bị loại bỏ đi khỏi luồng chảy như dòng sông.
Những từ của ông không đúng văn phạm nhưng chúng mang tính thơ ca, và chúng tới
từ chính trái tim ông.”
Văn phạm là trò
chơi của tâm trí và thơ ca không phải là một phần của tâm trí; tâm trí về bản
chất là văn xuôi, thơ ca thuộc về trái tim.
Sai về văn phạm,
nhưng đúng về thơ ca, Gitanjali đã được trình bày cho uỷ ban giải thưởng Nobel
và đã được nhất trí chấp nhận trao giải thưởng.
Thí dụ này chỉ
ra rằng những người đã viết ra lời kinh này của Bồ đề đạt ma đều giỏi khi có
liên quan tới ngôn ngữ, nhưng họ không hoà hợp chút nào với kinh nghiệm về chứng
ngộ - không hợp chút nào. Cho nên có nhiều câu sai, những câu rất lẫn lộn, cùng
với những câu tuyệt đối đúng của Bồ đề đạt ma.
Cho nên người
ta phải đọc với nhận biết rất sắc bén; bằng không rất khó tìm ra chỗ nào Bồ đề
đạt ma kết thúc và đệ tử bước vào, và chỗ nào đệ tử kết thúc và Bồ đề đạt ma bước
vào. Nó trộn lẫn thế, và tôi cảm thấy buồn bởi vì Bồ đề đạt ma xứng đáng có những
đệ tử khá hơn. Ông ấy là một trong những thầy vĩ đại nhất mà thế giới đã từng
biết tới. Nhưng có lẽ ông ấy đã là thầy vĩ đại đến mức mà rất ít đệ tử thậm chí
có thể đạt tới gần ông ấy. Và những người đã đạt tới gần ông ấy đã không viết
ra lời ghi chép nào cả.
Huệ Khả, người
mà ông ấy đã chọn làm người kế tục mình, khi được Bồ đề đạt ma hỏi, “Giáo huấn
tinh tuý của ta là gì?” đơn giản quì xuống, nước mắt lăn dài từ đôi mắt, không
thốt ra một lời. Bồ đề đạt ma đỡ ông ấy dậy và nói, “Mặc dầu ông đã không trả lời,
ta chấp nhận câu trả lời của ông. Mặc dầu ông đã không nói lấy một lời, nước mắt
của ông là đủ truyền đạt thông điệp. Ông đã hiểu ta và ta có thể hiểu tại sao
ông lại im lặng. Im lặng của ông còn nói nhiều hơn là ông đã có thể xoay xở bằng
việc nói bất kì điều gì. Ông là chính linh hồn ta, ông sẽ đại diện cho ta khi
ta qua đi.”
Nhưng Huệ Khả
đã không viết ra lấy một lời. Cho nên đấy là định mệnh kì lạ: những người có thể
hiểu thấy khó làm cái gì ngoài một phát biểu lẫn lộn. Họ sẽ thích vẫn còn im lặng
hơn là phạm phải sai lầm. Còn những người không hiểu chẳng sợ
cái gì. Họ không biết rằng họ đang phạm phải sai lầm, sai lầm về nghĩa và ý
nghĩa sâu sắc.
Và tôi sẽ chỉ
cho bạn rằng trên bề mặt những lời ghi chép đó có vẻ hoàn toàn đúng, nhưng chỉ
sâu xuống một chút, ở nhiều chỗ chúng không thể nào là phát biểu của Bồ đề đạt
ma được. Chúng không thể là phát biểu của bất kì người nào đã đạt tới tâm thức
tối thượng, của người đã đạt tới định mệnh của tự nhận biết.
Lời kinh: Nhưng
giả sử tôi không thấy bản tính mình, không lẽ tôi vẫn không thể đạt tới chứng
ngộ bằng việc cầu khẩn chư phật, đọc kinh, cúng dường, gìn giữ giới luật, thực
hiện cầu nguyện hay làm những việc tốt sao?
Không, ông không
thể chứng ngộ được.
Cái không này
chắc chắn là từ Bồ đề đạt ma. Phát biểu trên là điều mà mọi tôn giáo vẫn đang
làm trên thế giới. Cái gọi là những người tôn giáo đang làm tất cả những điều
này; họ đang cầu khẩn Thượng đế, họ đang cầu chư phật, họ đang cầu các jinnahs,
họ đang cầu các nhà tiên tri, đấng cứu thế, đấng cứu tinh. Họ đang tụng kinh,
kinh Koran linh thiêng, Kinh thánh linh thiêng, Gita linh thiêng, Dhammapada
linh thiêng. Họ đang cúng dường trong các đền chùa, đền thờ Hồi giáo, trong nhà
thờ, trong giáo đường Do Thái, trong Gurudwaras. Hàng nghìn loại giới luật đang
được các tôn giáo khác nhau tuân theo.
Mới hôm nọ tôi
mới nhìn vào Talmud, kinh sách linh thiêng của người Do Thái và tôi không thể
nào tin được... Nhiều lần trước đây tôi cũng đã mở nó ra rồi đóng nó lại, bởi
vì chỉ đọc một đoạn thôi cũng đủ thấy cái ngu xuẩn. Bạn mở bất kì chỗ nào và mọi
thứ được nói dường như không liên quan chút nào tới tâm linh. Chẳng hạn, vào
ngày linh thiêng sabbath bạn có thể đi tới trang trại hay ra vườn hay ra cánh đồng,
nhưng đừng đi tới tận cùng. Bạn có thể đi tới rất gần chỗ cuối cùng, nhưng đừng
tới chính chỗ cuối cùng. Và đây là phần của kinh sách linh thiêng! Và thế rồi
còn có những bình luận về nó; một giáo sĩ này nói, "Tại sao nó được nói
ra?" Thế rồi giáo sĩ khác nói điều gì đó khác. Thế rồi giáo sĩ khác...
