Hiển thị các bài đăng có nhãn Bồ Đề Đạt Ma. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bồ Đề Đạt Ma. Hiển thị tất cả bài đăng

Ít hơn một cái nháy mắt

Osho – Bồ Đề Đạt Ma: Thiền sư vĩ đại nhất
Chương 20: Ít hơn một cái nháy mắt



Osho kính yêu,
Nhưng Kinh buồng tắm nói, "Bằng đóng góp cho việc tắm của các nhà sư, mọi người nhận được phúc lành vô hạn." Điều này dường như là một thí dụ về thực hành bên ngoài đạt tới công đức. Làm sao điều này có liên quan tới việc ngắm nhìn tâm trí?
Tại đây, việc tắm của các sư không nói tới việc gột tẩy bất kì cái gì nhận thấy được. Khi Ngài thuyết giảng Kinh Buồng tắm, ông ấy muốn các đệ tử nhớ đến pháp về tẩy rửa. Cho nên ông ấy dùng mối quan tâm hàng ngày để truyền đạt ý nghĩa thực của mình.
... Buồng tắm là thân thể. Khi ông thắp sáng ngọn lửa của trí huệ, ông sưởi ấm nước thuần khiết của các giới luật và tắm bản tính phật đúng đắn bên trong ông. Bằng việc duy trì bẩy thực hành này, ông thêm vào đức hạnh của mình. Các sư của thời đó đều cảm nhận. Họ đã hiểu nghĩa của Phật. Họ tuân theo giáo huấn của ông ấy, làm hoàn hảo đức hạnh của họ và nếm quả của phật tính. Nhưng những người ngày nay không thể hiểu thấu được những điều này.
... Bản tính phật đúng đắn của chúng ta không có hình dạng. Và bụi của ưu phiền không có hình dạng. Làm sao mọi người có thể dùng nước thường để gột sạch thân thể không thấy được? Nó sẽ không có tác dụng. Khi nào họ sẽ thức dậy? Lau sạch thân thể như thế, ông phải ngắm nhìn nó. Một khi những cái không thuần khiết và thô bỉ phát sinh từ ham muốn, chúng nhân lên cho tới khi chúng bao phủ ông bên trong và bên ngoài. Nhưng nếu ông cố gắng lau sạch thân thể này của ông, ông sẽ phải cọ sạch cho tới khi nó gần biến hết trước khi nó sạch sẽ. Từ điều này ông nên nhận ra rằng việc tẩy rửa cái gì đó bên ngoài không phải là điều Phật ngụ ý.
Kinh này nói rằng người nào đó cầu thành tâm tới Phật chắc chắn được sinh ra ở thiên đường Tây phuơng. Vì cánh cửa này dẫn tới phật tính, vậy sao phải tìm kiếm giải thoát trong việc ngắm nhìn tâm trí?
... Phật ngụ ý nhận biết, nhận biết về thân thể và tâm trí ngăn cản điều ác khỏi nảy sinh. Và việc cầu có nghĩa là kêu gọi tâm trí, kêu gọi thường xuyên tới tâm trí về các qui tắc của kỉ luật và tuân theo chúng với tất cả sức mạnh của ông.
... Cầu tên Phật, ông phải hiểu về pháp của việc cầu. Nếu nó không hiện diện trong tâm trí ông, mồm ông tụng cái tên trống rỗng. Chừng nào ông còn bị rắc rối với ba chất độc hay bởi các ý nghĩ về bản thân mình, tâm trí bị lừa dối của ông sẽ giữ ông không thấy được Phật... Nếu ông níu bám lấy các hình tướng trong khi tìm kiếm ý nghĩa, ông sẽ không tìm thấy điều gì. Vậy, các hiền nhân của quá khứ trau dồi nội quan chứ không lời nói.
Tâm trí này là cội nguồn của mọi đức hạnh. Và tâm trí này là chủ cho mọi quyền năng. Phúc lạc vĩnh hằng của niết bàn tới từ tâm trí lúc nghỉ. Tái sinh trong ba cõi giới cũng tới từ tâm trí. Tâm trí là cánh cửa tới mọi thế giới. Và tâm trí là chỗ cạn ở bờ bên kia. Những người biết cánh cửa này ở đâu không lo nghĩ về việc đạt tới nó. Những người biết chỗ cạn này ở đâu không lo nghĩ về việc đi qua nó.
Những người ta gặp hôm nay trở đi đều nông cạn. Họ nghĩ tới công đức như cái gì đó có hình dạng. Họ lãng phí của cải của họ và làm thịt các sinh linh trên đất và trong biển... Họ thấy cái gì đó cảm thấy được và thường trở nên gắn bó. Nếu ông nói với họ về vô hình, họ ngồi đó câm lặng và lẫn lộn. Tham lam về những công đức nhỏ của thế giới này, họ vẫn còn mù quáng với những đau khổ lớn đang tới. Những đệ tử như vậy mang bản thân mình trong vô vọng. Chuyển từ cái thật sang cái giả, họ không nói về cái gì ngoài phúc lành tương lai.
Nếu ông có thể đơn giản tập trung ánh sáng bên trong của tâm trí mình và ngắm nhìn ánh sáng bên ngoài của nó, ông sẽ xua tan ba chất độc và lái đi xa sáu tên trộm một lần cho tất cả. Và không nỗ lực nào ông thu được sở hữu vô hạn đức hạnh, hoàn hảo và cánh cửa tới chân lí. Thấy qua cái tầm thường và chứng kiến siêu phàm còn ít hơn một cái nháy mắt. Việc nhận ra là bây giờ. Tại sao lo nghĩ về tóc hoa râm? Nhưng cánh cửa thực bị giấu kín và không thể nào được lộ ra. Ta chỉ chạm vào việc ngắm nhìn tâm trí.
Cám ơn Thượng đế rằng đây là lời kinh cuối cùng của Bồ đề đạt ma. Tôi đã lo nghĩ về nơi ông ấy định đi sau buồng tắm! Nó là cuộc hành trình vô cùng để leo lên đỉnh núi và trở lại nhà bạn. Bồ đề đạt ma đã đưa bạn đi trên toàn bộ vòng quay ngựa gỗ.
Tôi đã bắt đầu với Bodhidharma - Bồ đề đạt ma - cái tên Bồ đề đạt ma có nghĩa là "tự tính của nhận biết" - nhưng không may tôi phải kết thúc cuộc hành trình với Buddhudharma. Buddhudharma có nghĩa là "bản tính của vô nhận biết, của ngu xuẩn."
Ông ấy đã làm cho bản thân mình chìm vào cái đống lộn xộn này, nhưng điều đó là sự hiểu thấu vô cùng cho chúng ta. Quan sát ông ấy bạn có thể tránh được cùng đống lộn xộn đó. Bất kì điều gì ông ấy nói trước đây đều đã biểu lộ cái nhìn thấu đáo của ông ấy vào trong tiềm năng sâu sắc nhất của con người, nhưng điều ông ấy đang nói bây giờ tuyệt đối không liên quan. Thỉnh thoảng ông ấy nhớ mình là ai nhưng dường như là ông ấy cứ quên hoài, hay có lẽ ông ấy quá bị gắn bó với học thuyết đặc biệt của ông ấy về Đại Thừa và lo nghĩ nhiều về việc quấy rối các Phật tử mới được điểm đạo.
Trong tình huống này, ông ấy phải đã khổ nhiều. Tôi có thể thấy - có lẽ không ai có thể đã để ý tới điều đó - nhưng tôi có thể thấy nỗi khổ của ông ấy. Khổ của ông ấy là ở chỗ ông ấy đang nói những điều đó một cách rất không sẵn lòng và điều này là vấn đề cho tất cả những ai chấp nhận bất kì học thuyết nào, bất kì kinh sách nào, bất kì nhà thờ nào. Họ thường xuyên bị rắc rối. Nếu họ lắng nghe tiếng nói bên trong của riêng mình, nó nói điều gì đó; nếu họ lắng nghe theo tín ngưỡng, nó nói điều gì đó khác.
Đã có rất ít người trên thế giới này sẵn sàng đối kháng với mọi người. Nếu Bồ đề đạt ma đã nói bất kì cái gì là kinh nghiệm của ông ấy, có lẽ ông ấy sẽ mất mọi danh tiếng, sự kính trọng và tên tuổi lớn lao của ông ấy trong mọi niên giám của Phật giáo. Nhưng với tôi, đấy sẽ không phải là mất mát. Với tôi, ông ấy sẽ vươn lên cao hơn bất kì ai khác, chỉ bởi vì cam kết của riêng ông ấy là một điều tập trung và nhất quán... và đó là chân lí được kinh nghiệm của riêng ông ấy. Không cái gì khác có thể thay đổi được nó.
Các bạn cười khi nghe chính cái tên của kinh này, Kinh Buồng tắm, bởi vì các bạn không biết đã có hai tôn giáo nổi dậy chống lại Hindu giáo ở Ấn Độ - Jaina giáo và Phật giáo. Sư Jaina giáo không bao giờ tắm cả; ông ta thậm chí không đánh răng. Ông ta hôi hám và điều được coi là một kỉ luật lớn là bạn không quan tâm chút nào tới thân thể mình, cái là phù du, cái đằng nào cũng sẽ chết đi. Tại sao cứ lau chùi nó và làm phí thời gian của bạn? Ngày mai nó lại sẽ trở nên bẩn thôi.
Phật giáo gần như là một tôn giáo song song với Jaina giáo. Họ đồng ý trên mọi điểm cơ bản, nhưng Phật dường như nhạy cảm hơn Mahavira. Ông ấy muốn các sư của mình tắm hàng ngày để cho họ vẫn còn sạch sẽ, để cho thân thể họ sẽ không bị kết án mà được kính trọng như ngôi đền của bản tính thiêng liêng của họ. Nhưng có quá nhiều sư: việc nuôi họ, việc cho họ dùng buồng tắm của mình, việc cho họ quần áo, việc cho họ thuốc men khi họ ốm, đã trở thành ngày càng nặng gánh cho xã hội.
Mới vài ngày trước đây ở Thái Lan, tình huống đã trở nên tồi tệ đến mức gần một phần tư dân số của nước này là sư. Chính phủ phải thông qua đạo luật nói chừng nào bạn còn chưa được phép của chính phủ bạn không thể trở thành sư được.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử mà chưa có bất kì chính phủ nào đã lấy bước đi như vậy nhưng điều đó tuyệt đối cần thiết trong một nước nghèo. Nếu trong bốn người, một người không làm việc, không sáng tạo và vậy mà vẫn cần đủ mọi thứ tuyệt đối cần thiết, người đó sẽ thành gánh nặng.
Đấy là một tình huống xấu khi mà đến nửa dân số đang chết đói, khi mà một nửa nước ngủ chỉ với một bữa ăn hàng ngày, khi mà mọi người không chỉ ăn hoa quả mà còn đào cả rễ củ của cây cối, luộc chúng rồi ăn chúng, hi vọng rằng chúng phải có chất dinh dưỡng. Bởi vì rễ cây nuôi dưỡng cho cả cây - chúng nuôi dưỡng cho hoa và quả - một cách tự nhiên gốc rễ phải có dinh dưỡng lớn.
Phật Gautam phải nói về những điều tầm thường như vậy bởi vì nếu điều đó không được nói tới, thế thì mọi người bắt đầu ra quyết định của riêng mình. Và Phật muốn các đệ tử của mình là những cá nhân toàn vẹn - sạch sẽ, thuần khiết, tỉnh táo theo mọi cách có thể được cả bên ngoài và bên trong. Mối quan tâm và từ bi của ông ấy là lớn đến mức có ba mươi ba nghìn qui tắc cho một sư Phật giáo. Điều đó làm tâm trí lưỡng lự; ba mươi ba nghìn qui tắc! Thậm chí nhớ chúng là khó rồi.
Nhưng Phật đã chăm nom tới từng chi tiết: khi nào thức dậy, khi nào đi ăn xin, không nhận tất cả thức ăn của mình từ một nhà mà từ năm nhà để cho không ai bị nặng gánh. Năm nhà có thể cho bạn những cái nhỏ bé và điều đó sẽ là đủ cho bạn. Ở một nhà, bạn có thể thành đôi chút nặng nề... và không ở trong một thành phố hơn ba ngày để bạn không tạo ra bất kì nặng gánh nào cho bất kì ai. Ăn chỉ một lần mỗi ngày bởi vì cả triệu người ăn chỉ một lần một ngày. Bạn không nên đòi hỏi hai bữa ăn.
Đừng có nhiều hơn ba mảnh vải; hai để dùng, một mảnh cho tình huống cần kíp. Chẳng hạn: bạn bỗng nhiên thấy mình quay lại nơi mọi nhà sư khác đang ở và trời đổ mưa. Cả hai mảnh của bạn, trên và dưới, đều ướt cả. ít nhất thì bạn cũng vẫn còn một mảnh vải để che mình - mảnh thứ ba này dùng cho lúc cần kíp. Hai mảnh dành cho nhu cầu cơ bản của bạn nhưng bạn không nên có nhiều hơn ba mảnh.
Những chi tiết này là bản chất mặc dầu chúng có vẻ tầm thường. Bạn nghĩ, "Điều vô nghĩa gì thế này? Một Phật Gautam đáng phải nói về tâm linh, về trưởng thành và nhận biết và tự do và ông ấy đang nói về những việc nhỏ bé." Nhưng ông ấy phải nói vì một lí do đơn giản bởi vì ông ấy đã chấp nhận ý tưởng về từ bỏ thế giới. Một khi mọi người từ bỏ thế giới họ nhất định trở thành gánh nặng... và đè lên các xã hội nghèo.
Cho nên khi Phật nói rằng người để buồng tắm của mình cho sư dùng thu được đức hạnh lớn, ông ấy đơn giản cố gắng thuyết phục mọi người rằng họ không nên nghĩ điều đó là gánh nặng, mà là phúc lành.
Khi sư chấp nhận thức ăn mà bạn cúng dường ông ấy không có nghĩa vụ với bạn, Phật nói. Bạn có nghĩa vụ với ông ấy. Chỉ bằng việc nhận của ông ấy với thức ăn của bạn, về phần bạn là đức hạnh lớn. Có lẽ bạn đã cho thức ăn riêng của mình, có lẽ bạn đã cho thức ăn của con mình, nhưng bạn đã hi sinh cái gì đó và bạn đã kính trọng một người không có tài sản, không tiền bạc.
Phật đã nói rằng người mẹ được ân huệ khi cho sinh thành cho đứa con, người sẽ từ bỏ thế giới. Người bố được ân huệ, người có con sẽ từ bỏ thế giới. Họ đang từ bỏ thế giới chỉ để phát triển tiềm năng riêng của họ tới điều tối thượng của nó. Giúp họ đi. Nếu bạn không thể nâng được tâm thức của mình lên, ít nhất bạn có thể giúp theo cách nhỏ bé nào đó cho những người đang làm nỗ lực vô cùng để nâng tâm thức của họ lên tới toả sáng tối thượng.
Do đó, dù điều đó là tầm thường hay không, sẽ là hoàn toàn tốt nếu Bồ đề đạt ma đã chấp nhận lời kinh này như nó vậy. Và điều tôi đã nói, ông ấy cũng nên nói. Nhưng bản thân ông ấy cảm thấy bối rối, cho nên ông ấy bắt đầu lại cố gắng, nói nó là biểu dụ cho điều gì đó vô hình, và điều đó làm cho toàn thể cách tiếp cận của ông ấy thành giả. Tôi sẽ đọc lời kinh và thế rồi tôi sẽ đọc những giải thích hư cấu của ông ấy. Lời kinh là hoàn toàn rõ ràng; nó không cần việc làm sáng tỏ.
Nhưng Kinh Buồng tắm nói, "Bằng việc đóng góp cho việc tắm của các sư, mọi người nhận được phúc lành vô hạn." Điều này dường như là một thí dụ cho việc thực hành bên ngoài đạt tới công đức. Làm sao điều này có liên quan tới việc ngắn nhìn tâm trí?
Đệ tử này đang hỏi Bồ đề đạt ma: Thầy nói ngắm nhìn tâm trí là đủ, nhưng Phật đang nói về những điều nhỏ bé thế. Trong việc ngắm nhìn tâm trí của thầy có chỗ nào cho những điều như thế không?
Câu trả lời đơn giản sẽ là: Ta đang nói về điều bản chất và Phật nói về cả điều bản chất và không bản chất. Ông ấy đang chăm nom không chỉ về điều sư phải làm. Sư phải ngắm nhìn tâm trí mình; đó là thực hành bản chất duy nhất của ông ấy - nhận biết, đếm hơi thở, quan sát, chứng kiến. Nhưng cũng vậy, sư nghèo cần thức ăn; ông ta cần chỗ trú ẩn nào đó trong cơn mưa, ông ta cần quần áo nào đó.
Phật có cái nhìn rất thấu đáo. Đấy không chỉ là vấn đề của một sư nhưng khi hàng triệu người trở thành sư, thế thì những qui tắc nào đó phải được làm ra; bằng không điều đó sẽ tạo ra hỗn độn trong toàn xã hội.
Sư không được giả định nói ra ông ấy muốn ăn cái gì. Bất kì cái gì được gia đình làm cho chính họ, ông ấy chỉ nên nhận cái đó. Ông ấy không nên nói với gia đình mà ông ấy định đến xin ăn vào ngày mai, bởi vì thông tin của ông ấy có thể làm cho gia đình đó cảm thấy rằng thế thì họ phải làm thức ăn ngon, thức ăn đắt nào đó bởi vì sư này sắp tới nhà họ. Điều này có thể là gánh nặng không cần thiết và sư này có thể trở thành kẻ ăn bám.
Để tránh tất cả những điều này, Phật phải nói về những điều nhỏ bé đến mức người thường không thích, và trong những ngày đó rất ít người có buồng tắm riêng của mình. Thậm chí ngày nay sau hai mươi nhăm thế kỉ, ngoại trừ ở vài thành phố lớn, chín mươi phần trăm dân số Ấn Độ không có buồng tắm trong nhà mình. Họ đi ra ngoài làng, hoặc ra bờ sông, hay ra bờ hồ. Đó là buồng tắm của họ, đó là nhà vệ sinh của họ.
Người ta coi có buồng tắm gắn liền với phòng ngủ của bạn là xa hoa lớn; chỉ rất ít người ở Ấn Độ có thể đảm đương được điều đó, đất nước này nghèo thế. Và không chỉ cái nghèo nàn đã ngăn cản điều đó; ngay cả những người có đủ tiền trong thời của Phật cũng không có ý tưởng gì về việc có buồng tắm gắn với phòng ngủ của họ.
Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng chỉ mới một trăm năm trước đây đã có một vụ kiện tại toà thượng thẩm Mĩ, bởi vì một người đã gắn buồng tắm vào buồng ngủ của mình. Điều đó bị coi là chống lại Ki tô giáo; điều đó bị coi là điều bẩn thỉu thế. Người này đã học điều đó từ châu Âu và người đó nghĩ mình đang đem một món quà cho nước Mĩ. Nó chắc chắn là một món quà!
Nhưng hội Ki tô giáo đưa vụ này kiện ra toà chống lại người đó tại Toà Thượng thẩm bằng việc nói rằng người này đang cố gắng làm hư hỏng tâm trí mọi người. Đây là một ý tưởng "được quỉ cấy vào trong tâm trí người đó," họ nói. "Đã bao giờ có ai nghe nói về buồng tắm được gắn vào buồng ngủ của bạn không?"
Và bạn sẽ ngạc nhiên rằng Toà Thượng thẩm đã ra lệnh cho người đó phải chuyển buồng tắm ra sau nhà nơi nó vẫn thường được để đó. Chúng được gọi là ở ngoài nhà. Chúng không được phép gắn vào ngôi nhà chính - chỉ ở sân sau, nơi xa. Chỗ bẩn thỉu!
Nhưng trong thời Phật, có những người giầu đã gắn buồng tắm vào và điều đáng ngạc nhiên nhất, gần như không thể nào tin được là điều đó có tại Harappa và Mohanjodaro, hai thành phố cổ đại nhất đã được phát hiện ra ở Pakistan... Chúng đã bẩy nghìn tuổi. Một thảm hoạ tự nhiên nào đó, hay có lẽ một thảm hoạ nhân tạo nào đó, đã phá huỷ các thành phố đẹp này không chỉ một lần, mà bẩy lần, bởi vì bẩy lần các thành phố này đã được xây dựng. Mọi người đã khai quật gần nửa thế kỉ nay. Họ không thể nào tin được cái loại thảm hoạ nào đã liên tục xảy ra: tầng thành phố nọ được phủ đầy bùn, thế rồi tầng thành phố kia lại bị phủ đầy bùn.
Khi họ cứ đào xuống, trước hết họ nghĩ đó là tầng đầu tiên, tầng nông là thành phố, nhưng ai đó thử đào sâu hơn một chút để xem cái gì ở dưới đó. Họ ngạc nhiên thấy rằng sau vài mét tầng bùn, có thành phố khác. Thế rồi họ cứ cố gắng mãi và cuối cùng họ đã tìm ra bẩy tầng các thành phố lớn - các thành phố với phố xá rộng rãi như San Francisco hay New York. Và chắc chắn các thành phố này không có những phố rộng thế nếu họ không có xe cộ lớn để đi trên chúng.
Varanasi được xem là thành phố cổ đại nhất ở Ấn Độ. Thậm chí đến chiếc xe nhỏ nhất cũng không thể nào đi vào khu cổ của Varanasi. Còn nói gì tới xe hơi? - thậm chí ánh mặt trời cũng không bao giờ đạt tới đó bởi vì cả hai bên đường là các toà nhà khổng lồ. Chỉ khi mặt trời tới chính giữa bầu trời, trong vài phút mới có ánh mặt trời, bằng không cả ngày không có ánh mặt trời. Một nền văn minh lớn phải đã có đó.
Tôi nhớ tới chúng bởi vì mọi nhà ở Mohanjodaro và Harappa - cả hai thành phố này - đều có buồng tắm gắn với buồng ngủ của họ, có bể bơi lớn như chúng ta có bể bơi hiện nay. Và họ có một hệ thống, một hệ thống rất lạ kì mà họ đã phát minh ra, để cho nước nóng và lạnh chảy vào mọi nhà. Điều đó đơn giản thật kinh ngạc! Dường như là họ đã đạt tới cùng chiều cao của văn minh, có lẽ còn tốt hơn, bởi vì thậm chí vào thời kì đầu của thế kỉ hai mươi Toà Thượng thẩm của Mĩ đã từ chối không cho người đó có buồng tắm trong ngôi nhà riêng của mình.
Tương lai sẽ khác bởi vì có các kiến trúc sư... Tôi đã thấy vài thiết kế được gửi đến cho tôi từ một người bạn, người nghĩ về một điều rất kì lạ mà thế nào cũng bị ra toà bởi mọi tôn giáo khác trên thế giới. Ý tưởng này không phải là có buồng tắm được gắn vào mà có một buồng bên trong buồng tắm. Họ đã làm những thiết kế đẹp tới mức buồng tắm trông không trái chỗ; nó tôn cái đẹp của buồng lên.
Nhưng chắc chắn điều đó sẽ không được bàn cãi bởi mọi tôn giáo... rằng điều này đi quá xa. Bằng cách nào đó chúng ta đã chấp nhận buồng tắm được gắn với buồng ngủ. Bây giờ những nhà kiến trúc không lành mạnh này đang cố gắng thúc ép một ý tưởng... và tôi nghĩ ý tưởng đó sẽ phát triển. Thiết kế của họ là tuyệt vời. Tại sao lại có buồng tắm gắn kèm? Buồng tắm có thể được làm đẹp đến mức bạn có thể gắn buồng ngủ của bạn vào buồng tắm. Và thực ra cả hai đều có thể ở cùng một chỗ - không có nhu cầu cho bất kì phân chia nào. Nó là buồng tắm của bạn, nó là buồng ngủ của bạn. Và mọi thứ có thể được làm đẹp và sạch thế, không có vấn đề về...
Nhưng nó đã là vấn đề. Rất ít gia đình giầu có có buồng tắm và vấn đề còn lớn hơn bởi vì các sư Phật giáo không thể tắm ở sông được. Họ không có đủ quần áo, họ không có quần lót nào. Họ chỉ có ba mảnh vải, một để quấn quanh bên dưới, mảnh khác để quấn quanh bên trên - chỉ là những mảnh vải phẳng.
Để tránh may đo - bởi vì điều đó là xa hoa - họ chỉ dùng những miếng vải phẳng; một mảnh họ quấn quanh hông, mảnh kia họ quấn quanh ngực, và có vậy thôi. Điều đó là khó khăn đối với họ. Hoặc là họ phải ở trần - điều này Phật Gautam không cho phép - hoặc họ phải lội vào sông với các mảnh vải trên người và thế thì vải của họ sẽ bị ướt cả.
Cho nên bạn phải thấy toàn thể tình huống... tại sao Phật Gautam phải nói về những điều tầm thường như vậy. Điều đó đưa ra khuyến khích cho những người có buồng tắm riêng cho phép các sư được tắm và thế thì mọi người sẽ nhận được phúc lành vô hạn. Không có biểu dụ gì trong đó cả. Nó có nghĩa đích xác điều nó nói.
Đệ tử này tuyệt đối đúng khi hỏi: "Điều này dường như là một thí dụ về việc thực hành bên ngoài để đạt tới công đức, bởi vì người cho phép thầy dùng buồng tắm của mình đang đạt tới công đức. Người đó không làm gì cả - chỉ cho phép thầy dùng buồng tắm của người đó."
Và Bồ đề đạt ma nói, "Không có gì và không có nhu cầu và không có khả năng, để đạt tới bất kì công đức nào từ bất kì việc thực hành bên ngoài nào. Điều công đức duy nhất là ngắm nhìn tâm trí."
Ông ấy có thể đơn giản nói, "Đây chỉ là khuyến khích cho mọi người; bằng không sao họ phải cho phép bất kì ai?" Thực ra, không ai thích buồng tắm của mình được người khác dùng cả, và đặc biệt là người lạ. Nó không phải là chỗ công cộng. Mọi người đều muốn buồng tắm của mình là chỗ riêng tư, của riêng mình, và người giầu hơn là ... Họ chắc chắn không thích ý tưởng về các sư lạ lang thang với quần áo bẩn thỉu, chân bẩn bởi vì họ không có giầy, đầy mồ hôi trong mùa hè nóng bức, dính đầy bụi bặm trên đường không phải là đường rải nhựa, hay đúc xi măng - chúng chỉ là những con đường bụi bặm cho xe bò kéo. Người giầu không thích điều này.
Và bạn không có ý tưởng gì về người giầu của những ngày đó. Họ quen có đồ tắm riêng của mình, không phải là nước thường, mà là nước hoa hồng. Đấy là một câu chuyện lạ kì về một nhân loại lạ kì: một phần đang chết đói vì thức ăn và phần kia của cùng giống nòi con người đó tắm một cách tốn kém thế - hàng nghìn hoa hồng phải được dùng cho một lần tắm. Những người này sẽ không thích bọn du thủ du thực, sư, kẻ ăn xin - tất cả họ đều là kẻ ăn xin trong con mắt của họ - trừ phi họ được khuyến khích rằng họ sẽ nhận được ân huệ ở thế giới khác. Phật đơn giản nói dưới dạng kinh doanh và ông ấy hoàn toàn đúng.
Nhưng vấn đề với Bồ đề đạt ma là ở chỗ ông ấy không thể chấp nhận được mọi thứ đơn giản như chúng vậy. Ông ấy nói:
Tại đây, việc tắm cho các sư không nói tới việc gột tẩy bất kì cái gì nhận thấy được.
Làm sao bạn tẩy rửa được cái gì không nhận thấy được? Cái mà không nhận thấy được là cái không thấy được. Chỉ cái thấy được phải được tẩy sạch. Thân thể bạn có thể được cho việc tắm chứ không phải là linh hồn bạn. Quần áo bạn có thể được làm sạch chứ không phải là bản thể bạn. Nhưng điều đó không có nghĩa là bạn phải dùng quần áo bẩn, không có nghĩa là bạn phải vẫn còn bẩn thỉu trên thân thể mình.
Phật rất thẩm mĩ trong so sánh với Mahavira, người đương đại ông ấy, và đó là lí do tại sao ông ấy có duyên dáng hơn Mahavira. Mahavira có cá tính rất mạnh mẽ nhưng ông ấy không duyên dáng... cá tính của lực sĩ, nhưng không phải là tính cá nhân của hoa sen.
Không phải ngẫu nhiên mà Phật Gautam đã trở thành đồng nghĩa với hoa sen. Nó mảnh mai và đẹp và duyên dáng đến mức không hoa nào khác trên trái đất thậm chí tới gần được nó. Ông ấy muốn các sư của mình phải nhạy cảm, thẩm mĩ, sạch sẽ và một cách tự nhiên cách duy nhất là nói cho mọi người rằng nếu bạn giúp các nhà sư nghèo đó thức ăn, chỗ tắm, thuốc men, quần áo bạn sẽ được nhiều công đức trong thế giới khác. Điều này đơn giản là chuyện thực dụng.
Khi Ông ấy thuyết giảng Kinh Buồng tắm, ông ấy muốn các đệ tử mình nhớ đến pháp về tẩy rửa. Cho nên ông ấy dùng mối quan tâm hàng ngày để truyền đạt ý nghĩa thực của mình...
Buồng tắm là thân thể.
Bây giờ điều này là vô nghĩa và bản thân ông ấy ngay lời kinh bắt đầu đã nói Phật chưa bao giờ thuyết giảng điều vô nghĩa. Ông ấy mâu thuẫn với hầu hết mọi thứ mà ông ấy đã nói với sự sáng tỏ cực kì ngày chỗ đầu lời kinh. Nhưng bây giờ bản thân ông ấy đã lâm vào rắc rối.
Buồng tắm là thân thể. Khi ông thắp sáng ngọn lửa của trí huệ, ông sưởi ấm nước thuần khiết của các giới luật và tắm bản tính phật đúng đắn bên trong ông.
Phật không thể đã nói điều gì đó khác hơn Kinh Buồng tắm được sao? Ông ấy có thể đã nói về Kinh bản tính Phật. Bạn có cho rằng Phật kém thông minh hơn Bồ đề đạt ma ... đến mức ông ấy đã không biết rằng tốt hơn cả là nói đích xác điều ông ấy ngụ ý? Và không có khó khăn gì trong việc nói điều đó cả. Một Bồ đề đạt ma có thể nói điều đó - tại sao Phật không thể nói được điều đó?
Bằng việc duy trì bẩy thực hành này, ông thêm vào đức hạnh của mình. Các nhà sư của thời đó đều cảm nhận.
Nếu điều này là đúng, rằng các sư của thời đó - điều đó có nghĩa là thời của Phật Gautam - đều cảm nhận, thế thì chắc chắn Kinh Buồng tắm không cần được gọi là Kinh Buồng tắm chút nào. Nó nên được gọi là Kinh bản tính Phật, hay bất kì lời hay nào. Tại sao mang buồng tắm vào trong nó? Và nếu Bồ đề đạt ma có thể làm cho nó thành rõ ràng cho những người kém cảm nhận - và các đệ tử của Phật còn cảm nhận nhiều hơn - điều kì lạ là ông ấy đã phải dùng những biểu dụ kì lạ như vậy. Bồ đề đạt ma đang làm nên toàn thể sự việc.
Họ đã hiểu nghĩa của Phật. Nếu họ đã hiểu nghĩa của Phật thế thì tại sao ông ấy che giấu nó sau nhà tắm?
Họ tuân theo giáo huấn của ông ấy, làm hoàn hảo đức hạnh của mình và nếm quả của phật tính.
Nếu những đệ tử này của Phật thậm chí đã kinh nghiệm phật tính, cần gì phải nói với họ theo biểu dụ? Phật có thể đã trực tiếp - biểu dụ được cần cho trẻ con. Cho nên điều ông ấy nói là đúng, nhưng nó chống lại ông ấy, không thiên về ông ấy.
Nhưng những người ngày nay không thể hiểu thấu được những điều này.
Nhưng Kinh Buồng tắm không được viết ra cho thời của Bồ đề đạt ma. Bồ đề đạt ma tới một nghìn một trăm năm sau khi Kinh Buồng tắm đã được Phật nói ra. Bạn có nghĩ Phật đang nói cho những người của thời Bồ đề đạt ma không? Đây là cái gì đó cần được hiểu bởi vì nó là điều thường xuyên được lặp lại: rằng mọi người của thời cổ hơn là cảm nhận nhiều hơn, nhạy cảm hơn, thông minh hơn là người của thời nay. Thậm chí ngày nay điều đó vẫn còn được nói.
Tại Babylon một viên gạch đã được khai quật lên và trên viên gạch đó có một lời khắc nói rằng, "Mọi người của thời xưa đều rất thông minh" - và viên gạch đó đã sáu nghìn tuổi. Phật Gautam và Mahavira cả hai đều lặp lại nhiều lần rằng con người của ngày xưa rất thông minh, nhưng tôi không biết những ngày xưa ấy là khi nào.
Trong Veda của Hindu, được giả thiết là kinh sách cổ nhất trên thế giới, một người từ chính thành phố này, Lokmanya Balgangadha Tilak đã chứng minh, và  chứng minh với luận cứ và bằng chứng lớn lao - và bằng chứng là ở chỗ nó đã không bị bác bẻ bởi bất kì người nào trong gần nửa thế kỉ - rằng bộ Veda đầu tiên trong bốn bộ, Rig Veda, đã có tuổi chín nghìn năm. Nhưng thậm chí trong Rig Veda, điều ấy vẫn thế: rằng trong những ngày xưa, mọi người là rất nhạy cảm, rất thông minh. Tôi không biết những ngày xưa ấy là khi nào. Điều đó đơn giản lên án những người của thời hiện tại. Ý tưởng này đã liên tục được sử dụng.
Tâm thức con người có tiến hoá hay không? Theo tất cả những người này, dường như là nó đang đi xuống, không đi lên. Thực ra bạn càng đi lùi thêm vào lịch sử thì bạn sẽ càng tìm thấy con người nguyên thuỷ hơn với những thực hành nguyên thuỷ hơn. Ăn thịt người đã là thực tế phổ biến. Một vài bộ lạc ăn thịt người hiện còn lại ở vùng rừng rậm châu Phi, nhưng họ là những người cổ đại nhất.
Nếu bạn muốn thấy những người cổ đại nhất, bạn có thể tới châu Phi, nhưng phải cẩn thận! Tôi đã nghe nói rằng khi nhà truyền giáo Ki tô giáo đầu tiên tới đó để cải đạo cho người ăn thịt người và bảo họ, "Thượng đế yêu các bạn và Jesus sẽ tới cứu các bạn," họ thích buổi thuyết giáo lắm. Họ khênh ông ta trên vai và ông ta cứ nghĩ rằng đó là sự tiếp đón trọng thể. Khi họ bắt đầu đẩy ông ta vào thùng nước đang đun, ông ta nói, "Các anh làm gì thế này?" Họ nói, "Trong vài phút nữa ông sẽ thấy."
Khi nước bắt đầu trở nên quá nóng, nhà truyền giáo béo với cái đầu nhô lên trong bình nước lớn, bắt đầu cố gắng bằng cách nào đó để thuyết phục những người này: "Ta tới đây để cho các ông hương vị của Ki tô giáo mà các ông đang giết ta."
Họ nói, "Đừng lo. Một khi chúng ta đã làm súp ông, chúng ta sẽ có hương vị đầu tiên của Ki tô giáo. Đó là lí do tại sao chúng ta luộc ông - để có hương vị Ki tô giáo."