Hàng trăm lời bình luận trên một phát biểu ngu xuẩn như vậy.
Hay... điều bạn
nên có một cửa ra vào và chỉ một cửa sổ và vấn đề là liệu cửa sổ nên ở bên phải
cửa ra vào hay bên trái cửa ra vào. Và có những giáo sĩ lớn cứ thảo luận mãi vấn
đề là nó phải ở bên phải hay nó phải ở bên trái, và họ đưa ra những biện luận lớn
lao về tại sao. Và điều ấy thì không lớn lao gì, nó phải nhỏ - nhỏ làm sao...?
Nhân danh giới
luật, kỉ luật, đủ mọi loại vô nghĩa đã được thực hành - nào cầu nguyện, hay làm
việc thiện, mở bệnh viện, trường hợc, trại trẻ mồ côi. Chỉ một người như Bồ đề
đạt ma mới có thể nói, "Không, ông không thể đạt tới chứng ngộ hay phật
tính bởi những điều ngu xuẩn như thế." Chỉ có duy nhất một cách và đó là
biết tới bản thể bạn, đó là biết tới tự tính của bạn.
Và tại sao lại
không?
Nếu ông đạt tới
bất kì cái gì thì tất cả đấy chỉ là điều kiện. Bây giờ điều này là rất có ý
nghĩa và bạn phải hiểu điều đó. Bất kì cái gì có điều kiện bạn đều có thể mất nếu
điều kiện bị loại bỏ. Chứng ngộ phải là vô điều kiện bởi lí do đơn giản rằng nó
không thể bị lấy đi. Cuộc sống của bạn là có điều kiện: bất kì ai cũng có thể
giết chết bạn, bạn có thể tự tử. Nhưng việc chứng ngộ của bạn thì phải là vô điều
kiện.
Bạn không thể
làm được bất kì cái gì để phá huỷ, để phá hoại bất kì cái gì có tính vô điều kiện.
Bạn không thể làm bất kì nỗ lực nào để đi lui được, bởi vì không có điều kiện, không
có nguyên nhân; nó là tự do với việc bị phá huỷ. Chẳng hạn, bạn đốt lửa - nhưng
nó là có điều kiện. Nếu bạn bỏ gỗ đi, lửa sẽ tắt. Gỗ đó là tuyệt đối cần thiết
cho lửa vẫn còn trong sự tồn tại. Nó không phải là vô điều kiện, nó là hậu quả
của một nguyên nhân. Nguyên nhân bị loại bỏ, hậu quả biến mất.
Đó là khác biệt
giữa người tâm linh và người duy vật. Người duy vật nói dưới dạng triết lí rằng
cuộc sống, tâm thức, tất cả đều là có điều kiện, tất cả đều là hậu quả. Khi
nguyên nhân bị loại bỏ chúng sẽ biến mất. Khi trong cái chết năm yếu tố cấu
thành nên thân thể bạn, được làm rời ra, quay trở lại với cội nguồn nguyên thuỷ
của nó - nước về với nước, đất về với đất, khí về với khí, lửa về với lửa,
không gian, bầu trời về với bầu trời - thế thì không cái gì còn lại cả. Không
có linh hồn còn sống sót; nó chỉ là hậu quả. Nếu nguyên nhân mà hiện diện, hậu
quả hiện diện - khi nguyên nhân bị loại bỏ, hậu quả biến mất. Nói cách khác
Karl Marx nói, "Tâm thức chỉ là sản phẩm phụ; nó không có sự tồn tại trong
bản thân nó."
Bồ đề đạt ma
đang nói: Nếu ông đạt tới bất kì cái gì tất cả đấy chỉ là điều kiện, đấy là
nghiệp. Nó nảy sinh trong sự trừng phạt. Nó làm quay Bánh xe. Và chừng nào ông
còn là chủ thể cho sinh và tử, ông sẽ không bao giờ đạt được chứng ngộ. Chứng
ngộ phải không là hậu quả của nguyên nhân nào đó, không là hậu quả của việc thực
hành nào đó, không là hậu quả của những điều kiện nào đó mà bạn đã hoàn thành.
Nó phải không là việc đạt tới, mà chỉ là việc khám phá.
Nó đã có đó rồi.
Bạn chỉ giữ cho
mắt mình nhắm lại, cho nên khi bạn mở mắt ra và bạn thấy phật tính của mình, bạn
không thể nói là bạn đã đạt tới nó. Nó đã có đó từ trước khi bạn thậm chí thấy nó.
Nó không phải là việc "đạt tới" của bạn, và việc mở mắt ra của bạn
không phải là nguyên nhân.
Dù bạn có mở mắt
mình ra hay không, phật tính của bạn vẫn không hề bị động chạm tới. Thậm chí với
mắt nhắm bạn vẫn là vị phật; với mắt mở sẽ không có thay đổi gì - các bạn sẽ là
chư phật. Thay đổi duy nhất sẽ là trong hiểu biết của bạn, không trong phẩm chất
của bạn, không trong bản thể bạn. Sự thay đổi duy nhất sẽ là trong hiểu biết của
bạn: "Lạy trời, mình đã đi tìm kiếm chứng ngộ, phật tính, trong mọi kiếp sống,
tìm và kiếm ở mọi nơi và làm đủ mọi loại hành động tốt, gìn giữ giới luật, cúng
dường, cầu nguyện, tụng kinh - và tất cả những điều đó là ngu xuẩn, bởi vì
trong khi mình đang tụng kinh mình đã là vị phật rồi. Khi mình cúng dường hoa
cho bức tượng đá, mình đang làm một hành động xuẩn ngốc thế bởi vì mình làm cho
vị phật chạm chân bức tượng đá. Mình bao giờ cũng là vị phật rồi; đó là bản
tính vô điều kiện của mình."