Tôi nghĩ không có cách nào khác để có hương vị Ki tô giáo! Đây là những người nguyên thuỷ nhất: họ có ba nghìn người vào đầu thế kỉ này, nhưng bởi vì rất hiếm khi tìm được bất kì ai đi qua khu vực của họ - họ nhìn quanh nhưng thậm chí không ai tới gần - thế rồi cuối cùng họ phải ăn người của riêng họ. Vào đầu thế kỉ này đã có ba nghìn người; bây giờ chỉ có ba trăm. Họ đã ăn hai nghìn bẩy trăm người của mình. Mỗi ngày thức ăn đều cần cả. Nếu họ có thể bắt được ai đó từ bên ngoài, tốt - chỉ một chút ít hương vị người Trung Quốc nào đó, người Nhật Bản nào đó, người Đức nào đó, người Ấn Độ nào đó. Cũng giống như bạn thỉnh thoảng tới nhà hàng Trung Quốc, họ cũng muốn hương vị nào đó - thỉnh thoảng có sự thay đổi nào đó.
Nhưng điều đó là rất khó bởi vì người ta ở xa hàng dặm đường đối với họ. Mọi người đều biết rằng khu vực đó là nguy hiểm; người ta đi tới đó nhưng không bao giờ quay lại. Bất kì ai tới đó, đi mãi mãi. Một khi họ bắt được bạn, bạn được kết thúc... chẳng mấy chốc bạn sẽ được nấu lên - có thể được cho thêm dấm ớt. Bạn có thể hưởng thú điều đó! Tôi không nói rằng bạn sẽ không hưởng thú điều đó, bạn có thể hưởng thú điều đó! Toàn thể sự việc sẽ là cuộc phiêu lưu thế.
Nhưng khi bạn đi lùi lại thì bạn sẽ thấy ngày càng nhiều người không thông minh, ngày càng nhiều người lạc hậu, ngày càng nhiều người man rợ. Cho nên ý tưởng đang được mọi tôn giáo sử dụng này - rằng mọi người lúc ban đầu đều rất vĩ đại còn bây giờ mọi người đã sa ngã - điều này là không đúng. Điều này là tuyệt đối sai. Không có cơ sở lịch sử nào cho nó và không có hỗ trợ logic nào cả. Và tôi muốn nói với các bạn rằng bạn là đỉnh cao nhất của tâm thức cho tới nay - mặc dầu đỉnh cao nhất của bạn không mấy.
Các bạn có tiềm năng mênh mông còn chưa được phát triển. Nhưng những người nguyên thuỷ kia thậm chí còn chưa phát triển được như bạn. Các bạn ít nhất có ý thức nào đó, họ không có ý thức chút nào. Họ gần với con vật.
Bản tính phật đúng đắn của chúng ta không có hình dạng. Và bụi của nghiện ngập không có hình dạng. Làm sao mọi người có thể dùng nước thường để gột sạch thân thể không thấy được?
Ông ấy cứ lặp lại cùng những điều ngu xuẩn. Hôm qua ông ấy đã nói cách Phật có thể uống sữa thường - bây giờ, mọi người có thể dùng nước thường như thế nào? - dường như có nước phi thường sẵn đấy ở đâu đó!
Để gột sạch thân thể không thấy được... Cái mà không thấy được không cần được gột sạch. Chỉ cái thấy được mới bị bẩn. Cái không thấy được, không gian, không bao giờ bị bẩn; bầu trời không bao giờ bị bẩn. Im lặng bên ngoài tâm trí không bao giờ bị bẩn. Và thậm chí nếu nó có bị bẩn - điều không thể được nhưng cứ giả sử như thế đi, cho dù nó có bị bẩn - thế thì chúng ta sẽ tìm thấy xà phòng vô hình, nước gội đầu vô hình mà bạn không thể thấy được. Các bạn sẽ chỉ thấy cái chai trống rỗng nhưng bên trong có nước gội đầu vô hình.
Tôi đã nghe nói ở một của hàng tại New York họ có bán một thứ hàng hoá nào đó, mà về hàng này thì mọi phụ nữ ở New York đều bị kích động ghê lắm và muốn mua nó. Đấy là viên tóc vô hình. Tôi nghĩ không phụ nữ nào có thể vẫn còn dửng dưng mà không bị cám dỗ nếu viên tóc vô hình có bán sẵn. Có xếp hàng trước cửa hàng đó và phụ nữ nhận gói hàng, trả tiền rồi đi. Một phụ nữ mở gói ra và không thể thấy gì ở đó cả. Làm sao bạn có thể thấy viên tóc vô hình? Cho nên cô ấy nói với chủ tiệm, "Tôi không thấy gì cả." Ông ta hỏi, "Làm sao cô thấy được viên tóc vô hình?"
Cô ấy nói, "Phải đấy. Tôi muốn tới nữa vào ngày mai để mua thêm cho con gái tôi và bạn bè tôi để gửi làm quà, bởi vì đây là cái gì đó mới thế. Ông có đủ trong kho cho ngày mai nữa không? bởi vì tôi thấy biết bao nhiêu khách hàng và tôi phải đứng sắp hàng suốt một giờ." Ông ta nói, "Đừng lo nghĩ. Chúng tôi đã hết kho trong mười lăm ngày rồi nhưng đấy là cái vô hình. Không thành vấn đề liệu nó có đó hay không. Cô có thể tới vào bất kì lúc nào - nó bao giờ cũng có sẵn."
Bồ đề đạt ma đang nói điều gì đó tuyệt đối phi logic, bất hợp lí. Điều đó thậm chí không theo lí thông thường nữa.
Nó sẽ không có tác dụng. Khi nào họ sẽ thức dậy? Lau sạch thân thể như thế, ông phải ngắm nhìn nó. Một khi những cái không thuần khiết và thô bỉ phát sinh từ ham muốn, chúng nhân lên cho tới khi chúng bao phủ ông bên trong và bên ngoài. Nhưng nếu ông cố gắng lau sạch thân thể này của ông, ông sẽ phải lau chùi cho tới khi nó gần biến hết trước khi nó sạch sẽ.
Ông ấy đang nói bạn không thể lau sạch được thân thể này cái là vô hình. Nếu bạn cố gắng lau nó bạn sẽ phải lau chùi nó tới điểm khi toàn bộ thân thể biến mất. Thế thì bạn sẽ sạch. Điều đó nghĩa là không cần lau sạch thân thể này. Điều đó là vô dụng; điều đó sẽ có nghĩa là tự tử!
Nhưng bạn biết rằng không cần phải lau chùi thân thể tới điểm mà nó biến mất. Bạn có thể lau chùi thân thể tới điểm mà bạn không có mùi thân thể, mà mồ hôi của bạn không tạo ra và không bốc mùi quanh bạn, mà mồm bạn được đánh sạch, mà hơi thở bạn không làm phiền nhiễu cho người khác. Bạn có thể dùng xà phòng, bạn có thể dùng nước gội đầu, bạn có thể dùng chất khử mùi. Không cần phải lau chùi thân thể tới điểm mà nó hoàn toàn biến mất. Thế thì phỏng có ích gì mà lau sạch nó? Không cái gì còn lại cả.
Bồ đề đạt ma nghĩ ông ấy đang trao cho bạn một luận cứ chỉ ra Phật không ngụ ý tới việc tắm thông thường cho thân thể bạn, ông ấy ngụ ý việc lau sạch linh hồn bạn.
Nhưng Bồ đề đạt ma lại quên mất hoàn toàn rằng trong lời kinh riêng của mình ông ấy đã nói rằng linh hồn bao giờ cũng sạch - nó chưa bao giờ không sạch cả - rằng bản tính phật bao giờ cũng thuần khiết, nó chưa bao giờ không thuần khiết cả. Bạn có thể nhớ lời kinh của ông ấy không? Ông ấy nói rằng bạn đã chứng ngộ rồi, bạn chỉ ngủ thôi. Không có vấn đề lau sạch hay làm bất kì việc tôn thờ nào, bất kì nghi lễ nào. Mọi điều bạn cần làm là ngắm nhìn tâm trí mình, và dần dần việc ngắm nhìn tâm trí đó sẽ đánh thức bạn dậy. Thức tỉnh là được chứng ngộ.
Nhưng bây giờ ông ấy đã quên hoàn toàn tất cả những lời kinh đó. Ông ấy đã phạm phải một sai lầm vô cùng, ông ấy đáng phải dừng lại vào khoảng khắc câu hỏi tối thượng về dốt nát được hỏi. Ông ấy đã không dừng lại. Người ta phải biết chỗ dừng lại, bằng không người ta rơi vào bẫy. Bây giờ ông ấy đang tiếp tục và ông ấy không biết chỗ dừng lại và cách dừng lại.
Từ điều này ông nên hiểu rằng việc tẩy rửa cái gì đó bên ngoài không phải là điều Phật ngụ ý.
Chỉ nhu cầu bên ngoài cần tẩy rửa, nhu cầu bên trong không cần tẩy rửa. Và nếu Phật ngụ ý điều ông ấy đang nói, thế thì Bồ đề đạt ma đang lái Phật tới cùng điểm ngu xuẩn mà ông ấy đang ở đó. Chỉ bên ngoài mới bị bẩn và cần tẩy rửa. Bên trong không bao giờ bị bẩn và do đó không cần tẩy rửa.
Đệ tử này hỏi: Lời kinh này nói rằng người nào đó cầu thành tâm tới Phật chắc chắn được sinh ra ở Tây phuơng cực lạc. Vì cánh cửa này dẫn tới phật tính, vậy sao phải tìm kiếm giải thoát trong việc ngắm nhìn tâm trí?
Sự khăng khăng tiếp tục của đệ tử này là bởi vì nếu việc nhấn mạnh của Bồ đề đạt ma vào ngắm nhìn tâm trí là đủ, thế thì tại sao Phật nói về các điều khác? Và Bồ đề đạt ma không có đủ dũng cảm để nói ngược lại thầy của mình. Ông ấy có thể đã trả lời, "Không phải việc của ta là sắp xếp mọi sự của ông ấy. Hiểu biết của ta và nhận thức của ta là ở chỗ chỉ ngắm nhìn tâm trí là đủ. Có lẽ Phật muốn tạo ra kỉ luật bên ngoài nữa, bên cạnh kỉ luật bên trong. Đó là việc của ông ấy. Đó không phải là mối quan tâm của ta." Chỉ một phát biểu đơn giản như vậy sẽ cứu được ông ấy khỏi việc rơi xuống từ đỉnh cao ánh sáng mặt tròi nơi ông ấy đang hiện hữu, vào những điều nhỏ bé mà ông ấy không thể giải quyết được.
Câu trả lời của ông ấy lại cùng một kiểu ngu xuẩn. Phật ngụ ý nhận biết... điều ông ấy nói biết bao nhiêu lần.
... Phật ngụ ý nhận biết, nhận biết về thân thể và tâm trí ngăn cản điều ác khỏi nảy sinh. Và việc cầu có nghĩa là kêu gọi tâm trí.
Nếu cầu nghĩa là kêu gọi tâm trí, thế thì tại sao Phật không nói, "Kêu gọi tâm trí đi?"; tại sao nói, "Cầu Phật?" Tại sao làm mọi thứ phức tạp lên một cách không cần thiết khi chúng có thể được làm đơn giản? Và Phật không phải là người làm mọi sự phức tạp lên; ông ấy không phải là triết gia. Ông ấy là hiền nhân đã hiểu thấu. Ông ấy chỉ nói theo cách đơn giản nhất và rõ ràng nhất, không dùng bất kì biệt ngữ nào có thể tạo ra rối trí cho tâm trí mọi người. Toàn thể nỗ lực của ông ấy là để làm yên lòng tâm trí sao cho bạn có thể vượt ra ngoài nó một cách dễ dàng.
Và việc cầu có nghĩa là kêu gọi tâm trí, kêu gọi thường xuyên tới tâm trí về các qui tắc của kỉ luật và tuân theo chúng với tất cả sức mạnh của ông.
Và điều này Bồ đề đạt ma đã nói đi nói lại rằng không kỉ luật nào có thể đưa bạn tới phật tính được, rằng không qui tắc nào được cần. Điều duy nhất có thể có ích cho bạn là đơn giản nhận biết về quá trình suy nghĩ của mình, về tâm trí của mình.
... Cầu tên Phật, ông phải hiểu về pháp của việc cầu. Nếu nó không hiện diện trong tâm trí ông, mồm ông tụng cái tên trống rỗng. Chừng nào ông còn bị rắc rối với ba chất độc hay bởi các ý nghĩ về bản thân mình, tâm trí bị lừa dối của ông sẽ giữ ông không thấy được Phật... Nếu ông níu bám lấy các hình tướng trong khi tìm kiếm ý nghĩa, ông sẽ không tìm thấy điều gì. Vậy, các hiền nhân của quá khứ trau dồi nội quan chứ không lời nói.
Điều đó là tuyệt đối không đúng, bởi vì nội quan là gì ngoại trừ suy nghĩ bên trong? Và việc nói là gì ngoài việc đem việc suy nghĩ bên trong ra thành việc diễn đạt? Chúng là không khác biệt. Một đằng là bên trong. Trước hết bạn nội quan, bạn nghĩ, và thế rồi bạn đem nó ra: bạn có thể nghĩ từ Rama mà không nói nó ra và thế rồi bạn có thể nói, "Rama". Khác biệt là gì? Khác biệt chỉ là ở chỗ ban đầu bạn nói với chính mình. Nói với chính mình là nội quan còn nói với người khác là lời nói. Nội quan là độc thoại im lặng. Mọi người cứ làm điều đó mọi lúc - nó không liên quan gì tới hiền nhân cả. Thậm chí tội nhân cũng phải làm điều đó!
Điều bạn đang làm mọi lúc là gì ngoại trừ việc nội quan? Ngồi, bước đi, bạn liên tục suy nghĩ cả nghìn lẻ một thứ, nhưng chỉ vài điều bạn đưa tới việc diễn đạt. Nói rằng các hiền nhân của quá khứ đã trau dồi nội quan và không nói là không đúng bởi vì nếu các hiền nhân không nói ra, thế thì kinh sách của  bạn tới từ đâu, Veda của bạn tới từ đâu, Upanishad của bạn tới từ đâu? Và có một trăm linh tám kinh Upanishad. Koran linh thiêng của bạn tới từ đâu, và Kinh Thánh linh thiêng của bạn tới từ đâu? Talmud linh thiêng của bạn tới từ đâu, Dhammapada của Phật tới từ đâu? Và những lời của bản thân Bồ đề đạt ma tới từ đâu? Ông ấy đang nói và bàn về các hiền nhân, những người chỉ trau dồi nội quan và không nói ra.
Điều đó có nghĩa là mọi kinh sách thiêng liêng của bạn đều được viết ra bởi các tội nhân chứ không bởi các hiền nhân. Hiền nhân là người biết tới bản thân mình và người đó nói chỉ những điều hài hoà với kinh nghiệm bên trong của mình. Nếu người đó không thể tìm ra lời để diễn đạt nó, người đó giữ im lặng. Người đó không chống lại việc nói, người đó không thiên về im lặng. Người đó đã đi tới chỗ vượt ra ngoài ngôn ngữ, cho nên rất khó nói; những cũng khó để nội quan nữa, bởi vì bất kì cái gì có thể được nội quan đều có thể được nói ra.
Quan sát: nội quan là nói bên trong bản thân bạn - bạn đang dùng lời. Nếu bạn có thể dùng lời mà không nói, tại sao bạn không thể dùng cùng những lời đó trong việc nói? Cái mà không thể được nói ra, không thể được nội quan bởi vì chúng là hai mặt của cùng một đồng tiền.
Tâm trí này là cội nguồn của mọi đức hạnh.
Bây giờ tôi bất lực nhưng nói rằng đây là thuần khiết là vô nghĩa. Và nó là vô nghĩa tương ứng theo Bồ đề đạt ma. Trong lời kinh riêng của mình ông ấy đã nói rằng tâm trí này phải được siêu việt lên, rằng tâm trí này là tù túng của bạn, rằng tâm trí này phải được làm cho im lặng hoàn toàn, được trống rỗng. Nói cách khác bạn phải đạt tới vô trí.
Vô trí có thể là cội nguồn của mọi đức hạnh, nhưng không phải là tâm trí. Nếu tâm trí là cội nguồn của mọi đức hạnh, thế thì mục đích của vô trí là gì? Mọi đức hạnh chứa mọi đức hạnh. Chỉ tội lỗi còn lại. Phải chăng vô trí là cội nguồn của mọi tội lỗi? Phải chăng thiền là cội nguồn của mọi điều là tội lỗi trong bạn, vô đạo đức trong bạn, vô đức hạnh trong bạn? Bồ đề đạt ma đang không trong lí trí đúng của mình. Một khi ông ấy run rẩy, một khi ông ấy nói dối, ông ấy không có khả năng lấy lại được sự cân bằng của mình.
Tâm trí này là cội nguồn của mọi đức hạnh. Và tâm trí này là chủ cho mọi quyền năng.
Thế thì bản tính phật và quyền năng của nó thì sao?
Phúc lạc vĩnh hằng của niết bàn tới từ tâm trí lúc nghỉ.
Tại đây ông ấy đi tới chút ít gần với chân lí hơn nhưng không đích xác là chân lí. Tâm trí vào lúc nghỉ vẫn cứ là tâm trí. Niết bàn xảy ra vào cái chết của tâm trí, không vào lúc nghỉ ngơi của tâm trí, bởi vì tâm trí nghỉ bất kì lúc nào cũng có thể trở thành bất ổn. Tâm trí đơn giản phải ra đi. Chỉ thế bạn mới có thể chắc chắn về an bình tuyệt đối của bạn. Kẻ gây rối hoàn toàn đi khỏi. Kẻ gây rối nghỉ không có nghĩa là bạn thoát khỏi rắc rối. Kẻ gây rối có thể đơn giản nghỉ để thu được chút ít năng lượng để tạo ra nhiều rắc rối hơn. Nó có thể mệt mỏi - mọi người đều mệt mỏi.