Đó là lí do tại
sao phát biểu của Bồ đề đạt ma cực kì có ý nghĩa khi ông ấy nói, "Không,
ông không thể nào tìm thấy phật tính bằng tất cả những cái gọi là như vậy mà
các tôn giáo cứ thuyết giảng mãi cho mọi người."
Để đạt tới chứng
ngộ ông phải thấy bản tính của mình.
Và chính chỉ là
ngôn ngữ và khó khăn của ngôn ngữ mà người ta phải gọi nó là đạt tới; bằng
không đạt tới nào có đó? Đấy thực sự chỉ là khám phá.
Kho báu có đó,
bạn đơn giản làm lộ nó ra.
Bạn không tạo
ra nó, bạn không sáng tạo ra nó, nó không phải là cái gì đó mới; nó bao giờ và
bao giờ cũng có đó. Và dù bạn có khám phá ra nó hay không cũng không tạo nên
khác biệt gì với nó. Nó là vĩnh hằng vô điều kiện.
Chừng nào ông
còn chưa thấy bản tính của mình, mọi việc nói này về nhân quả đều vô nghĩa.
Tôi có thể nói
rằng những lời gay gắt này chỉ có thể tới từ Bồ đề đạt ma, không từ bất kì đệ tử
nào, những người không thể có dũng cảm ngần ấy. Chỉ Bồ đề đạt ma mới có thể
nói: Chư phật không thực hành điều vô nghĩa. Nó là tiếng gầm của sư tử. Nó là
tiếng gầm của sư tử, không phải là dòng viết của đệ tử tầm thường.
Vị phật là tự
do với nghiệp, tự do với nhân quả. Nói ông ấy đạt tới bất
kì điều gì là phỉ báng vị phật.
Không có vấn đề
về đạt tới, người đó chỉ phát hiện ra.
Người đó chỉ mở
mắt mình ra và thấy bản thân mình.
Ông ấy có thể đạt
tới điều gì? Ngay cả việc hội tụ vào tâm trí, vào quyền năng, hiểu biết hay
cách nhìn đều là không thể được với vị phật. Vị phật không phải là người một
chiều.
Do đó, ông ấy
không thể hội tụ vào bản thân mình được. Ông ấy là đa chiều, ông ấy là phổ
quát. Chỉ những người một chiều mới có thể hội tụ. Tâm trí bình thường của bạn
có thể hội tụ; nó có thể tập trung, nhưng vị phật không thể tập trung được. Ông
ấy mở như bầu trời, trong mọi hướng, trong mọi chiều.
Vị phật không
phải là người một chiều. Bản tính vô trí của ông ấy... đệ tử này đang viết là
tâm trí của ông ấy, nhưng tôi phải chữa cho anh ta. Bản tính vô trí của ông ấy
về cơ bản là trống rỗng, không thuần khiết cũng không không thuần khiết. Và bạn
có thể thấy tại sao tôi sửa điều đó bởi vì nếu đấy là tâm trí, nó không thể nào
trống rỗng được. Tâm trí bao giờ cũng đầy ý nghĩ; tâm trí không là gì ngoài cái
bình chứa ý nghĩ. Tâm trí là cái tên khác cho quá trình suy nghĩ.
Ban ngày nó là
suy nghĩ, ban đêm nó là mơ, nhưng nó bao giờ cũng tràn đầy với cái gì đó. Nó
chưa bao giờ trống rỗng.
Và tâm trí bao
giờ cũng hoặc thuần khiết hoặc không thuần khiết. Điều đó phụ thuộc vào loại ý
nghĩ gì đang diễn ra trong nó. Nếu bạn đang nghĩ tới giết ai đó, hay nếu bạn
đang nghĩ tới đánh cắp cái gì đó, hay nếu bạn đang nghĩ tới việc giúp ai đó...
Nếu bạn tràn đầy với ý nghĩ từ bi, ý nghĩ yêu mến hay ý nghĩ huỷ hoại... điều
đó sẽ phụ thuộc vào loại nội dung nào trong tâm trí bạn, và tâm trí thì chưa
bao giờ trống rỗng. Do đó, hoặc nó sẽ thuần khiết hoặc không thuần khiết, hoặc
nó sẽ là cả hai cùng nhau. Bởi vì tâm trí bạn là đống lộn xộn thế, không thuần
khiết và thuần khiết, ý nghĩ tốt và ý nghĩ xấu, tất cả đều đứng đó như một đám
đông. Do đó, tôi muốn đổi từ tâm trí thành vô trí. Chỉ thế thì phát biểu này mới
trở nên có nghĩa: Bản tính vô trí ông ấy về cơ bản là trống rỗng, không thuần
khiết cũng không không thuần khiết bởi vì vô trí là ở bên ngoài nhị nguyên.
Tâm trí không
bao giờ có thể vượt ra ngoài nhị nguyên được. Nó bao giờ cũng nghĩ về ủng hộ
hay chống đối, nó bao giờ cũng bị phân chia và chia chẻ, nó bao giờ cũng tinh
thần phân liệt; nó chưa bao giờ là toàn bộ. Một phần của nó bao giờ cũng ngần
ngại. Bất kì điều gì bạn làm, một phần của bạn sẽ không cùng với bạn; nó sẽ cứ
nói: "Đừng làm điều đó, mình sẽ ăn năn nếu mình làm điều đó."
Đó là một trong
những nguyên nhân tại sao mọi con người đều trong khổ. Bởi vì bất kì điều gì bạn
làm, cái gì không thành vấn đề, phần mà không hợp tác vẫn cứ trả thù. Nó sẽ nói
với bạn, "Nghe đây, bây giờ xem đấy, đã bảo trước rồi, đừng có làm điều
này, nhưng mà mình có bao giờ nghe đâu." Nếu bạn đã nghe nó, thế nữa tình
huống cũng không khác đi bởi vì phần kia mà đang nói, "Làm nó đi," sẽ
đợi và chờ cơ hội của nó để kết án bạn bằng việc nói, "Không
chịu nghe lời gì cả." Bạn bao giờ cũng trong giằng co đó: dù bạn làm điều
này hay điều kia, bạn bao giờ cũng sai.
Chỉ vô trí mới
có thể không có nhị nguyên nào, bởi vì nó là trống rỗng. Vô trí là vô chọn lựa.
Vô trí là nhận biết thuần khiết. Nó chỉ là bầu trời trống rỗng.
Vị phật không
giữ giới luật. Bây giờ đây là một phát biểu vĩ đại. Nó đáng được viết bằng chữ
vàng ở mọi nơi trên khắp trái đất để mọi người hiểu nó.
Vị phật không
giữ giới luật.
Ông ấy không
tuân theo bất kì kỉ luật nào. Tại sao? Bởi vì ông ấy không có nhu cầu tuân theo
bất kì kỉ luật nào, bất kì giới luật nào; ông ấy phải không tuân theo bất kì đạo
đức nào bởi sự kiện đơn giản là ông ấy sống trong nhận biết tràn đầy. Từ nhận
biết tràn đầy của ông ấy mà việc đáp ứng tới - không từ bất kì giới luật nào, bất
kì kinh sách nào, bất kì luật đạo đức nào. Không, ông ấy hành động từ khoảnh khắc
nọ sang khoảnh khắc kia từ trống rỗng thuần khiết của mình.
Nhìn một cách
im lặng ông ấy cho phép toàn thể bản thể mình đáp ứng. Ông ấy giống hệt như tấm
gương; ông ấy phản chiếu, ông ấy không làm cái gì khác. Đáp ứng của ông ấy là
phản chiếu của ông ấy.
Vị phật không
làm điều thiện hay ác. Vị phật không hăng hái hay lười biếng. Vị phật là ai đó
làm cái không, ai đó thậm chí không thể hội tụ tâm trí mình vào vị phật.
Cho dù Thượng đế
đứng trước ông ấy, ông ấy không thể tập trung vào Thượng đế được. Ông ấy chỉ là
trống rỗng thuần khiết. Ông ấy không mang bất kì căng thẳng nào, bởi vì tập
trung là căng thẳng, hội tụ là căng thẳng. Ông ấy hoàn toàn thảnh thơi.
Tại đây Bồ đề đạt
ma tới đỉnh cao của mình khi ông ấy nói: Vị phật không phải là vị phật.
Bây giờ điều
này sẽ rất khó cho mọi người hiểu - đặc biệt là những người có tâm trí bị định
kiến theo biết bao nhiêu tôn giáo trên thế giới. Vị phật không phải là vị phật.
Điều đó phải được hiểu, bởi vì nó có ý nghĩa đến mức nếu bạn bỏ lỡ nó, bạn sẽ bỏ
lỡ mọi thứ.
Lấy vài ví dụ;
có lẽ điều đó có thể có ích. Đứa trẻ mới sinh ra hoàn toàn hồn nhiên. Nhưng bạn
có biết hay bạn có cho rằng nó nhận biết rằng nó hồn nhiên không? Đứa trẻ hồn
nhiên có thể biết rằng nó là hồn nhiên không? Nếu nó biết rằng nó là hồn nhiên,
nó không còn hồn nhiên nữa. Đứa trẻ hồn nhiên là hồn nhiên chỉ nếu nó không biết
rằng nó là hồn nhiên.
Vị phật là việc
tái sinh, việc tái sinh của tâm thức. Ông ấy đang đạt tới thời thơ ấu thứ hai;
ông ấy được sinh ra lần nữa. Ông ấy là tâm thức tuyệt đối, nhưng ông ấy không
thể nhận biết và ông ấy không thể nói, "Tôi là tâm thức tuyệt đối."
Phát biểu đó sẽ làm cho tâm thức thành không thuần khiết. Tâm thức của ông ấy
giống hệt như cái hồn nhiên của đứa trẻ. Nó không thể là tự ý thức được. Nó có
đó và không có chỗ nào còn lại cho bất kì cái gì khác, cho dù là ý nghĩ,
"Tôi là vị phật."
Vị phật không
phải là vị phật. Đừng nghĩ về chư phật, bởi vì suy nghĩ về chư phật là điều ngớ
ngẩn. Bạn là vị phật. Sao bạn còn phí thời gian để nghĩ về chư phật? Sao không
đơn giản mở mắt ra và thức tỉnh và là vị phật đi? Bạn định thu được cái gì bằng
việc nghĩ về chư phật?
Nếu ông không
thấy điều ta đang nói tới, ông sẽ không bao giờ biết tới vô trí riêng của mình.
Mọi người không
thấy bản tính của mình và tưởng tượng họ có thể thực hành làm cái không mọi lúc
đều là kẻ nói dối và kẻ ngu.