Tôi đã sống trong một ngôi nhà cùng với một người bạn và đứa con anh ta liên tục gây phiền nhiễu. Bố nó mệt mỏi, mẹ nó mệt mỏi nhưng nó là đứa con duy nhất cho nên họ yêu nó lắm. Chỉ tôi là không mệt mỏi về nó. Họ hỏi tôi, "Có chuyện gì vậy? Nó không bao giờ quấy rầy thầy."
Tôi nói, "Tôi quấy rầy nó. Tôi gọi nó và nó không bao giờ tới gần tôi."
Anh ta nói, "Làm sao thầy quấy rầy nó được? Bởi vì nó là kẻ thường xuyên gây lo nghĩ, không bao giờ nghỉ, bao giờ cũng làm cái gì đó, làm rơi cái gì đó, làm vỡ cái gì đó, nhảy từ ghế tràng kỉ lên bàn. Nó không thể nào ngồi im lặng được."
Tôi nói, "Tôi sẽ chỉ cho bạn cách nó có thể ngồi im lặng."
Khi tôi đi vào nó nói, "Cháu sẽ ngồi im."
Bố nó nói, "Có chuyện gì vậy? Thầy chưa nói lời nào - chỉ mỗi việc tới của thầy là nó nói, 'Cháu sẽ ngồi im'".
Tôi sống trong một nửa ngôi nhà và họ dùng nửa kia ngôi nhà - nhưng cả hai được nối với nhau ở bên trong. Đứa trẻ thỉnh thoảng hay tới bên tôi và tôi thường bảo nó, "Nếu cháu muốn vào thì cháu phải trả giá cho điều đó."
Nó nói, "Cái gì?"
Tôi nói, "Tiền không phải là vấn đề. Ta sẽ bảo cháu điều cháu phải làm: trước hết cháu phải chạy quanh nhà bẩy lần" - đấy là một ngôi nhà lớn, bốn a đất - "bẩy lần đích xác, không ăn gian, không lừa nhau. Thế thì cháu có thể vào."
Sau bẩy vòng nó mệt thế, nó sẽ tới và chỉ đổ kềnh lên chiếc tràng kỉ. Tôi sẽ nói, "Cháu cảm thấy thế nào?"
Nó nói, "Cháu vẫn còn sống." Và thế rồi tôi sẽ tiếp tục công việc của mình còn nó thì chỉ nghỉ.
Thế là bố nó nói, "Đây là điều kì lạ... thầy chưa bao giờ bảo tôi - và nó đã hành hạ chúng tôi."
Tôi nói, "Tôi đã tìm ra cách thức với nó. Bất kì khi nào nó muốn gặp tôi hay tới với tôi, nó trước hết phải trả giá. Và bẩy vòng quanh nhà là đủ. Thế thì nó không đòi cái gì nữa, thế thì nó không ở vị trí để hỏi. Nó mệt thế, nó chỉ ngồi trên chiếc tràng kỉ và thông thường nhất là rơi vào giấc ngủ, và tôi tiếp tục công việc của mình."
Tâm trí lúc nghỉ là không đáng tin cậy. Tâm trí phải đi hoàn toàn tới điểm nó không thể quay lại được... tới điểm không có chỗ quay lại.
Tái sinh trong ba cõi giới cũng tới từ tâm trí. Tâm trí là cánh cửa tới mọi thế giới. Và tâm trí là chỗ cạn ở bờ bên kia.
Điều này không đúng bởi vì nếu tâm trí cũng là chỗ cạn cho bờ bên kia, thế thì dùng thiền làm gì? Mọi quyền năng thuộc vào tâm trí, mọi lời đều thuộc vào tâm trí, mọi phúc lạc vĩnh hằng của niết bàn đều tới từ việc nghỉ ngơi của tâm trí. Cái chỗ cạn ở bờ bên kia là của tâm trí - thế thì dùng thiền làm gì?
Thực ra, tâm trí không phải là chỗ cạn ở bờ bên kia: thiền là chỗ cạn. Và thiền bao giờ cũng có nghĩa là vô trí. Khi tâm trí cạn kiệt, cùng năng lượng đó mà đã tham gia vào tâm trí nay trở thành việc thiền của bạn.
Những người biết cánh cửa này ở đâu không lo nghĩ về việc đạt tới nó. Những người biết chỗ cạn này ở đâu không lo nghĩ về việc đi qua nó.
Những người ta gặp hôm nay trở đi đều nông cạn. Họ nghĩ tới công đức như cái gì đó có hình dạng. Họ lãng phí của cải của họ và làm thịt các sinh linh trên đất và trong biển... Họ thấy cái gì đó cảm thấy được và thường trở nên gắn bó. Nếu ông nói với họ về vô hình, họ ngồi đó câm lặng và lẫn lộn. Tham lam về những công đức nhỏ của thế giới này, họ vẫn còn mù quáng với những đau khổ lớn đang tới. Những đệ tử như vậy mang bản thân mình trong vô vọng. Chuyển từ cái thật sang cái giả, họ không nói về cái gì ngoài phúc lành tương lai.
Nếu ông có thể đơn giản tập trung ánh sáng bên trong của tâm trí mình và ngắm nhìn ánh sáng bên ngoài của nó, ông sẽ xua tan ba chất độc và hướng xa sáu tên trộm một lần cho tất cả.
Tôi đã bảo với các bạn rằng trong tiếng Anh không có từ có thể dịch cho dhyan. Có ba từ: từ thứ nhất là tập trung, là thấp nhất. Nó có nghĩa là hội tụ tâm trí bạn vào một điều hay một ý nghĩ. Nó là có ích trong khoa học; thực ra không có tập trung thì sẽ không có khoa học chút nào. Khoa học là sản phẩm phụ của tập trung.
Từ thứ hai trong tiếng Anh là suy tư, cao hơn tập trung. Suy tư có nghĩa là nghĩ về một chủ đề nào đó - không phải là một suy nghĩ, mà là một luồng suy nghĩ chứa đựng về cùng một chủ đề. Chẳng hạn, ai đó đang nghĩ về ánh sáng. Thế thì người đó cứ nghĩ mãi về ánh sáng, tốc độ của nó, sự phân chia của nó thành bẩy mầu và mọi khả năng của nó - toàn thể vật lí về ánh sáng. Triết học nảy sinh ra từ suy tư, cũng như khoa học nảy sinh từ tập trung.
Và từ thứ ba trong tiếng Anh là meditation, trầm tư, là cao nhất. Nhưng vậy mà nó vẫn không tương đương với dhyan, hay chữ Trung Quốc ch'an, hay chữ Nhật Bản zen, những cách phát âm khác nhau cho từ tiếng Phạn dhyan.
Dhyan có nghĩa là vô trí. Trong tập trung, tâm trí tập trung. Trong suy tư, tâm trí suy tư. Trong trầm tư, tâm trí trầm tư. Nhưng trong dhyan, tâm trí đơn giản biến mất. Dhyan là im lặng bên ngoài tâm trí. Người đã dịch những lời kinh này đã dùng từ thấp nhất trong tiếng Anh - tập trung - cho dhyan.
Đây là vấn đề với dân ngôn ngữ - những người biết tới ngôn ngữ. Họ dịch sách từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, nhưng đặc biệt khi phải dịch thơ ca vấn đề trở thành khó khăn hơn. Và nếu đấy là vấn đề dịch phát biểu của ai đó, người đã đạt tới chứng ngộ, thế thì việc đó thậm chí càng trở nên khó khăn hơn.
Nhưng vấn đề là ở chỗ những người đã đạt tới chứng ngộ không còn quan tâm tới việc dịch sách của bất kì ai nữa. Họ thậm chí không quan tâm tới việc viết sách riêng của họ, họ thích tận hưởng im lặng của họ và cực lạc của họ nhiều thế. Nếu họ muốn truyền đạt bất kì cái gì, họ dùng lời được nói ra, bởi vì lời nói ra có hơi ấm và tính sống. Và lời nói ra có cái gì đó của người đang nói ra nó. Nó tới từ trái tim người đó. Nó mang hương vị nào đó của bản thể người đó. Nó cũng mang ánh sáng nào đó, uyên thâm nào đó điều bị mất đi trong lời viết ra. Do đó, không người chứng ngộ nào đã từng viết ra một lời.
Nếu ông có thể đơn giản tập trung ánh sáng bên trong của tâm trí mình và ngắm nhìn ánh sáng bên ngoài của nó, ông sẽ xua tan ba chất độc và hướng xa sáu tên trộm một lần cho tất cả.
Chỉ thay đổi từ tập trung thôi. Nếu bạn có thể thiền - và thiền phải được hiểu theo cùng nghĩa như dhyan - nếu bạn có thể mang vô trí của mình vào vận hành, thế thì tất cả đều là ánh sáng, thế thì tất cả đều là vui mừng.
Và không nỗ lực nào ông thu được sở hữu của một số vô hạn đức hạnh, hoàn hảo và cánh cửa tới chân lí. Thấy qua cái tầm thường và chứng kiến siêu phàm còn ít hơn một cái nháy mắt.
Cuối cùng vào chỗ cuối ông ấy quay lại với trạng thái nguyên thuỷ của mình. Trong câu này ông ấy lại là Bồ đề đạt ma mà chúng ta đã bắt đầu.
Thấy qua cái tầm thường và chứng kiến siêu phàm còn ít hơn một cái nháy mắt. Việc nhận ra là bây giờ. Tại sao lo nghĩ về tóc xám?
Tại sao lo nghĩ về ngày mai và tuổi già?
Nhưng cánh cửa đúng bị giấu kín và không thể nào được lộ ra.
Đây là tất cả những gì ông ấy cần nói vào lúc ông ấy được hỏi dốt nát nảy sinh từ đâu. Cứ đi lòng vòng, lòng vòng và đến cuối ông ấy xoay xở để đi tới điểm đó. Cánh cửa, cánh cửa đúng, bị giấu kín và không thể nào được lộ ra.
Ta chỉ chạm vào việc ngắm nhìn tâm trí.
Giá như ông ấy chỉ nói hai câu này vào lúc đó - và bất kì cái gì ông ấy đã nói ở giữa đều được vứt đi - lời kinh của Bồ đề đạt ma sẽ vẫn còn là tuyệt đối thuần khiết, thuần khiết không chê vào đâu được. Nhưng tôi đã làm rõ ràng cho bạn, cho nên bạn có thể chọn cái gì là đúng và cái gì là chán ngắt nhiều thế.
Cái mà sẽ giúp cho bạn trong thiền là đúng, và cái chỉ là siêu hình không cần thiết, triết lí, không có tính hợp thức gì và không có ích lợi gì cho thiền của bạn.
Theo một cách nào đó tôi cảm thấy hạnh phúc rằng bởi ngẫu nhiên mà kinh này đã đi tới được thảo luận và các bạn đã thấy cả hai phía. Nó sẽ giúp cho bạn vẫn còn nhận biết - nhận biết rằng ngay cả tại đỉnh cao nhất của chứng ngộ của mình, bạn có thể vẫn phạm phải sai lầm, bạn vẫn có thể lạc lối, bạn vẫn có thể nói những điều ngu xuẩn. Vấn đề là ở chỗ tôi không thể dung thứ cho bất kì cái gì không phải là tốt nhất. Tôi muốn các bạn biết chỉ cái tốt nhất, kinh nghiệm cái tốt nhất, chỉ là vàng ròng hai mươi tư cara, không ô nhiễm, không pha trộn, chỉ hoàn toàn thuần khiết.
Cũng tốt để nói về những lời kinh này, bởi vì tôi có thể cứ nói cho bạn cái gì không đúng và cái gì đúng. Bạn có thể đọc nhiều sách, bạn có thể nghe nhiều người. Quan sát cho rõ. Mọi ngày tôi đều nhận được thư từ các sannyasin nói, "Tôi đã gặp vị thánh nào đó, guru nào đó..." và tôi biết những kẻ đó chỉ là kẻ ngốc. Họ viết cho tôi, "Chúng tôi rất ấn tượng," còn tôi đơn giản nói, "Trời!"
Tôi đã làm việc với những người đó thật vất vả để làm cho mọi điểm nhỏ nhặt hoàn toàn rõ ràng, và bất kì kẻ ngốc nào cũng có thể gây ấn tượng lên họ! Họ dường như có nhận biết và sự sáng tỏ và năng lực cho phân biệt.
Một trong những kinh sách vĩ đại của Ấn Độ là Brahmasutra của Badarayana. Ông ấy đã mô tả khả năng sắc bén để phân biệt như điều đầu tiên đệ tử cần. Tôi có thể thấy tại sao Badarayana đã làm phân biệt như điểm đầu tiên của ông ấy - để thấy cái gì là sai và thấy cái gì là đúng, để cảm cái gì là thực và để cảm cái gì chỉ là đạo đức giả. Bạn đã bao giờ thấy giáo hoàng Cơ đốc giáo chưa? Có lẽ nhiều người trong các bạn đã thấy ông ấy hay gặp ông ấy và phần lớn trong các bạn đã thấy ảnh ông ấy. Các bạn có thấy cái gì cho bạn chỉ dẫn rằng người này là đại diện của Thượng đế không? Ông ấy có thể là người bán hàng cho bất kì công ti giầy nào... nhưng không là đại diện của Thượng đế! Ông ấy nên ít nhất cũng một lần nhìn vào gương và bản thân ông ấy sẽ nhận ra, “Trời, sao ngài đã chọn con? Ngài không thể tìm được thằng ngốc nào khác sao? Trong thế giới lớn lao này, tại sao ngài đã chọn cái thằng tôi đáng thương này?”
Tôi đã nghe nói về một người Do Thái già sắp chết. Ông ta ú ớ điều gì đó, cho nên mọi người trong gia đình ông ấy tới gần để nghe điều ông ấy ú ớ vào lúc ông ấy chết. Ông ấy đang nói với Thượng đế, “Thượng đế ơi, chỉ một yêu cầu thôi. Chúng con là những người đã được chọn lựa của ngài trong bốn nghìn năm. Thế là đủ rồi. Ngài không thể chọn được ai đó khác bây giờ sao? Nếu ngài không chọn chúng con, chúng con chắc đã không khổ nhiều thế. Bây giờ xin làm ơn đi; nghe những lời cuối cùng của một ông già sắp chết. Đây là lúc cho ngài chọn ai đó khác làm người được chọn của ngài và giải thoát cho chúng con khỏi gánh nặng đó. Chúng con liên tục bị nghiền nát.”
Nhìn giáo hoàng của bạn mà xem, nhìn các shankaracharyas của bạn, nhìn Ayatollah Khomeini của bạn, nhìn các sư Jaina, các sư Phật giáo, và bạn sẽ ngạc nhiên rằng những người này không có sự hiện diện của người đã thức tỉnh. Họ không có những lời tới từ một cội nguồn kinh nghiệm có thẩm quyền, nhưng bạn trở nên bị ấn tượng bởi bất kì loại vô nghĩa nào.
Và điều này đã xảy ra trong hàng thế kỉ. Đây là lúc nó nên chấm dứt. ít nhất mọi người nên có đủ tính thiền đến mức người đó có thể phân biệt giữa người đang là mũi tên hướng tới chân lí tối thượng và việc hiểu nó, và người đơn giản giả vờ.
Những lời kinh này là bài tập tốt cho bạn thấy cách phân biệt. Rất tỉnh táo vào. Bị ấn tượng một cách dễ dàng là khờ dại. Đừng khờ dại, bằng không bạn sẽ bị khai thác. Đừng khờ dại là điều Badarayana ngụ ý qua tính chất phân biệt, tỉnh táo, nhận biết. Không vội vàng gì mà bị ấn tượng bởi bất kì ai. Chờ đợi, quan sát, nhìn nó từ mọi khía cạnh, và nếu trái tim bạn bắt đầu rung lên tiếng chuông, thế thì đấy là vấn đề khác. Nhưng nếu đấy chỉ là tâm trí bạn đang nói, “Mình đã tìm thấy thầy đúng,” cảnh giác về tâm trí bạn.
Tâm trí của bạn là kẻ thù lớn nhất.
Được chứ, Maneesha? Vâng, thưa Osho
Kết thúc quyển ‘Bồ Đề Đạt Ma: Thiền sư vĩ đại nhất’ - Quay về Mục lục

Thưởng thức bí ẩn trong chiều sâu trái tim bạn

Osho – Bồ Đề Đạt Ma: Thiền sư vĩ đại nhất
Chương 19: Thưởng thức bí ẩn trong chiều sâu trái tim bạn



Osho kính yêu,
Xuyên qua lời kinh này, Phật nói cho người hữu tử họ có thể đạt tới chứng ngộ bằng việc thực hiện các việc công đức như xây tu viện, đúc tượng, thắp hương, rải hoa, thắp đèn vĩnh cửu, công phu cả sáu thời kì ngày và đêm, bước đi quanh stupas, thường xuyên nhịn ăn và tôn thờ. Nhưng nếu ngắm nhìn tâm trí bao gồm mọi thực hành khác, thế thì những công việc như vậy sẽ dường như là thừa.
Lời kinh của Phật chứa vô lượng biểu dụ. Bởi vì người hữu tử có tâm trí nông cạn và không hiểu cái gì sâu sắc, nên Phật dùng cái thấy được để biểu thị cho cái siêu phàm. Những người tìm kiếm phúc lạc bằng việc tập trung vào những công việc ngoài thay vì trau dồi bên trong là đang cố gắng điều không thể được.
Điều ông gọi là tu viện, chúng ta gọi là sangharama, chỗ của thuần khiết. Nhưng bất kì ai từ chối việc vào của ba chất độc và bế cổng các giác quan của mình cho thuần khiết, thân thể và tâm trí người đó tĩnh lặng, bên trong và bên ngoài sạch sẽ, là xây dựng tu viện.