Có nguy hiểm -
Bồ đề đạt ma nhận biết về điều đó - rằng có thể có những người ranh ma, kẻ dối
trá, kẻ ngu, cứ đi lừa người khác, lừa dối bản thân mình. Tôi đã đi tới biết
nhiều người, khi đọc hay nghe những phát biểu vĩ đại như phát biểu của Bồ đề đạt
ma, bắt đầu giả vờ rằng với họ không cái gì tốt, không cái gì xấu, rằng họ
không cần quan tâm tới phân biệt giữ đúng và sai. Bởi vì Bồ đề đạt ma và những
người như Bồ đề đạt ma tuyên bố rằng bạn là vị phật, họ tận hưởng ý tưởng này
mà không mở mắt mình ra. Nó thoả mãn bản ngã đến mức họ không mở mắt mình ra. Họ
không kinh nghiệm tự tính của họ, nhưng họ bắt đầu tuyên bố rằng họ đã chứng ngộ.
Những người như vậy làm hại bản thân họ nhiều lắm và hại người khác nhiều lắm.
Tôi đã thấy biết
bao nhiêu người bắt đầu tuyên bố bản thân họ đã chứng ngộ và họ thậm chí không
có tí chút ý thức nào hơn các bạn cả. Cho nên những phát biểu vĩ đại này có thể
là nguy hiểm. Chúng giống như những chiều cao lớn của các đỉnh Himalayas. Từ những
chiều cao này, bạn có thể ngã và bạn có thể phá huỷ bản thân mình. Những bí mật
này nên được hiểu theo cách rất chân thành, trung thực; chúng không nên được
dùng để khai thác mọi người và tôn cao bản ngã của bạn.
Những người này
rơi vào trong không gian vô tận. Họ như người say. Họ không thể biết điều thiện
từ điều ác. Nếu ông định thực hành cái không, ông phải thấy bản tính của mình
trước khi ông có thể đặt dấu chấm hết vào suy nghĩ hợp lí. Đạt tới chứng ngộ mà
không thấy bản tính mình là điều không thể được.
Cho nên điều đó
là tuỳ từng cá nhân liên tục nhớ vẫn còn chân thành. Bằng không, không ai có thể
ngăn cản được bạn; bạn có thể tuyên bố bạn chứng ngộ nhưng cuộc sống của bạn sẽ
chỉ ra, hành động của bạn sẽ chỉ ra, con mắt của bạn sẽ chỉ ra, mọi thứ quanh bạn
sẽ chỉ ra rằng bạn không chứng ngộ. Và điều này không giúp bạn theo bất kì cách
nào; điều này thậm chí lại còn có thể làm lầm lạc vài người. Và nếu bạn có thể kiếm
được vài người tin vào chứng ngộ của bạn, mà điều này bao giờ cũng có thể bởi
vì thế giới này đầy những kẻ xuẩn ngốc đến mức bất kì kẻ ngốc nào cũng có thể
tìm thấy đệ tử... Và một khi bạn đã tìm thấy vài kẻ ngốc làm đệ tử, thế thì bạn
trở nên tuyệt đối chắc chắn rằng bạn phải đã chứng ngộ; bằng không làm sao nhiều
người khôn ngoan thế lại tin vào bạn?
Dầu vậy những
người khác phạm phải đủ mọi loại hành vi ác, cứ nói nghiệp không tồn tại. Họ
xác nhận sai lầm rằng vì mọi thứ đều trống rỗng, nên phạm điều ác là không sai.
Những người như thế rơi vào trong địa ngục của bóng tối vô tận không hi vọng gì
được thoát. Những người trí huệ không giữ quan niệm như vậy.
Đấy là vấn đề
trách nhiệm cá nhân lớn; không có trách nhiệm nào khác lớn hơn điều này. Bao giờ
cũng nhớ - và đừng quên dù một khoảnh khắc - đừng nói điều gì mà không phải là
bạn; bằng không bạn sẽ rơi vào trong bóng tối mà từ đó thì rất khó thoát ra.
"Nhưng nếu
mọi tình cảm và trạng thái của chúng ta, bất kì khi nào nó xuất hiện, đều là vô
trí, tại sao chúng ta không thấy vô trí này khi thân thể của người ta chết
đi"
Vô trí bao giờ
cũng hiện diện. Ông chỉ không thấy nó thôi.
Vô trí không phải
là vật. Nó không phải là hàng hoá, nó không phải là đối tượng. Vô trí là không
gian thuần khiết. Nó là trống rỗng hoàn toàn, nó là im lặng.
Bạn không thể nghe thấy nó. Bạn đã bao giờ nghĩ về nó, khi bạn nói nó là tuyệt
đối im lặng không? Bạn có nghe thấy im lặng không? Mọi điều bạn nghe thấy là
không tiếng động. Bởi vì bạn không nghe thấy tiếng động nào, bạn kết luận nó là
im lặng.
Bởi vì bạn
không kinh nghiệm bất kì lo nghĩ nào, lo âu nào, căng thẳng nào, bất kì khổ
nào, bất kì đau khổ nào, bạn suy ra rằng đây là trạng thái của an bình và phúc
lạc. Nhưng những điều này không phải là vật hay sự vật mà bạn có thể thấy. Hay
khi một người chết, bạn không thể thấy vô trí của người đó đang từ bỏ thân thể.
Nhớ lần nữa,
tôi đang thay đổi những phát biểu này - bất kì chỗ nào có tâm trí, tôi nói vô
trí - bởi vì tâm trí có thể được thấy. Bạn thấy nó hàng ngày. Không cần phải chết
đi để thấy nó; thậm chí trong khi sống bạn thấy nó. Chỉ nhắm mắt lại và bạn sẽ
bắt đầu thấy nó.
"Nhưng nếu
vô trí hiện diện, sao tôi không thấy nó?"
Đệ tử này đang
đưa ra câu hỏi và cố gắng tìm câu trả lời của Bồ đề đạt ma. Có lẽ anh ta đã hỏi
những câu hỏi này... anh ta phải đã nhận được câu trả lời, nhưng anh ta đã
không thể hiểu được những câu trả lời đó. Anh ta đã diễn giải những câu trả lời
đó theo cách riêng của mình. Bồ đề đạt ma đã nói: Vô trí bao giờ cũng hiện diện.
Ông chỉ không thấy nó thôi. Bạn không thể thấy nó được bởi vì nó là không gian
thuần khiết, nó không phải là một vật. Nó là cái không; hay tốt hơn, nó là cái
không vật. Nó là không thấy được. Nhưng dầu vậy đệ tử này cứ hỏi mãi cùng câu hỏi
ấy dưới những dạng khác nhau. Nếu tâm trí - nếu vô trí - hiện diện, sao tôi
không thấy nó?
Dường như là
anh ta chưa viết ra... anh ta đã quên rồi, hay anh ta đã không hiểu câu trả lời
mà Bồ đề đạt ma nêu ra, bởi vì câu hỏi có đó, nhưng câu trả lời
không có đó. Câu trả lời phải là: Bởi vì ông là nó rồi, cho nên ông không thể
thấy nó được.
Bạn có thể thấy
mọi thứ trên thế giới này ngoại trừ bản thân mình. Hiển nhiên tôi có thể bằng
bàn tay mình nắm lấy mọi thứ trên thế giới ngoại trừ bản thân bàn tay tôi. Tôi
có thể thấy bằng mắt mình mọi thứ trên thế giới ngoại trừ mắt riêng của tôi.
Vô trí là bản
tính của tôi.
Tôi có thể cảm
thấy nó, tôi có thể sống nó, tôi có thể thưởng thức nó, tôi có thể hát nó, tôi
có thể nhảy múa nó, nhưng tôi không thể thấy nó được. Bởi vì tôi là nó. Cái gì
đó tựa như điều này phải đã là câu trả lời nhưng nó không được ghi ra.
Và Bồ đề đạt ma
phải đã cố gắng vất vả để cho đệ tử này có thể hiểu phân biệt này. Ông ấy hỏi
anh ta:
Ông có bao giờ
mơ không? Tất nhiên.
Khi ông mơ, đấy
có phải là ông không?
Nhưng dầu vậy đệ
tử này không hiểu điều đó. Anh ta trả lời: Có, đấy là tôi.
Và điều này đi
ngược lại với toàn thể triết lí của Bồ đề đạt ma và Phật Gautam và tất cả những
người đã từng trở nên chứng ngộ. Câu trả lời đáng phải là, "Không, đấy
không phải là tôi." Bởi vì làm sao tôi có thể là giấc mơ được? Giấc mơ nổi
ở phía trước tôi. Tôi thấy chúng. Bởi vì tôi thấy chúng, hiển nhiên tôi không
phải là chúng. Tôi là người thấy và chúng là cái được thấy. Tôi là người biết
và chúng là cái được biết. Chúng là đối thể, tôi là chủ thể. Do đó câu trả lời đúng
phải là, không là "Có, đấy là tôi," mà là "Không, đấy không phải
là tôi."
Và điều ông
đang làm và nói có khác với ông không?
Lần nữa lại
cùng sai lầm; câu trả lời được nêu ra là Không, nó không khác. Nó không khác với
tôi - bất kì việc làm hay lời nói nào... Nhưng điều đó đơn giản thế; đặc biệt với
bạn nó phải đơn giản thế. Bước đi, bạn có thể thấy rằng đấy là hành động của
thân thể bạn, nhưng bạn không là nó. Bạn không bước đi; tâm thức bên trong của
bạn ở đích xác tại nơi nó bao giờ cũng ở. Dù bạn đang đứng tĩnh lặng hay bước
đi, nó bao giờ cũng là một. Câu trả lời thực sẽ làm "Có, nó là khác. Nó
không phải là tôi. Hành động của tôi không thể là tôi được, việc làm của tôi
không thể là tôi được. Tôi bao giờ cũng là người quan sát đằng sau; tôi bao giờ
cũng là nhân chứng bên ngoài."
Nhưng nếu nó là
khác, thế thì thân thể này không là thân thể thực của ông. Đó là việc chữa của
tôi. Bản thân lời ghi là điều đối lập lại. Lời ghi tiếp tục theo cùng cách sai.
Lời ghi là: Nhưng nếu nó không khác, thế thì thân thể này là thân thể thực của
ông. Nếu bạn không khác với hành động của mình, nếu bạn không khác với giấc mơ
của mình, thế thì đây là tâm trí thực của bạn, đây là thân thể thực của bạn.
Nhưng thân thể
này không phải là thân thể thực của bạn. Chẳng mấy chốc một ngày sẽ tới khi
thân thể này sẽ bị thiêu trên dàn hoả thiêu. Nhưng bạn sẽ không bị thiêu. Tâm
thức của bạn sẽ lấy một dạng mới - đã đi xa xôi.
Cho nên tôi sẽ
đi với việc sửa chữa của tôi: Nhưng nếu nó là khác, thế thì thân thể này không
là thân thể thực của ông. Và thân thể thực này là vô trí của ông. Và vô trí
này, qua vô hạn kalpas không có bắt đầu, chưa bao giờ thay đổi cả. Nó chưa bao
giờ sống hay chết... Xem kết luận này. Nếu thân thể này là
thực, thế thì những phát biểu sau không thể có liên quan được... qua vô hạn
kalpas, qua vô hạn năm, không có bắt đầu, chưa bao giờ thay đổi cả. Nó chưa bao
giờ sống hay chết, xuất hiện hay biến mất, tăng hay giảm. Nó không thuần khiết
cũng không không thuần khiết, thiện hay ác, quá khứ hay tương lai. Nó không
đúng hay sai. Nó không nam hay nữ. Nó không xuất hiện như sư hay dân thường,
người già cả hay người mới lớn, hiền nhân hay kẻ ngu, vị phật hay người hữu tử.