Đúc tượng nói tới mọi thực hành được trau dồi bởi những người tìm kiếm chứng ngộ...
Và thắp hương không có nghĩa hương vật chất thông thường mà là hương của Pháp không thấy được, cái xua đi những hành vi thô bỉ, dốt nát và ác độc theo hương của nó...
Khi Phật còn trong thế giới này, ông ấy bảo các đệ tử thắp sáng hương quí giá như thế bằng ngọn lửa của nhận biết xem như việc cúng dường chư phật mười phương. Nhưng những người ngày nay không hiểu nghĩa thực của Như Lai. Họ dùng ngọn lửa thường để thắp sáng hương vật chất của gỗ đàn hương hay hương trầm để hi vọng phúc lành tương lai nào đó không bao giờ tới cả.
Với việc rải hoa cũng điều đó là đúng. Điều này nói tới việc nói Pháp, hay tới việc rải hoa đức hạnh, để làm lợi cho người khác và làm vinh quang cho cái ta thực...
Nếu ông nghĩ Như Lai có nghĩa với người làm hại cây cối bằng việc cắt nụ của chúng đi, ông sai. Những người gìn giữ giới luật không làm tổn thương bất kì dạng sống quí giá nào của trời và đất. Nếu ông lầm lẫn làm tổn thương cái gì đó, ông sẽ đau khổ vì nó. Nhưng những người cố ý vi phạm giới luật bằng việc làm tổn thương cái sống với mục đích được phúc lành tương lai phải chịu đau khổ thậm chí nhiều hơn. Làm sao họ có thể để cho phúc lành đáng có biến thành nỗi buồn được?
Đèn vĩnh hằng biểu thị cho nhận biết hoàn hảo.
... Rất lâu trước đây, đã có vị Phật tên là Dipamkara, hay Người thắp đèn. Đây là ý nghĩa của tên người đó... Ánh sáng do vị phật phát ra từ một xoáy giữa trán của ông ấy có thể chiếu sáng vô lượng thế giới. Đèn dầu không ích gì...
Việc công phu cả sáu thời kì của ngày và đêm có nghĩa là trong sáu giác quan thường xuyên trau dồi chứng ngộ và gìn giữ trong mọi dạng của nhận biết. Đừng bao giờ thảnh thơi việc kiểm soát trên sáu giác quan là điều được ngụ ý bởi sáu thời kì.
Còn với việc bước quanh stupas, stupas là thân thể và tâm trí ông. Khi nhận biết của ông đi quanh thân thể và tâm trí ông không dừng, điều này được gọi là bước quanh stupa...
Cùng điều đó cũng đúng cho việc gìn giữ nhịn ăn... Nhịn ăn nghĩa là... điều hoà thân thể và tâm trí ông để cho chúng không bị phân tán hay rối loạn.
Cũng thế, một khi ông dừng việc ăn thức ăn ảo tưởng, nếu ông chạm tới nó lần nữa, ông sẽ phá vỡ việc nhịn ăn của mình. Và một khi ông phá vỡ nó, ông không gặt hái gì được phúc lành từ nó. Thế giới đầy những người bị ảo tưởng không thấy điều này. Họ ham mê thân thể và tâm trí mình theo đủ mọi cách quái quỉ. Họ buông lỏng cho sự đam mê của mình và không xấu hổ. Và khi họ dừng ăn thức ăn thông thường, họ gọi đấy là nhịn ăn. Ngớ ngẩn làm sao!
Điều ấy cũng tương tự như việc tôn thờ. Ông phải hiểu nghĩa và chấp nhận điều kiện. Nghĩa bao gồm hành động và vô hành động...
Tôn thờ nghĩa là tôn kính và khiêm tốn. Nó nghĩa là trở về cái ta thực của ông và hạ thấp ảo tưởng. Nếu ông có thể chùi sạch các ham muốn ác và nuôi dưỡng ý nghĩ tốt, ngay cả không cái gì được gieo, đấy là tôn thờ...
Những người không trau dồi nghĩa bên trong và thay vào đó tập trung vào cách diễn đạt bên ngoài không bao giờ dừng mê đắm trong dốt nát, hận thù và ác độc trong khi làm cạn kiệt mình vô ích. Họ có thể lừa dối người khác bằng cử chỉ, vẫn còn không xấu hổ trước các hiền nhân và rỗng tuếch trước người hữu tử, nhưng họ không bao giờ thoát khỏi Bánh xe, dù đạt được công đức nhiều hay ít.
Tôi thấy bị tổn thương sâu sắc phải nói rằng Bồ đề đạt ma đã bị lão suy. Ông ấy đã đi tới mức vĩ đại tới điểm khi câu hỏi được hỏi, "Dốt nát từ đâu tới?" Nhưng ông ấy đã bị lạc lối. Điều đó thường xảy ra... nếu bạn nói dối một lần, phải nói dối một nghìn lẻ một lần nữa; mỗi lời nói dối lại cần lời nói dối khác để bảo vệ nó - và vậy mà nó vẫn còn không được bảo vệ. Thay vì một lời nói dối, bây giờ bạn phải bảo vệ hai lời nói dối, nhưng lời nói dối không thể được chân lí bảo vệ - cho nên bạn đem tới lời nói dối thứ ba. Và đây là chuỗi vô tận.
Đó là điều đã xảy ra cho Bồ đề đạt ma bởi vì ông ấy đơn giản không thể nói "Tôi không biết". Bây giờ ông ấy trong thế khó xử: bất kì cái gì được hỏi, ông ấy đều phải đưa ra câu trả lời nào đó - dù ông ấy biết hay không. Và có những điều không thể nào biết được bởi chính bản chất của chúng. Cho nên đáng thì không có thảm hoạ chút nào nếu chấp nhận rằng đây là câu hỏi tối thượng và câu hỏi tối thượng không thể trả lời được - dù bởi Bồ đề đạt ma hay bởi bất kì ai khác, quá khứ, hiện tại hay tương lai.
Điều tối thượng bao giờ cũng vẫn còn là bí ẩn. Bạn không thể giải bí ẩn của nó bằng việc đưa ra câu trả lời. Khoảnh khắc bạn đối diện với điều tối thượng, bạn đơn giản phải giống như đứa trẻ, hồn nhiên. Tận hưởng việc ngạc nhiên về nó, sung sướng với bí ẩn của nó trong chiều sâu của trái tim bạn. Để cho nó đạt tới im lặng của bản thể bạn. Để cho nó thấm vào bạn và biến đổi bạn. Vấn đề không phải là hỏi về, hay trông đợi bất kì câu trả lời nào.
Nhưng Bồ đề đạt ma đã lấy chỉ một bước sai, và bây giờ ông ấy đang đi xuống sự kiệt quệ. Mỗi ngày ông ấy lại phải tạo ra những lời nói dối không cần thiết. Thỉnh thoảng ông ấy nói điều gì đó đúng, nhưng bây giờ khối lượng chân lí cứ ít dần đi còn lời nói dối đang trở nên ngày càng nhiều hơn, số lượng của chúng cứ tăng lên.
Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng một người như Bồ đề đạt ma không đủ dũng cảm để đơn giản nói, "Xin tha thứ cho tôi, tôi không biết", đối với câu hỏi tối thượng. Nếu ông ấy đã nói điều đó và dừng lại ở đó, ông ấy đã vượt lên trên hàng triệu nhà huyền môn về tầm cao, chiều sâu, về độ lớn.
Nhưng tôi có thể hiểu được vấn đề: ông ấy đã không muốn làm thất vọng các đệ tử mình, ông ấy đã không muốn làm thất vọng người Trung Quốc. Ông ấy đã không muốn nói với họ rằng có những câu hỏi nền tảng thậm chí người chứng ngộ không thể trả lời được. Cho nên ông ấy cứ bịa ra điều hư huyễn. Ông ấy không thể nói rằng Phật là sai, cho nên ông ấy phải tạo ra những câu trả lời kì lạ không khớp chút nào với điều Phật nói - và chúng cũng không khớp tuyệt đối với điều bản thân Bồ đề đạt ma đã nói trước đó. Toàn thể giáo huấn của ông ấy là về nhận biết tâm trí và đi vượt ra ngoài tâm trí, và điều đó là tuyệt đối hoàn hảo. Không cái gì cần được thêm vào nó.
Bây giờ ông ấy đang trả lời những câu hỏi một cách miễn cưỡng, nhưng ông ấy không thể dừng lại được. Cần phải có dũng cảm mênh mông để bỏ qua các câu hỏi của đệ tử bạn và đơn giản nói rằng đây không phải là câu hỏi bởi vì nó là điều tối thượng. Ông ấy đã cố gắng theo đủ mọi cách để thoả mãn cho các đệ tử và để thoả mãn cho người Trung Quốc rằng người chứng ngộ biết mọi điều.
Thực tại lại không thế. Bạn càng trở nên chứng ngộ hơn, bạn lại càng biết ít hơn. Tại đỉnh tối thượng của chứng ngộ, bạn đơn giản biết tới bản thân mình... và không cái gì khác. Nhưng tại đỉnh đó, bản thân bạn là toàn thể vũ trụ.
Tôi sẽ nói cho các bạn chỗ ông ấy vẫn còn đúng - bởi vì ông ấy biết chân lí là gì - nhưng ông ấy đang thoả hiệp. Ông ấy không là người nổi dậy, ông ấy là người làm yên lòng. Ông ấy không muốn nói một lời nào làm quấy rối các Phật tử mới chuyển đạo ở Trung Quốc. Mọi sự đáng ra tốt lành nếu như ông ấy vẫn còn ở Ấn Độ và không bao giờ đi sang Trung Quốc. Tại đây ông ấy sẽ là cái ta thực của mình; không có nhu cầu thậm chí xem xét tới người khác. Khoảnh khắc bạn bắt đầu xem xét tới người khác, bạn tụt xuống từ tầm cao.
Khi có liên quan tới tôi, cam kết tuyệt đối của tôi là hướng tới chân lí. Cho dù tôi có chọc giận và làm khó chịu cả thế giới, tôi cũng sẽ không nói điều gì chỉ để an ủi họ, và tôi sẽ không nói điều gì đi ngược lại kinh nghiệm của tôi về chân lí. Mọi người đã từng hỏi tôi, "Tại sao cả thế giới lại chống thầy?" Thế giới không chống tôi. Tôi chống lại thế giới bởi vì tôi đã chọn chân lí. Và tôi sẽ chỉ nói điều tuyệt đối là kinh nghiệm của tôi. Tôi sẽ không thoả hiệp theo bất kì cách nào, với bất kì lí do gì về bất kì cái gì.
Nhưng Bồ đề đạt ma đã bắt đầu thoả hiệp. Ông ấy có thể đã được mọi người tôn thờ bởi vì ông ấy ai ủi họ, nhưng trong con mắt tôi ông ấy đã đánh mất sự huy hoàng của mình; ông ấy đã đánh mất cái đẹp và thông minh của mình. Ông ấy đã đi xuống quá thấp để được mọi người hiểu.
Đây là câu hỏi của một đệ tử.
Xuyên qua lời kinh này, Phật bảo cho người hữu tử họ có thể đạt tới chứng ngộ bằng việc thực hiện các việc công đức như xây tu viện, đúc tượng, thắp hương, rải hoa, thắp đèn vĩnh cửu, công phu sả sáu thời kì ngày và đêm, bước đi quanh stupas... Stupas là mồ của những người chứng ngộ cổ đại... thường xuyên nhịn ăn và tôn thờ.
Thực ra, toàn thể lời kinh này là bịa đặt của phái Đại Thừa Phật giáo. Phật chưa bao giờ nói bất kì điều gì như thế, và nếu ông ấy nói điều đó ông ấy sai. Điều đó phải đã là cách tiếp cận đơn giản của Bồ đề đạt ma, bởi vì thậm chí vào lúc chết của mình, lời cuối cùng của Phật là, "Đừng làm tượng ta."
Và bạn đã nghe thấy Bồ đề đạt ma ngay lúc đầu nói, "Chư phật không thể tôn thờ chư phật". Không có nhu cầu, và điều đó thực sự là đáng xấu hổ. Bạn có cùng phẩm chất tâm thức bên trong mình, bạn chỉ chưa phát hiện ra nó. Ai đó khác đã phát hiện ra nó, nhưng khi liên quan tới việc có cả bạn và người đó đều có nó theo cùng cách.
Bồ đề đạt ma nhắc tới tên của Dipamkara. Ông ấy là vị cổ phật trước Phật Gautam rất lâu, và trong thời của Dipamkara Phật Gautam còn là một người bình thường. Chỉ vì tò mò mà ông ấy đã tới gặp Dipamkara. Vị phật này đã được mang tên Dipamkara bởi vì sự hiện diện của ông ấy mang tính truyền nhiễm tới mức những người đến gần ông ấy một cách hồn nhiên lập tức bắt được cái gì đó vô hình, dường như một ngọn lửa đã nhảy từ Dipamkara vào trái tim họ, vẫn hoàn toàn tăm tối, và bây giờ có ánh sáng. Do đó cái tên, Phật Dipamkara, được trao cho ông ấy - một người thắp sáng lên ngọn đèn còn chưa sáng của người khác chỉ bởi sự hiện diện của người đó.
Phật Gautam còn chưa chứng ngộ vào lúc đó nhưng ông ấy đã tới chỉ vì tò mò, giống như đứa trẻ nhỏ, đến xem điều đang xảy ra, tại sao nhiều người thế tới đó. Tò mò của ông ấy là hồn nhiên. Ông ấy đã không tới để đạt đến tri thức hay chứng ngộ, hay bất kì cái gì. Không có tham lam trong đó, không có tham vọng trong đó. Đấy đơn giản là ngạc nhiên. Ông ấy đã nghe nói rằng mọi người tới Dipamkara... chỉ ngồi im lặng với ông ấy, cái gì đó đã truyền qua, và họ trở về nhà hoàn toàn là người khác. Hành động của họ thay đổi, cách sống của họ thay đổi. Họ trở nên đáng yêu hơn, từ bi hơn, tham lam biến mất, tham vọng biến mất, giận dữ biến mất. Họ trở thành các cá nhân đẹp và toả hương thơm đến mức Phật muốn gặp con người này... con người này là một điều ngạc nhiên. Ông ấy không làm gì, vậy mà...
Thầy chưa bao giờ làm cái gì cả. Toàn thể công việc của thầy là bằng cách nào đó đem bạn lại gần... gần như khi bạn đem một chiếc nến đang cháy với một ngọn lửa tới gần một chiếc nến khác còn chưa cháy. Có một điểm nào đó khi chiếc nến chưa cháy sẽ bắt lửa từ ngọn lửa của chiếc nến đang cháy. Chiếc nến đang cháy sẽ không mất cái gì cả, nhưng chiếc nến chưa cháy sẽ thu được kho báu cực kì lớn lao. Chưa cháy, nó là chết, còn khi ngọn lửa bắt đầu, cuộc sống tới với nó. Bây giờ nó cũng có thể xua tan bóng tối theo cùng cách như chiếc nến đầu đã làm.
Dipamkara là con người như vậy; thực ra mọi thầy vĩ đại đều là con người như vậy. Bất kì điều gì xảy ra quanh người đó đều không do người đó làm. Bất kì điều gì được làm chỉ để đem bạn tới gần, để làm cho bản thân ông ấy thành có sẵn cho bạn và là một bí ẩn với bạn, để cho không có việc biết của bạn, bạn vẫn bị hút về như thanh nan châm hút mọi thứ... và tại một khoảng cách nào đó, bỗng nhiên bạn bị bắt lửa. Con người cũ chết đi, và con người mới được sinh ra.
Lời kinh này tuyệt đối sai. Đấy không phải là phát biểu của Phật Gautam, bởi vì con người của hiểu biết của ông ấy không thể bảo mọi người rằng họ có thể đạt tới chứng ngộ bằng việc thực hiện các việc công đức như xây tu viện, đúc tượng, thắp hương... Bạn có thể thấy mối nối nào giữa chứng ngộ và việc thắp hương không? Bạn có thể đốt cả núi hương... không có mối quan hệ logic nào với việc bạn trở nên chứng ngộ cả. Bạn có thể bị nặng gánh, đó là điều duy nhất. Làm tu viện... và bạn không phải là sư! - bạn làm tu viện cho những kẻ ngu khác trở thành sư. Làm sao điều đó trở thành chứng ngộ của bạn được? Phật Gautam đã làm bao nhiêu tu viện trước khi ông ấy trở nên chứng ngộ? Ông ấy đã thắp bao nhiêu hương? Ông ấy đã rải bao nhiêu hoa? Ông ấy đã thắp bao nhiêu ngọn đèn vĩnh cửu?
Không! Phát biểu này không phải của Phật Gautam chút nào. Nó là bịa đặt của phái Đại Thừa, một tín ngưỡng và học thuyết nào đó. Và có lí do lịch sử tại sao những điều như vậy được tạo ra. Phật là người rất trung thực. Ông ấy nói bất kì cái gì cũng đúng - bất kì hệ quả nào. Chẳng hạn, ông ấy nói, "Mọi kẻ sĩ, học giả và brahmin đều là kẻ ngốc - và họ là kẻ ăn bám. Trong hàng thế kỉ, họ đã hút máu mọi người." Ông ấy gọi Veda "chỉ là rác rưởi". Và Veda đã được người Hindu kính trọng đến mức bất kì ai gọi chúng là rác rưởi phải có dũng cảm lớn. Ông ấy đã không chấp nhận bất kì avatara Hindu nào, bất kì hoá thân Hindu nào, có bất kì giá trị gì.