Nó cố gắng để không nhận ra và không chịu nghiệp. Nó không có sức mạnh hay hình
dạng. Nó giống như không gian. Ông không thể sở hữu nó.
Những phát biểu
là có thể chỉ nếu những việc chữa của tôi được thực hiện; bằng không những phát
biểu này trở thành tuyệt đối không thể được bởi vì thân thể bạn đã chết đi nhiều
lần, đã được sinh ra nhiều lần, sẽ chết đi nữa, sẽ được sinh ra nữa. Thân thể
này không phải là thân thể thực của bạn.
Thân thể thực của
bạn là bản thể thực của bạn - cái không bao giờ chết, cái không bao giờ sinh
ra, cái bao giờ cũng liên tục vĩnh hằng qua nhiều hình dạng, nhưng nó đều là một
cả. Có một phát biểu của Phật Gautam: "Ông có thể nếm đại dương tại bất kì
đâu, từ mọi chiều hướng; vị của nó bao giờ cũng là một."
Cho nên dù
trong thân thể này hay thân thể khác, tâm thức của bạn vẫn là một. Và thân thể
này chắc chắn là nam hay nữ; chỉ bản thể bạn là không nam hay nữ. Cho nên chừng
nào việc chữa của tôi còn chưa có đó, tất cả những phát biểu theo sau này đều
trở thành hoàn toàn không liên quan gì cả và đối lập ngược hẳn lại với phát biểu
mà đệ tử này đã viết ra.
Và ông không thể
làm mất nó. Chuyển động của nó không thể bị chặn lại bởi bất kì núi, sông hay
tường đá nào. Sức mạnh không thể nào dừng nổi của nó thấm vào núi của năm
skandhas (uẩn) ... Năm skandhas này là điều tôi đã gọi là năm yếu tố. Skandha
là từ Phật giáo cho yếu tố - đất, khí, nước, lửa và trời. Đây là năm yếu tố mà
cái gọi là thân thể bạn được tạo nên. Nhưng bản thể thực của bạn ở bên ngoài tất
cả skandha... núi của năm skandhas và đi ngang qua dòng sông luân hồi. Tâm thức
bạn không bao gồm năm yếu tố này và cho dù năm yếu tố này là núi, chúng vẫn
không thể nào ngăn cản được tâm thức của bạn vượt ra ngoài tới ngôi nhà thực của
mình.
Thậm chí đại
dương của luân hồi này, thế giới này, không thể ngăn cản được bạn khỏi việc đạt
tới ngôi nhà tối thượng của mình. Bởi vì ngôi nhà tối thượng này đã ở bên trong
bạn rồi, không cái gì có thể ngăn cản bạn khỏi việc đạt tới nó. Bạn đã ở đó rồi,
bạn chỉ không nhận biết về điều đó.
Không nghiệp
nào có thể kìm lại được bản thể thực này, hay thân thể thực này. Nhưng vô trí
này là tinh tế và khó thấy. Nó không phải là một với tâm trí giác quan. Mọi người
đều muốn thấy vô trí này. Và những người cử động tay và chân bằng ánh sáng của
nó cũng nhiều như hạt cát dọc sông Hằng.
Mặc dầu bạn
không thấy nó, mọi người đều có nó. Bạn sống trong ánh sáng của nó. Chính cuộc
sống của bạn thuộc và vô trí của bạn.
Nhưng hỏi họ. Họ
không thể giải thích được điều đó.
Bạn sống, bạn
biết bạn đang sống, nhưng nếu ai đó hỏi bạn cuộc sống là gì, hay định nghĩa điều
bạn ngụ ý bởi việc sống, bạn sẽ lúng túng. Điều đó cũng dường như là nếu bạn nếm
cái gì đó ngon lành; bạn biết cái vị ấy, nhưng không có cách
nào nói ra nó là gì, nó là thế nào? Cách duy nhất là để cho người khác nếm nó.
Không lời giải thích nào có thể có ích cả.
Người chưa bao
giờ nếm vị ngọt... bạn không thể giải thích cho người đó ngọt là gì. Bạn có thể
đem mọi cách nói rõ ràng của mình, nhưng bạn không thể nào giải thích được một
điều đơn giản, ngọt. Cách duy nhất là tặng cho người đó cái kẹo nào đó. Đó là
điều mà thầy đã làm suốt từ đầu. Thay vì bảo cho bạn ngọt là gì, họ đưa nó cho
bạn nếm. Bản thân họ đang đưa ra chính bản thể riêng của họ, sự hiện diện riêng
của họ cho bạn nếm trải nó.
Mọi người đều
có vị phật bên trong bởi vì họ không nhận biết họ vận hành như con rối. Vị phật
bên trong này là của họ để sử dụng, sao họ không thấy nó? Sao họ cứ còn như con
rối vậy? Sao họ không trở thành thầy của bản thể riêng của mình? Và đấy không
phải là nhiệm vụ khó khăn gì, thực ra nó không là nhiệm vụ chút nào. Đấy chỉ là
một mẹo nhỏ để trở nên nhận biết, chỉ như lay bản thân bạn và thức dậy. Mọi
cách thiền đơn giản là phương cách để lay bạn sao cho giấc ngủ tâm linh sâu bị
khuấy động. P.D. Ouspensky đã tặng một cuốn sách chuyên khảo của mình, Đi tìm
điều huyền bí, cho thầy mình, George Gurdjieff, với những lời rất hay, "Tặng
George Gurdjieff, người quấy rối giấc ngủ của tôi." Nhưng đấy chỉ là chức
năng của thầy: theo cách nào đó quấy rối bạn, theo cách nào đó lay bạn và đánh
thức bạn dậy.