Chẳng hạn, Parasurama là một trong các hoá thân Hindu của Thượng đế. Ông ấy là con của một người được coi là người thấy lớn, nhưng ông ấy đã nghi ngờ... như mọi ông chồng đều nghi ngờ về vợ mình, và mọi bà vợ đều tự động nghi ngờ chồng mình. Đó là mối quan hệ duy nhất của họ. Cuối cùng người bố trở nên bị thuyết phục bởi nghi ngờ của ông ấy - điều có thể có nền tảng hay có thể không có nền tảng nào, ông ấy không thể chắc chắn về điểm này - đến mức ông ấy đã ra lệnh cho con mình, Parasurama, chặt đầu mẹ mình và đem về cho ông ấy. Và Parasurama đã đi, không hỏi tại sao. Đấy không phải là việc nhỏ! Ông ấy đã chặt đầu mẹ mình và đem về cho bố mình.
Thế rồi người bố bảo ông ấy, "Ta đã nghi ngờ bà ấy, nhưng bây giờ ta có bằng chứng chắc chắn rằng bà ấy có yêu một người là một chiến binh vĩ đại." Parasurama và gia đình mình thuộc về đẳng cấp brahmin. Parasurama nói, "Bố đừng lo. Con sẽ không để một người nào thuộc đẳng cấp chiến binh sống."
Câu chuyện này có thể bị phóng đại, nhưng nó chỉ ra phẩm chất của con người này. Nó chỉ ra rằng ông ta đã giết mọi chiến binh của toàn thế giới nhiều, nhiều lần. Và từ đâu mà những chiến binh mới này tới? Xã hội Hindu chấp nhận một điều rất kì lạ, và không ai đã bao giờ xem xét tới... Họ cứ nói rằng họ có văn hoá lớn, nhưng họ không bao giờ nhìn vào nền tảng của nó; văn hoá của họ chỉ là cái tên giả.
Xã hội Hindu chấp nhận rằng nếu một phụ nữ tới một người thấy brahmin và yêu cầu rằng cô ấy được cho đứa con, thế thì nghĩa vụ của người thấy brahmin là làm tình với người đó và làm cho cô ấy có mang. Ông ta không thể bác bỏ cô ấy được. Cho nên Parasurama đã tới chặt đầu các chiến binh; các bà vợ goá bỏ đi, và họ tới những ngươi thấy... Đấy là việc kinh doanh tốt, một âm mưu lớn!
Cả đất nước này ở trong trạng thái mãi dâm, và Parasurama giết người. Việc bạo hành như vậy không thể được chấp nhận như phẩm chất của Thượng đế. Và điều đó dường như là phi logic... Nếu mẹ ông ấy đi yêu một chiến binh, ông ấy có thể chỉ giết ông này - chúng ta có thể chấp nhận vài nhân nhượng, bởi vì ông ấy đã được người Hindu coi là hoá thân của Thượng đế. Nhưng giết mọi chiến binh của thế giới, thậm chí không chỉ ở nước này, dường như không có logic nào đằng sau nó. Và không chắc chắn rằng điều bố ông ấy nói... Parasurama nên yêu cầu bằng chứng, chứng minh. Bố ông ấy có thể chỉ là người ghen tuông.
Bây giờ Phật không thể nào chấp nhận Parasurama là hoá thân của Thượng đế, và nếu Parasurama mà là hoá thân của Thượng đế thế thì ai sẽ là hoá thân của quỉ? Phật không thể chấp nhận Rama là hoá thân của Thượng đế bởi vì Rama đã giết một tiện dân, một thanh niên, bằng việc đổ chì lỏng nóng vào tai người đó bởi vì người đó đã lắng nghe vài brahmin trích đọc Veda khi trốn sau cây. Tiện dân không được phép đọc; họ thậm chí không được phép nghe! Cái loại văn hoá gì mà nước này đã tạo ra vậy, nơi một phần tư dân số thậm chí không được nghe kinh sách tôn giáo của nó?
Và bởi vì người thanh niên này, chỉ do tò mò mà trốn sau cây, đã nghe... Anh ta không thể nào hiểu được nó, bởi vì đấy là tiếng Phạn, và tiếng Phạn chưa bao giờ là ngôn ngữ của mọi người. Nó bao giờ cũng là ngôn ngữ của tu sĩ - chỉ của tu sĩ. Cho nên cho dù người đó có nghe người đó đã không hiểu gì cả. Và bạn cho rằng đó là tội lỗi sao? Liệu có đáng huỷ hoại một thanh niên bằng việc đổ chì lỏng sôi vào tai người đó không, bởi vì người đó đã phạm một tội lỗi là nghe kinh Veda? Và người đó chết...
Phật không thể nào chấp nhận được Rama, và ông ấy không thể nào chấp nhận Krishna, một người điên khùng đến mức người đó đã tuyển lựa mười sáu nghìn đàn bà... bất kì đàn bà nào ông ấy yêu đều bị cướp khỏi gia đình cô ấy. Cô ấy có thể còn trinh, cô ấy có thể đã có gia đình, cô ấy có thể đã có con, cô ấy có thể đã có chồng, cô ấy có thể phải chăm nom bố chồng già, mẹ chồng già. Mười sáu nghìn đàn bà đã đơn giản bị lính của ông ấy cướp đi. Họ đã bị đối xử cứ như là trâu bò - và tôi không biết liệu ông ấy thậm chí có nhớ nổi tên của mười sáu nghìn đàn bà ấy không. Nhưng ông ấy có quyền lực, và ông ấy có quân đội lớn và ông ấy là vị vua lớn. Phật không thể nào chấp nhận được những điều vô nghĩa như vậy, con người biến chất như vậy, là hoá thân của Thượng đế.
Phật là người rất trung thực. Ông ấy nói, "Mọi tượng, mọi chùa chiền, tất cả Veda đều là bịa đặt của giới tăng lữ ranh ma để khai thác mọi người." Làm sao ông ấy có thể bảo người của ông ấy rằng họ có thể đạt tới chứng ngộ bằng xây tu viện, đúc tượng, thắp hương, rải hoa, thắp đèn vĩnh cửu, công phu cả sáu thời kì ngày và đêm, bước đi quanh stupas thường xuyên nhịn ăn và tôn thờ?
Phật chống lại tôn thờ, ông ấy chống lại tượng. Lời cuối cùng của ông ấy trước khi chết là, "Lần nữa ta nhắc các ông: đừng làm tượng ta, đừng tạo ra chùa chiền nhân danh ta, đừng bắt đầu tôn thờ ta bởi vì việc tôn thờ không đưa các ông tới đâu cả. Ta đã chỉ ra cho các ông con đường của thiền - thiền đi. Và cho dù trong việc thiền của các ông ta xuất hiện, đừng ngần ngại. Lập tức chặt đầu ta đi." Một người có thể nói điều này... bạn có cho rằng lời kinh này là có thể bắt nguồn từ người đó không?
Bồ đề đạt ma có thể đơn giản đã nói, "Đây không phải là lời của Phật." Nhưng ông ấy đã không nói điều đó. Đó là nơi ông ấy đi xuống trong mắt tôi.
Ông ấy đã không nói điều đó bởi vì ở Trung Quốc, Phật tử đang cố gắng làm nhiều tu viện, nhiều đền chùa, nhiều tượng nhất có thể được. Một ngôi đền chùa tồn tại ở Trung Quốc với mười nghìn tượng Phật. Cả một quả núi đã được khắc tạc như một ngôi đền chùa. Đây là ngôi đền lớn nhất trên thế giới, nơi có mười nghìn tượng Phật, và nói bất kì điều gì về điều này là không đúng sẽ là đi ngược lại chính các Phật tử, người đã làm việc để cải đạo người Trung Quốc. Và họ đã nói chắc chắn cho người Trung Quốc rằng họ sẽ trở nên chứng ngộ nếu họ nuôi dưỡng các sư, nếu họ tôn thờ Phật, nếu họ đem quà cúng tiến cho tu viện.
Bồ đề đạt ma phải đã ngần ngại một khoảnh khắc, nhưng cuối cùng ông ấy rơi vào cái bẫy của việc là một phần của tôn giáo có tổ chức. Tôn giáo có tổ chức bao giờ cũng nhấn mạnh vào những điều xuẩn ngốc mà không dẫn bạn đến đâu cả, nhưng chúng giúp cho tôn giáo có tổ chức khai thác bạn; bằng không thì ai sẽ nuôi hàng triệu ni và tu sĩ Cơ đốc giáo? Ai định chăm nom mọi chi phí cho hàng nghìn tu viện Cơ đốc giáo? Điều đó phải được nhấn mạnh liên tục qua các buổi thuyết pháp của các linh mục vào mọi chủ nhật, mọi người đều phải được nhắc nhở để cúng tiến, được nhắc nhở rằng, "Cúng tiến sẽ đem lại cho con cứu rỗi." Cứu rỗi là từ Ki tô giáo để chỉ chứng ngộ.
Các đệ tử này có thể thấy điều đó, cho nên họ hỏi:
Nhưng nếu ngắm nhìn tâm trí bao gồm mọi thực hành khác, thế thì những công việc như vậy sẽ dường như là thừa.
Nếu một phương pháp đơn giản để ngắm nhìn tâm trí tạo ra chứng ngộ, thế thì cần gì tất cả những điều này? Đây là tất cả những điều bắt nguồn từ tâm trí; chúng sẽ làm mạnh cho tâm trí. Nhưng tất cả những điều bạn phải làm là làm yếu đi tâm trí, đi ra ngoài nó... vượt ra ngoài tới mức nó không thể lấy bất kì năng lượng nào từ bạn và nó chết đi do đói và chết đói. Và khi bạn không có tâm trí, mà chỉ là im lặng thuần khiết của vô trí, bạn đã đạt tới chứng ngộ.
Các đệ tử này hoàn toàn đúng để hỏi câu hỏi, "Bản thân thầy đã nói, 'Chỉ ngắm nhìn tâm trí và thế là đủ'. Thế thì cần gì tất cả những nghi lễ này?" Bây giờ ông ấy bị tóm vào hoàn cảnh mâu thuẫn*... Nếu ông ấy nói, "Những lời này không phải là từ Phật", ông ấy chống lại Phật giáo Đại Thừa và ông ấy thuộc vào tông phái đó.
Đó là lí do tại sao tôi nhấn mạnh: Đừng thuộc vào bất kì giáo phái nào, bất kì tín ngưỡng nào, bất kì tôn giáo nào, bằng không bạn không thể tuyệt đối cam kết với chân lí. Bất kì cam kết nào khác đứng bên cạnh cam kết với chân lí đều nguy hiểm cả. Thế thì bạn bằng cách nào đó cũng thích an ủi cam kết khác đó.
Và nếu một người như Bồ đề đạt ma không thể đảm đương được việc nói ra chân lí, bởi vì ông ấy có thể thấy rằng nếu ông ấy nói điều đó - và ông ấy là người chứng ngộ đầu tiên vào Trung Quốc - nếu ông ấy nói điều đó, toàn thể dinh thự mà hàng nghìn sư Phật giáo đã tạo ra trong sáu trăm năm, toàn thể bầu không khí mà bạn có thể trở nên được chứng ngộ bởi việc tôn thờ Phật, bởi việc thắp hương, bởi việc cúng dường hoa, bởi việc làm đền chùa, tượng, tu viện sẽ đơn giản rơi tõm, bởi vì không điều gì trong chúng là chứng ngộ cả. Toàn thể Trung Quốc đang chờ đợi nghe điều thực tế là chân lí từ một người chứng ngộ. Nhưng bởi vì ông ấy cũng thuộc vào một hãng kinh doanh nào đó, nên ông ấy đã quyết định có lợi cho việc kinh doanh chứ không có lợi cho chân lí.
* Nguyên văn: catch-22 - người cần cái gì đó mà chỉ có thể thu được bằng việc không ở trong chính tình huống đó.
Tôi bao giờ cũng kể lại một câu chuyện nhỏ...  Một trường nhỏ, trường Ki tô giáo, nhưng chỉ một trường ở vùng phụ cận và trẻ nhỏ... Cô giáo đang nói với học sinh trong suốt một giờ, "Jesus Christ là con người vĩ đại nhất đã từng bước trên trái đất này." Và thế rồi cô ấy hỏi học sinh, "Ai là con người vĩ đại nhất đã từng bước đi trên trái đất này?"
Một cậu bé người Mĩ nói, "Abraham Lincoln". Cô giáo nói, "Không tồi, nhưng chưa hoàn toàn đúng."
Một cô bé người Anh đứng dậy và nói, "Winston Churchill". Người đàn bà này không thể nào tin được mình đã phí hoài suốt một giờ để nhấn mạnh vào mỗi một điểm. Cô giáo nói, "Không tồi, nhưng vẫn chưa hoàn toàn đúng."
Và thế rồi một cậu nhỏ chưa bao giờ nói đứng dậy giơ tay lên. Cô giáo nói, "Con chưa bao giờ nói cả. Đây là lần đầu tiên con giơ tay!" Và cô giáo sợ rằng chắc chắn câu trả lời của cậu này sẽ không đúng. Nhưng đứa bé nói, "Jesus Christ." Cô giáo đã bị choáng bởi hai câu trả lời trước đây, nhưng câu trả lời này thậm chí gây choáng hơn bởi vì cậu bé này là người Do Thái.
Tan lớp cô giáo giữ cậu bé lại, đưa nó sang bên cạnh và nói, "Hymie, con có phải là người Do Thái không?"
Nó nói, "Dạ, có ạ."
"Thế con có thực nghĩ Jesus Christ là con người vĩ đại nhất đã từng bước trên trái đất này không?"
Nó cười ngặt nghẽo và nói, "Kinh doanh là kinh doanh. Trong chỗ sâu nhất của trái tim con, con biết Moses là người đó, không phải Jesus Christ. Ông ấy chỉ là người lùn thôi. Nhưng kinh doanh là kinh doanh..." bởi vì có chiếc cúp lớn tặng cho người trả lời đúng, và Hymie đang mang chiếc cúp lớn, lớn hơn bản thân nó.
Nhưng bạn có thể tha thứ cho trẻ nhỏ. Và nó rất logic; nó phải đã nghĩ, "Có thành vấn đề gì nếu mình nói một lần trước lớp, chỉ để thắng trò chơi này, 'Jesus Christ' mình biết qui tắc cho ai sẽ thắng, cho nên tại sao lại đem Moses vào một cách không cần thiết và nhận lấy thất bại làm gì? Tại chỗ sâu nhất trong trái tim mình mình biết Moses là con người vĩ đại nhất đã từng bước trên trái đất này."
Nhưng ngay cả những người chứng ngộ, khi đi tới việc quyết định giữa cam kết của họ với tôn giáo có tổ chức và cam kết của họ với chân lí, vẫn quyết định cho cam kết của họ với tổ chức. Điều này thực sự là buồn. Câu trả lời Bồ đề đạt ma nêu ra đơn giản không liên quan. Nó chỉ là cố gắng làm cái gì đó mà có thể chứng minh rằng lời kinh này do Phật nói ra.
Tôi tuyệt đối phủ nhận rằng một phát biểu như vậy do Phật nói ra. Điều đó đi ngược lại chính cuộc sống của ông ấy, chính giáo huấn của ông ấy, chính con đường của ông ấy.
Bồ đề đạt ma nói, Lời kinh của Phật chứa vô lượng biểu dụ.
Bây giờ bạn có thể thấy mẹo này không? Bây giờ ông ấy không thể nói nó là sai và ông ấy không thể nói nó là đúng.
Ông ấy tìm con đường giữa và nói rằng Phật đang nói theo biểu dụ.
Bởi vì người hữu tử có tâm trí nông cạn...
Và ông ấy đang nói với ai - với người hữu tử hay bất tử? Nếu thính giả của Phật có tâm trí nông cạn, liệu Bồ đề đạt ma có nghĩ rằng thính giả của mình có trạng thái cao hơn không? Phật có lẽ đã có những thính giả thông minh nhất so với bất kì người nào đã từng có. Bồ đề đạt ma đang nói với các Phật tử mới được chuyển đạo.
Phật dùng cái thấy được để biểu thị cho cái siêu phàm.
Đây là mẹo, và không thể tha thứ được.
Những người tìm kiếm phúc lạc bằng việc tập trung vào những công việc ngoài thay vì trau dồi bên trong là đang cố gắng điều không thể được.
Nhưng ông ấy biết chân lí, cho nên thỉnh thoảng nó tới mặc cho nỗ lực của ông ấy kìm nén nó và đi với đám đông và với tâm trí quần chúng. Điều này là đúng khi ông ấy nói... tập trung vào những công việc ngoài thay vì trau dồi bên trong là đang cố gắng điều không thể được.
Nhưng đó là điều kinh này nói; bây giờ cách duy nhất là làm cho nó thành biểu dụ.
Điều ông gọi là tu viện, chúng ta gọi là sangharama, chỗ của thuần khiết.
Điều đó là tuyệt đối sai. Sangharama đích xác là tu viện; nó không khác với tu viện; nó không phải là biểu dụ. Và thậm chí trong hai nghìn năm qua, hàng nghìn tu viện đã tồn tại ở Trung Quốc. Chỉ có từ cuộc cách mạng cộng sản ba mươi năm trước đây mà nhiều tu viện đã bị phá đi; bằng không  hàng  triệu  sư  vẫn  sống  trêng  máu  của  nhân  dân. Nhưng họ đang quay trở lại rồi...
Chính là tâm trí cộng sản và phát xít, ương ngạnh, rất cứng rắn của Mao Trạch Đông đã biến các tu viện thành bệnh viện, thành trường học và buộc các sư phải ra đồng và làm việc. Mao đã chấm dứt việc ăn xin - và Phật giáo đã chỉ sống bằng ăn xin. Thực ra việc ăn xin đã là một kỉ luật, một thực hành, bởi vì nó làm cho bạn khiêm tốn. Nhưng Mao đã làm cho việc ăn xin thành bất hợp pháp và buộc các sư phải làm việc để kiếm cơm ăn, áo mặc, chỗ ở.
Bây giờ Mao đã chết và kẻ thù của ông ấy trong đảng cộng sản - người ông ấy đã không cho phép... nhiều người trong số họ bị tống giam, nhiều người đã bị giết - đã quay trở lại quyền lực. Bây giờ đảng đối lập bên trong bản thân đảng cộng sản đã nắm quyền và nó muốn thu phục trái tim mọi người. Các tu viện lại quay trở lại bởi vì hai nghìn năm của Phật giáo không thể bị xoá đi dễ dàng đến thế. Bây giờ các sư Phật giáo lại có thể được thấy với bình bát ăn xin của họ. Các bệnh viện kia đã được bỏ đi, các trường học kia đã bị bỏ đi, và các sư không bị buộc phải làm việc trên cánh đồng, hay trong xưởng máy, hay ở bất kì đâu mà họ có thể được dùng...
Nhưng bất kì ai từ chối đưa vào ba chất độc và bế cổng các giác quan của mình cho thuần khiết, thân thể người đó và tâm trí người đó tĩnh lặng, bên trong và bên ngoài sạch bong, đều là xây dựng tu viện.
Bây giờ đây là ý tưởng rất cường điệu. Và nếu Bồ đề đạt ma có thể giải thích nó cho những ứng cử viên rất mới của Phật giáo, tại sao bản thân Phật không thể đã nói rằng ông ấy đang nói trong biểu dụ? Ông ấy có thể tự mình giải thích điều đó chứ, và ông ấy còn là người giỏi hơn nhiều khi có liên quan tới việc nói, nói giỏi hơn nhiều; ông ấy có thể giải thích rằng đây chỉ là biểu dụ. Nhưng không có đâu ông ấy nhắc tới chúng là biểu dụ cả. Thật là rất gian nan cho Bồ đề đạt ma để biến mọi thứ thành biểu dụ, nhưng chúng ta sẽ thấy rằng với mọi thứ ông ấy cứ tiếp tục cái ý tưởng rằng chúng là biểu dụ.
Đúc tượng nói tới mọi thực hành được trau dồi bởi những người tìm kiếm chứng ngộ...
Tôi không thể nào hiểu nổi làm sao điều này lại có thể là biểu dụ được. Đúc tượng nói tới mọi thực hành được trau dồi bởi những người tìm kiếm chứng ngộ. Mối quan hệ gì, cho dù là mối quan hệ cường điệu hoá...? Biểu dụ phải mang tính đại diện; nó phải giải thích cái gì đó, nó phải có ích để hiểu. Điều này không liên quan chút nào với đúc tượng và thực hành chứng ngộ! Bản thân Phật không thể nói "Thực hành chứng ngộ" được sao?
Và thắp hương không có nghĩa hương vật chất thông thường - dường như ở đâu đó có sẵn hương tâm linh nào đó - mà là hương của Pháp không thấy được... Bạn sẽ kiếm nó từ đâu? Đó là lí do tại sao tôi nói tôi bị tổn thương khi nói rằng Bồ đề đạt ma dường như đã bị lão suy, mặc dầu ông ấy chỉ bẩy mươi nhăm... cái xua đi những hành vi thô bỉ, dốt nát và ác độc theo hương của nó...
Vĩ đại thật! Nhưng kiếm nó từ đâu? cái hương tâm linh đó xua đi những hành vi thô bỉ, dốt nát và ác độc theo hương của nó... Không ai đã bao giờ thấy một điều như vậy; bằng không cuộc sống đã đơn giản thế. Không cần làm bận tâm mọi người bằng thiền, bằng bất kì kỉ luật nào, với bất kì nhận biết nào. Chỉ đốt hương tâm linh và mọi thứ được lái đi và bạn được làm thuần khiết bởi hương!
Một mình tôi sẽ không được chứng ngộ bởi vì tôi dị ứng với hương, dù nó là thấy được hay không thấy được. Nhưng cũng không có hại gì nhiều nếu một người không chứng ngộ, điều đó có thể tha thứ được nếu cả thế giới sẽ chứng ngộ! Tôi hoàn toàn sẵn sàng...
Bồ đề đạt ma thậm chí không nhận biết ông ấy có thể lừa mọi người được bao lâu, nhưng ông ấy đã lừa họ trong một nghìn năm... đó là chiều dài mà những lời kinh này đã tồn tại trong sự tồn tại. Chúng chắc chắn đã được gìn giữ, bởi vì chúng ở trong tay các Phật tử Đại Thừa, người không sẵn lòng cho dịch chúng ra. Và tôi có thể hiểu bây giờ tại sao họ lại không sẵn lòng cho dịch chúng: chúng sẽ phá huỷ hình ảnh vĩ đại của Bồ đề đạt ma. Bản thân họ có thể đã hiểu rằng điều ông ấy đang nói tới là tuyệt đối kì dị.
Khi Phật ở trong thế giới này, ông ấy bảo các đệ tử của mình thắp sáng hương quí giá như thế bằng ngọn lửa của nhận biết xem như việc cúng dường chư phật mười phương.
Điều đó có thể quí giá, nhưng nó có sẵn ở đâu? Và thế rồi ông ấy làm cho nhận biết giống như lửa chỉ để đốt hương này, và hương này sẽ làm mọi thứ... bạn sẽ trở nên chứng ngộ. Cho nên bây giờ tìm kiếm duy nhất của bạn là để tìm ra cái hương-pháp đó, cái hương tâm linh đó! Có lẽ bạn có thể tìm thấy nó ở Poona... đó là thành phố rất tâm linh - tâm linh tới mức chỉ có các linh hồn vẩn vơ xung quanh, không có người sống.
Nhưng những người ngày nay không hiểu ý nghĩa thực của Như Lai.
Chỉ Bồ đề đạt ma hiểu ý nghĩa thực của Như Lai. Có lẽ bản thân Như Lai cũng không hiểu nghĩa thực riêng của ông ấy!
Họ dùng ngọn lửa thường để thắp sáng hương vật chất của gỗ đàn hương hay hương trầm để hi vọng phúc lành tương lai nào đó mà không bao giờ tới cả.
Ông ấy cứ đi vòng vo, vòng vo... ông ấy có thể đã đơn giản nói, "Phát biểu này không phải là của Phật, và phát biểu này là tuyệt đối vô nghĩa." Và điều đó sẽ tuyệt đối đúng đắn.
Với việc rải hoa cũng điều đó là đúng. Điều này nói tới việc nói Pháp, hay tới việc rải hoa đức hạnh.
Làm sao bạn rải hoa đức hạnh? Cho dù người ta có chấp nhận cách giải thích ngu xuẩn này, làm sao bạn rải hoa đức hạnh? Bạn cứ đem cho mọi người bằng việc nói, "Đây là chân lí, đây là tình yêu, đây là từ bi," và tay bạn trống rỗng.
Hai người điên trong nhà thương điên đang ngồi trong công viên. Mỗi ngày trong một giờ họ được phép đi ra vườn. Một người, người đang nắm tay lại, hỏi người kia, "Nếu anh nói cho tôi tôi đang giữ gì trong nắm tay, tôi sẽ cho anh một ru pi."
Người kia nói, "Thật à? Anh sẽ giữ lời chứ" Người thứ nhất lấy một ru pi ra từ ví và nói, "Đây là một ru pi. Cứ nói xem cái gì trong tay tôi?" Và người kia nhìn và nói, "Dường như nó là con voi."
Người thứ nhất "Anh không thể được một ru pi đâu. Dường như là anh đã nhìn rồi. Anh bị mắc mẹo rồi." Người đó không đưa một ru pi bởi vì anh ta cũng tin là mình đang giữ con voi trong nắm tay mình!
Làm sao bạn có thể rải hoa đức hạnh, để làm lợi cho người khác và làm vinh quang cho cái ta thực... Nếu ông nghĩ Như Lai có nghĩa với mọi người là làm hại cây cối bằng việc cắt nụ của chúng đi, ông sai.
Điều này dường như phải, nhưng ông ấy trộn lẫn mọi thứ theo cách làm nó mất hết cả mọi ý nghĩa. Chắc chắn Phật không thích bạn hái hoa; đó là giết hại. Hoa trên bụi hồng có cuộc sống, cái đẹp. Khoảnh khắc bạn hái nó, nó chết. Để nó đấy đi.
Mukta là người làm vườn của tôi. Cô ấy không được phép thậm chí cắt đi bất kì lá nào hay cắt bất kì hoa nào. Ban đầu cô ấy hay đi với chiếc kéo của thợ vườn giấu sau lưng! Nhưng ngay bây giờ tôi có thể thấy, bất kì khi nào tôi vào Phòng Phật - bằng không tôi không ra - tôi có thể thấy hoa có đó, tôi có thể thấy vườn đã trở thành rừng rậm để cho cô ấy phải vứt cái kéo người làm vườn ấy đi. Để cho mọi cây cối phát triển theo cách riêng của nó, ít nhất là trong vườn tôi! Đừng làm chết cây nào, đừng phá huỷ bất kì hoa sống nào.
Cho nên tôi có thể hiểu rằng Phật sẽ không cho phép cắt nụ của chúng, nhưng thay vì thế tôi sẽ nói rằng toàn thể lời kinh này đã được phái Đại Thừa thêm vào. Nhưng tại sao phái Đại Thừa lại phải thêm những điều như vậy vào...?
Có điều gì đó rất nền tảng cần được hiểu ở đây. Khi Phật Gautam làm việc trong đất nước này, hai mươi nhăm thế kỉ trước đây, ông ấy gần như đã chuyển đạo cho cả mảnh đất này. Ông ấy là con người của sức thu hút như vậy. Ông ấy không chỉ là người có học; ông ấy đã biết sự tồn tại, ông ấy đã là một phần của nó. Tác động của ông ấy là cực kì lớn - có lẽ không ai khác đã làm được tác động như vậy.
Nhưng khoảnh khắc ông ấy chết, các brahmin, các tu sĩ bước ra từ sào huyệt của mình, nơi họ đã từng ẩn náu bởi vì họ có thể không đối diện được với Phật Gautam - bất kì ai đối diện với ông ấy đều trở thành đệ tử. Nhưng họ đã chờ đợi cơ hội của họ: một ngày nào đó ông ấy sẽ chết đi. Ông ấy đã phá huỷ toàn thể nghề nghiệp của họ. Bây giờ không chuông nào rung lên trong đền chùa, mọi người không tới tôn thờ, mọi người không mời các brahmin tới các buổi nghi lễ của họ... và brahmin là giới tăng lữ ranh ma nhất trên toàn thế giới.
Mọi người bị bắt... mỗi người khi người đó được sinh ra đều ngay lập tức dưới dự kiểm soát của họ: ban đầu là nghi lễ nào đó, thế rồi sơ đồ sinh của người đó phải được tạo ra, thế rồi lễ đặt tên của người đó phải được thực hiện. Và trong tất cả những điều này, tu sĩ đang khai thác mọi người. Thế rồi cạo đầu... và điều này cứ tiếp diễn mãi. Thậm chí nếu bạn đi sang một thành phố khác nào đó thì bạn phải hỏi ý kiến brahmin về chòm sao đúng của các ngôi sao, liệu đi lên bắc hay xuống nam, hay sang đông sang tây, cái gì là thích hợp nhất và lợi thời gian nhất?
Thế rồi tới hôn nhân - thế rồi lần nữa tu sĩ lại có đó. Và thế rồi sau hôn nhân, trẻ con bắt đầu tới từ hôn nhân mới - và tu sĩ có đó. Và thế rồi con người trở nên già... Từ cái nôi tới nấm mồ, tu sĩ giữ năm giữ của ông ta.
Ngay cả sau khi con người đã chết vẫn có các nghi lễ cần phải được thực hiện! Và trong nước nghèo, những nghi lễ này tốn kém đến mức mọi người phải bán nhà cửa, đất đai, tài sản của mình - những thứ mà họ phụ thuộc vào để sống - bởi vì bố họ đã chết. Thế rồi họ phải làm tiệc lớn cho các brahmin.
Và ngay cả những tổ tiên đã chết... Đấy phải là một hàng dài, thực ra hàng dài vô tận - hàng triệu người sắp hàng người nọ tiếp người kia... vì họ đã có một thời gian đặc biệt. Một tháng ròng họ dành cho tổ tiên bởi vì con số lớn thế, cho nên một tháng nghi lễ liên tục - thờ lửa, tụng mật chú - vì an bình cho tất cả những người đã chết trong gia đình ... bạn thậm chí không biết tới tên họ! Và hàng triệu người phải đã chết.
Các nhà khoa học tính toán rằng bất kì chỗ nào bạn đang ngồi, ít nhất cũng đã có tám nấm mồ ở dưới bạn. Chớ sợ, họ đều đã chết rồi! Nhưng biết bao nhiêu người đã chết; thậm chí cả nghìn năm sau khi con người đã chết, các tu sĩ vẫn còn khai thác bạn.
Phật đã tạo ra một cuộc cách mạng vô cùng theo nghĩa này, trong đó ông ấy đã phá huỷ toàn thể tính trọn vẹn của giới tăng lữ. Nhưng khoảnh khắc ông ấy chết, các tu sĩ quay lại.
Mọi người cũng bỏ họ. Cuộc sống đã trở thành rất đơn giản. Một đứa trẻ được sinh ra - không tu sĩ nào tụng về phúc lạc, về sống lâu cho nó. Ai dó chết và tu sĩ không có đó để tụng và cầu phúc cho người đó về cuộc hành trình lớn mà người đó đã đi tiếp. Mọi người cũng bỏ tất cả những thánh lễ này. Cho nên khi Phật chết, dần dần các brahmin quay lại, và họ bắt đầu lái Phật giáo ra khỏi mảnh đất này.
Mới năm mươi năm trước đây ở Ấn Độ khó mà tìm thấy một Phật tử. Trong năm mươi năm qua, một người đã làm việc phục vụ vĩ đại - mặc dầu bản thân người đó không phải là người tôn giáo, người đó là một chính khách. Nhưng bởi ngẫu nhiên mà người đó đã phải làm điều gì đó; đó là chiến thuật chính trị.
Babasaheb Ambedkar là một tiện dân, nhưng được lọt vào mắt của một người rất giầu có, người này thấy ông ta thông minh thế, nên đã gửi ông ta sang học ở Anh. Ông ta trở thành một trong những chuyên gia lớn nhất về luật trên thế giới và ông ta đã giúp làm ra hiến pháp Ấn Độ. Ông ta liên tục tranh đấu cho tiện dân, những người mà ông ta thuộc vào, và đó là một phần tư xã hội Hindu. Ông ta muốn việc bầu cử tách biệt cho tiện dân - và ông ta đã tuyệt đối đúng.
Tôi không thấy tại sao họ lại phải thuộc về nhóm Hindu đã hành hạ họ trong suốt mười nghìn năm, buộc họ làm đủ mọi loại công việc xấu xa và gần như không trả cho họ cái gì. Họ thậm chí còn không được sống trong các thành phố, họ phải sống bên ngoài thành phố. Ngay trước khi tự do, họ đã không được phép đi vào nhiều phố của thành phố này. Ở nhiều chỗ họ bị buộc phải công bố to, "Tôi là tiện dân và tôi đang đi qua đây. Những ai nghe thấy tôi xin hãy lánh ra khỏi đường..." bởi vì thậm chí cái bóng của họ rơi vào bạn làm ô uế bạn.
Nhưng không tìm thấy cách nào, bởi vì Mahatma Gandhi đã nhấn mạnh rằng tiện dân không nên rời bỏ nhóm Hindu... Đó cũng là một chiến lược chính trị, bởi vì nếu một phần tư người Hindu rời bỏ nhóm mình, thế thì Hindu sẽ trở thành thiểu số trong chính nước mình. Có người Mô ha mét giáo, có người Ki tô giáo, có người Jaina giáo; bây giờ nếu một nhóm mới thoát ra khỏi nhóm Hindu, đất nước của người Hindu sẽ trở thành gần như là đất nước của các tôn giáo khác. Và nếu họ tất cả hợp với nhau, người Hindu sẽ không bao giờ nắm quyền lực cả.
Tôi không coi Mahatma Gandhi là người tôn giáo nữa; ông ấy thuộc về một loại nào đó như tiến sĩ Ambedkar. Gandhi cứ nhịn ăn cho tới chết để cho Ambedkar phải lấy lại chỗ đứng của ông ấy. Ông ấy phải rút lui cái ý tưởng rằng tiện dân nên được trao cho việc bỏ phiếu tách biệt.  Và Gandhi láu cá... ông ấy bắt đầu gọi tiện dân là harijans. Những người tinh ranh bao giờ cũng chơi chữ. Chữ không tạo ra khác biệt - dù bạn gọi họ là tiện dân, hay harijan... harijan có nghĩa là "con của Thượng đế."
Tôi đã có cuộc thảo luận dài với con của Mahatma Gandhi, Ramdas. Tôi nói, "Ông không thấy cái tinh ranh đó sao? Con của Thượng đế đã đau khổ mười nghìn năm nay và những người không phải là con của Thượng đế đang bóc lột họ, hành hạ họ, áp bức họ, hãm hiếp phụ nữ của họ, đốt cháy hoàn toàn các thành phố của họ với tất cả những người đang sống bên trong. Nếu đây là con của Thượng đế, tốt hơn cả là đừng là con của Thượng đế. Điều đó là nguy hiểm."
Gandhi đã đổi tên chỉ để cho nó có ý nghĩa đẹp, nhưng mọi thứ bên trong vẫn còn như cũ. Và ông ấy cứ nhịn đói đến chết chừng nào Ambedkar còn chưa chịu rút lại phát biểu của mình.
Nếu như tôi ở vào vị trí của Ambedkar tôi sẽ nói với Mahatma Gandhi, "Sống hay chết đấy là việc của ông. Ông muốn nhịn ăn hay không đấy là việc của ông - ông được tự do. Nhịn ăn đến chết hay thậm chí vượt ra ngoài."