Không có đâu mà
đi và không có gì để đạt tới. Bạn đã ở đó ở nơi bạn cần ở.
Tìm kiếm là tội
lỗi duy nhất.
Tìm là con đường
duy nhất đi lạc lối.
Vẫn còn lại bên
trong bản thân bạn, rút vào bản thân bạn từ mọi thứ, mọi năng lượng, mọi tia
năng lượng, và tập trung nó tại chính trung tâm bản thể bạn... Gurdjieff gọi nó
là 'sự kết tinh'. Và ông ấy là một người rất giống Bồ đề đạt ma. Nếu bất kì ai
có thể được đặt vào trong cùng loại như Bồ đề đạt ma, thế thì Gurdjieff là người
đó. Điều ông ấy gọi là sự kết tinh của bản thể bạn được Bồ đề đạt ma gọi là
đánh thức bản thể bạn, hay phật tính.
Đọc những lời
kinh này, tôi đã nghĩ phải có cái nhìn vào những lời kinh cổ khác, bởi vì cùng
những sai lầm mà tôi đang thấy trong những lời kinh này nhất định phải có đó.
Chúng đã không được viết ra bởi những người chứng ngộ. Và những lẫn lộn này, những
phát biểu sai này, không có chủ ý gì, gây hại nhiều lắm cho tất cả những người
đang theo chúng; chúng cần phải được sửa lại. Cho nên những lời bình luận của
tôi là nhiều sửa chữa và phê bình về tất cả những gì bị lẫn lộn và sai sót. Tôi
muốn đưa Bồ đề đạt ma ra sáng tỏ hoàn toàn, không có bất kì dấu vết nào còn lại
bởi những đệ tử này, người đã viết ra những lời kinh này. Điều đó bao giờ cũng
xảy ra... sách phúc âm của Jesus đã được viết ra ba trăm năm sau khi Jesus
không còn đó để sửa lại chúng. Và không người Ki tô giáo nào thích một Jesus
khác sửa lại chúng. Bằng không... tôi tuyệt đối sẵn lòng.
Kinh của Phật
Gautam đã được viết ra sau cái chết của ông ấy. Và có biết bao nhiêu tranh cãi
trong các đệ tử đến mức ngay sau cái chết của ông ấy đã có ba mươi hai tông
phái xung đột lẫn nhau. Ai đó nói, "Điều này do ông ấy nói ra," hay
"Điều này chưa được nói ra." Ba mươi hai cách diễn giải, mâu thuẫn lẫn
nhau, và Phật Gautam đáng thương không
còn sống và chắc chắn ông ấy không nói những điều có tới ba mươi hai cách diễn
giải khác nhau đã có. Ông ấy không phải là người điên. Nghĩa của ông ấy rất rõ
ràng, nhưng sự sáng tỏ đó là có thể chỉ cho những người đã vượt ra
ngoài tâm trí, bởi vì tâm trí là lẫn lộn, và vô trí là sáng tỏ.
Im lặng của vô
trí cho bạn sự sáng tỏ. Bạn có thể thấy ngay lập tức cái gì đúng và cái gì sai;
không có vấn đề về bất kì biện luận nào. Đọc những lời kinh này, tôi không phải
nghĩ ngợi một khoảnh khắc hay ngần ngại một khoảnh khắc nào ở đâu nó là sai hay
ở đâu nó là đúng. Khoảnh khắc tôi tới bất kì chỗ nào mà sai, điều đó là ngay lập
tức và tuyệt đối rõ ràng với tôi, không có ngần ngại gì.
Bởi vì thấy những
lời kinh này, tôi đã nghĩ phải nhìn vào những kinh sách cổ, những điều đã được
viết ra bởi những đệ tử chưa chứng ngộ và phải chữa lại chúng. Bởi vì đây là
lúc - chúng đã sống hàng nghìn năm mà không có sửa chữa nào.
Nhưng mọi người
trở nên bị ám ảnh và cuồng tín đến mức họ không muốn bất kì thay đổi nào. Chẳng
hạn, những sửa chữa của tôi sẽ không được các Phật tử thích thú. Họ sẽ cảm thấy
rất bị tổn thương - mọi dòng phải là đúng - nhưng họ không thấy ra vấn đề rằng
những dòng này không do Bồ đề đạt ma viết ra; bằng không chúng đã được rồi.
Chúng đã được những người chưa chứng ngộ viết ra. Do đó, điều tuyệt đối chắc chắn
là chúng sẽ sai sót, lẫn lộn, phát biểu sai, nhiều điều bị bỏ sót và có lẽ nhiều
điều đã do đệ tử thêm vào, chỉ để làm cho nó thành câu chuyện hoàn chỉnh, hệ thống
triết lí hoàn chỉnh. Đấy sẽ là một công việc khó khăn. Điều đó sẽ làm khó chịu
nhiều người hơn nữa. Tôi đã gây khó chịu cho biết bao nhiêu người đến mức bây
giờ tôi không quan tâm thêm nữa. Điều đó không thành vấn đề. Tôi đã gây khó chịu
cho hàng triệu người, vài triệu người nữa - bây giờ nó không thành vấn đề chút
nào.
Các thế hệ
tương lai của con người mới sẽ cảm thấy biết ơn rằng ít nhất
đã có một người không thèm bận tâm tới việc cả thế giới bị
người đó gây khó chịu. Người đó cứ phân biệt giữa cái gì là chân lí và cái gì
không là chân lí.
Được chứ,
Maneesha?
Vâng, thưa
Osho.
Xem tiếp Chương 5 - Quay về Mục lục