Nhưng Ambedkar bị sức ép từ khắp nơi trong nước, bởi vì nếu Gandhi chết toàn thể sự trách móc sẽ dồn vào Ambedkar. Và tôi sẽ bảo Gandhi, "Đây là phương pháp rất bạo lực, còn ông thì lại nói về bất bạo lực. Đây mà là bất bạo lực sao?"
Chuyện xảy ra... Tôi ở Raipur dậy học tại một đại học tiếng Phạn ở đó. Một cô gái trẻ rất xinh đẹp đã bị một tên đầu trộm đuôi cướp hỏi liệu cô ấy có muốn lấy nó hay không. Nó là một người nguy hiểm, kẻ tội phạm. Nó đã bị tù nhiều lần, nó đã phạm phải nhiều tội ác, và nó gần như cùng tuổi với bố của cô ấy. Nhưng nó đã yêu mến cô ấy, và khi thấy thành công của Gandhi khi nhịn ăn đến chết và cách thức ông ta xoay xở mọi điều... bởi vì Gandhi đã xoay xở được Ambedkar.
Sau khi Gandhi đã nhịn ăn được hai mươi mốt ngày, và cái chết của ông ấy đã bắt đầu tới nhanh, bác sĩ nói, "Làm điều gì đó  đi, bằng không thì  ông già này sẽ qua đời." Ambedkar bị gây sức ép rất nhiều bởi mọi lãnh tụ dân tộc Ấn Độ người nói với ông ấy, "Tới Mahatma Gandhi đi. Hỏi xin ông ấy tha thứ đi, đưa cho ông ấy cốc nước cam để phá vỡ việc nhịn ăn... và từ bỏ phong trào của ông đi; bằng không ông bao giờ cũng được mọi người nhớ là một người đã giết chết con người vĩ đại nhất của đất nước này, người tôn giáo vĩ đại nhất." Và Ambedkar đã phải làm điều đó, mặc dầu bất đắc dĩ.
Tôi sẽ không làm điều đó đâu! Tôi sẽ chấp nhận trách móc, tôi sẽ chấp nhận kết án của lịch sử. Ai quan tâm khi bạn chết điều gì được ghi trong lịch sử về bạn? Ít nhất bạn không biết cái gì được viết ra, và bạn không đọc. Cứ để cho họ viết ra bất kì cái gì...
Nhưng tôi sẽ nhấn mạnh rằng đây không phải là phương pháp bất bạo lực. Nó tuyệt đối bạo lực nhưng theo một cách rất tinh vi. Tôi đe doạ giết bạn - đây là bạo lực. Và tôi đe doạ giết tôi nếu bạn không chấp nhận tôi - điều này logic không? Quan điểm mà Gandhi chọn là tuyệt đối phi logic, nhưng ông ấy đã hỗ trợ nó bằng việc đe doạ. Đấy là hăm doạ nói, "Tôi sẽ tự giết mình."
Ambedkar xoay xở theo cách khác. Ông ta bắt đầu chuyển đổi các tiện dân sang Phật giáo. Đó là lí do tại sao bây giờ có vài chục vạn Phật tử, nhưng họ không là tôn giáo theo bất kì cách nào. Đấy chỉ là thủ đoạn chính trị.
Người này ở Raipur tới nhà cô gái đó với một cái giường và tuyên bố rằng nếu cô gái không cưới nó, nó sẽ nhịn ăn cho tới chết. Điều đó trở thành chuyện kể trong cả thành phố; các nhà nhiếp ảnh và nhà báo có đó, và cả ngày đám đông có đó.
Người bố trở nên sợ hãi, và sức ép dồn lên ông ấy, "Tại sao nhận trách nhiệm về cái chết của nó?" Nhưng người bố nói, "Điều này tuyệt đối xấu. Người này cùng tuổi tôi và nó là kẻ tội phạm. Tôi không thể trao con gái tôi cho nó được."
Tôi biết người bố và cô gái - cô gái là sinh viên của tôi tại đại học. Cô gái gợi ý cho bố mình tới tư vấn tôi về điều gì cần phải làm. Tôi không biết ông ấy trước đó. Ông ấy tới tôi và ông ấy kể lại toàn thể câu chuyện. Tôi nói, "Chuyện này rất đơn giản. Ông tìm một gái mãi dâm già, tàn tạ nào đó."
Ông ta nói, "Cái gì?"
Tôi nói, "Nghe toàn thể vấn đề: ông đi tìm một gái mãi dâm rất già, một mụ lẳng lơ tàn tạ, và đặt một cái giường khác ở trước nhà. Mụ lẳng lơ này nên tuyên bố, 'Tôi sẽ nhịn ăn cho tới chết chừng nào người thanh niên này không lấy tôi.' Khác hơn điều này không cái gì có tác dụng cả."
Tay trộm cướp đó trốn ngay giữa đêm. Người ta không bao giờ gặp lại nó nữa, nó không bao giờ hỏi lại nữa! Đây là phương pháp luận của Gandhi, một điều rất tôn giáo.
Các Phật tử bị thiêu chết, bị tống ra khỏi đất nước, và cả nước tuyệt đối sạch bóng mọi tác động mà Phật đã để lại. Thậm chí trong cái đền đã được dựng lên để ghi nhớ về chứng ngộ của ông ấy tại Bodhgaya, thậm chí không còn Phật tử nào để chăm nom ngôi đền. Một brahmin đã chăm nom nó trong hai nghìn năm, cùng một gia đình, thế hệ nọ tiếp thế hệ kia.
Bây giờ họ đã trở thành người chủ của ngôi đền. Họ không tin vào Phật. Họ chống lại Phật, nhưng ngôi đền là rất quí giá, bởi vì từ khắp trên thế giới mọi người đổ tới ngôi đền này. Nhiều tiền của đổ tới ngôi đền, cho nên tu sĩ này không bận tâm. Ông ta kiếm nhiều tiền và ông ta không sẵn lòng trao ngôi đền cho người khác, bởi vì trong hai nghìn năm nó đã là sở hữu của ông ta. Không luật nào có thể lấy nó đi khỏi ông ta.
Cho nên khi Phật tử tới Trung Quốc và Tây Tạng họ đã học được bài học, rằng nếu bạn cứ chống lại mọi người và tín ngưỡng của họ... Có lẽ khi người có sức lôi cuốn còn sống bạn có thể dường như thắng trong trò chơi này, nhưng khi người có sức lôi cuốn đó qua rồi... điều đã xảy ra ở Ấn Độ, sẽ xảy ra ở Tây Tạng, sẽ xảy ra ở Trung Quốc, sẽ xảy ra ở Sri Lanka, sẽ xảy ra ở Nhật Bản. Cho nên họ đã thoả hiệp.
Đó là lí do cho việc thêm vào tất cả những lời kinh sai. Kinh sách Phật giáo ở Tây Tạng có lời kinh khác, để an ủi và thuyết phục dân cư Phật giáo của Tây Tạng; kinh Đại Thừa Trung Quốc có khác, ở Sri Lanka họ có kinh khác. Đây là lí do lịch sử tại sao những lời kinh tuyệt đối ngớ ngẩn đó, điều không phải là của Phật, đã đi vào trong kinh sách. Họ đã cố ý đặt nó vào, bởi vì không có chúng, không có vấn đề về sống còn.
Nhưng khi có liên quan tới tôi, cũng như khi đáng phải có liên quan tới Bồ đề đạt ma, chân lí là có giá trị tối thượng, không phải sự sống còn. Và sự sống còn bởi việc tạo nên dối trá, bằng việc bóp méo chân lí... phỏng có ích gì? Cho dù Phật giáo có biến mất khỏi toàn thể thế giới này, điều đó cũng không thành vấn đề. Nhưng sự thuần khiết của những phát biểu của Phật nên được gìn giữ.
Bất kì khi nào  người tìm kiếm muốn tìm, người đó không nên bị lạc trong rừng rậm của các kỉ luật, nghi lễ không cần thiết. Bồ đề đạt ma nên làm điều đó thành rõ ràng. Tôi biết mối nguy cơ này. Tôi hiểu rằng ông ấy phải cảm thấy rất mặc cảm, bởi vì sau những lời kinh này, ông ấy đã rời khỏi Trung Quốc để lên Himalayas. Ông ấy đã phải cảm thấy cực kì tổn thương rằng điều ông ấy đã làm chống lại hiểu biết riêng của ông ấy. Nhưng dẫu sao tôi không thể nào tha thứ cho ông ấy được. Tôi không thể nào tha thứ cho bất kì ai đi ngược lại chân lí.
Những người gìn giữ giới luật không làm tổn thương bất kì dạng sống quí giá nào của thiên đường và trái đất. Nếu ông có lầm lẫn làm tổn thương cái gì đó, ông sẽ đau khổ vì nó. Nhưng những người chủ ý vi phạm giới luật bằng việc làm tổn thương cái sống với mục đích được phúc lành trong tương lai phải chịu đau khổ nhiều hơn. Làm sao họ có thể để cho phúc lành đáng có biến thành nỗi sầu được?
Ngọn đèn vĩnh hằng biểu thị cho nhận biết hoàn hảo.
Chỉ trong phát biểu này mà biểu dụ mới dường như là đúng. Nó có thể được diễn giải như nhận biết hoàn hảo, ngọn đèn vĩnh hằng. Nhưng ông ấy không có khả năng kể lại biểu dụ khác theo cách diễn giải của mình.
... Rất lâu trước đây, đã có vị Phật tên là Dipamkara, hay Người thắp đèn. Đây là ý nghĩa của tên ông ấy... Ánh sáng do vị phật phát ra từ một xoáy giữa trán của ông ấy có thể chiếu sáng vô lượng thế giới. Đèn dầu không ích gì...
Việc công phu cả sáu thời kì ngày và đêm có nghĩa là trong sáu giác quan thường xuyên trau dồi chứng ngộ và gìn giữ trong mọi dạng của nhận biết. Không bao giờ kiểm soát thảnh thơi trên sáu giác quan, là điều được ngụ ý bởi sáu thời kì.
Nhưng điều này là mâu thuẫn với phát biểu riêng của ông ấy. Kiểm soát là không cần thiết bởi vì nó là qua tâm trí. Công phu là không cần thiết bởi vì nó là qua tâm trí. Người ta phải sống cuộc sống của buông bỏ - đó là giáo huấn cơ bản của ông ấy. Người ta phải tự phát. Người ta phải sống khoảnh khắc nọ sang khoảnh khắc kia, không nghĩ về quá khứ, không nghĩ về tương lai, không níu bám lấy hiện tại.
Ông ấy đã đưa ra những lời kinh hay thế, và đến cuối ông ấy làm hỏng công trình riêng của mình một cách toàn bộ.
Còn với việc bước quanh stupas, stupas là thân thể và tâm trí ông. Khi nhận biết của ông đi quanh thân thể và tâm trí ông không dừng, điều này được gọi là bước quanh stupa...
Ông ấy đang cố gắng xoay xở bằng cách nào đó, cho dù toàn thể sự việc là ngu xuẩn thế. Stupas thực tế tồn tại và các Phật tử của phái Đại Thừa cứ đi hành hương về stupa và đi quanh chúng. Nhưng thân thể và tâm trí bạn không phải là stupa. Stupa là để dành cho khi bạn chết; thế thì nấm mồ phải được tạo ra cho bạn. Nấm mồ của Phật tử được gọi là stupa. Nó được làm thành tròn theo cách nào đó.
Nhưng thân thể và tâm trí bạn là sống. Và làm sao tâm thức bạn có thể đi quanh thân thể và tâm trí bạn được? Ông ấy thậm chí không xem xét rằng tất cả những diễn giải của ông ấy đều có thể bị đặt câu hỏi. Chúng đã không bị đặt câu hỏi bởi vì chúng ai ủi mọi người. Họ muốn cái gì đó thấy được và nếu nó là một biểu dụ - không hại gì; ông ấy không phủ nhận Phật Gautam.
Cùng điều đó cũng đúng cho việc gìn giữ nhịn ăn...
Ngay cả một con người với rất ít thông minh cũng có thể thấy cái ngu xuẩn này...
Nhịn ăn nghĩa là... điều hoà lại thân thể và tâm trí ông.
Tôi không thể nào quan niệm nổi làm sao nhịn ăn có thể có nghĩa là điều hoà lại thân thể và tâm trí ông để cho chúng không làm phân tán hay rối loạn. Nhin ăn đơn giản là nhịn ăn, và không cái gì khác.
Cũng thế, một khi ông dừng việc ăn thức ăn ảo tưởng, nếu ông chạm tới nó lần nữa, ông sẽ phá vỡ việc nhịn ăn của ông.
Bây giờ ông ấy đã quên mất điều ông ấy vừa nói. Thực ra, bởi vì việc nói đó không tới từ bản thể bên trong nhất - đấy chỉ là luyện tập tâm trí của ông ấy - nên ông ấy đã quên mất rằng ông ấy đã định nghĩa thân thể và tâm trí là 'stupa' và rằng ông ấy đã định nghĩa nhịn ăn là, 'điều hoà lại thân thể ông, lập kỉ luật cho thân thể ông.'
Bây giờ từ đâu mà cái ý tưởng này tới: một khi ông dừng việc ăn thức ăn ảo tưởng? Đấy không phải là trong chính định nghĩa của biểu dụ này. Thức ăn đã không được mang vào.
Nếu bạn dừng ăn thức ăn ảo tưởng... Và có thức ăn nào mà không là ảo tưởng? Phật cũng ăn cùng bánh mì như bạn ăn và Phật cũng uống cùng nước như bạn uống.
... nếu ông chạm tới nó lần nữa... Thậm chí không ăn, mà chỉ chạm tới và nó là ảo tưởng! Hại gì có đó trong việc chạm vào ảo tưởng? Ảo tưởng không tồn tại, bạn không thể chạm vào nó được. Nhưng ông chạm tới nó lần nữa, ông sẽ phá vỡ việc nhịn ăn của mình. Ông ấy đã quên mất biểu dụ mà ông ấy đã giải thích trước đây. Bây giờ, cho dù bạn chạm vào thức ăn ảo tưởng, bạn đã phá vỡ việc nhịn ăn của mình.
Và một khi ông phá vỡ nó, ông không gặt hái gì được phúc lành từ nó. Thế giới đầy những người bị ảo tưởng không thấy điều này. Họ mê đắm thân thể và tâm trí mình theo đủ mọi cách quái quỉ. Họ buông bỏng cho sự đam mê của mình và không xấu hổ. Và khi họ dừng ăn thức ăn thông thường, họ gọi đấy là nhịn ăn. Ngớ ngẩn làm sao!
Tôi chỉ đồng ý với câu cuối: Ngớ ngẩn làm sao!
Điều ấy cũng tương tự như việc tôn thờ. Ông phải hiểu nghĩa và chấp nhận điều kiện. Nghĩa bao gồm hành động và vô hành động...
Ông ấy chỉ cố gắng lừa dối mọi người - đem vào những lời không có liên quan chút nào.
Tôn thờ nghĩa là tôn kính và khiêm tốn.
Điều đó đúng. Nó có nghĩa là trao lại cái ta thực của ông và hạ thấp ảo tưởng. Nhưng nếu bạn biết cái ta thực của mình, bạn sẽ tìm thấy ảo tưởng ở đâu? Cả hai không thể tồn tại cùng nhau. Hoặc là bạn thức - thế thì mơ là không có đó nữa - hoặc là mơ có đó và bạn không thức tỉnh. Người biết tới cái ta thực của mình không có ảo tưởng. Nhưng ông ấy đã lâm vào đống lộn xộn và ông ấy cố gắng vất vả để thoát ra khỏi nó, nhưng ông ấy lún ngày càng sâu hơn vào trong nó.
Nếu ông có thể chùi sạch các ham muốn ác và nuôi dưỡng ý nghĩ tốt, ngay cả không cái gì được gieo, đấy là tôn thờ...
Ban đầu trong lời kinh này ông ấy đã nói rằng người ta phải vượt ra ngoài thiện và ác. Bây giờ thiện trở nên được tôn thờ.
Những người không trau dồi ý nghĩa bên trong và thay vào đó tập trung vào cách diễn đạt bên ngoài không bao giờ dừng mê đắm trong dốt nát, hận thù và ác độc trong khi làm cạn kiệt mình vô ích. Họ có thể lừa dối người khác bằng cử chỉ, vẫn còn không xấu hổ trước các hiền nhân và rỗng tuếch trước người hữu tử, nhưng họ không bao giờ thoát khỏi Bánh xe, dù đạt được bất kì công đức nào nhiều hay ít.
Đấy là một cách phiên dịch kì lạ cho lời kinh. Ông ấy đi thực sự sâu, như lưỡi gươm sắc bén chém tất cả những gì sai, đến điểm khi ông ấy được hỏi về câu hỏi tối thượng. 'Từ đâu mà dốt nát này nảy sinh?' Ông ấy không thể trả lời được điều đó và ông ấy không đủ khiêm tốn để chấp nhận rằng ông ấy không biết. Ông ấy lâm vào trong đống lộn xộn tới mức sau đó mọi câu hỏi vẫn còn không được trả lời; ông ấy giả vờ trả lời nó, nhưng câu trả lời thậm chí không có liên quan tới câu hỏi.
Nếu điều này có thể xảy ra cho một người như Bồ đề đạt ma... Bạn phải nhận biết. Nhấn mạnh của tôi là bạn không thuộc vào bất kì tôn giáo nào, không thuộc vào bất kì học thuyết nào, không thuộc vào bất kì kinh sách nào, chỉ bởi một lẽ đơn giản rằng toàn bộ và toàn thể cam kết của bạn nên là với chân lí chứ không với bất kì cái gì khác. Cam kết của bạn không nên bị phân chia, bằng không bạn sẽ phải thoả hiệp, điều có thể làm cho bất kì ai hiểu biết cảm thấy rằng bạn đã thành không lành mạnh, hay lão suy hay điên khùng. Nhưng một điều là chắc chắn: bạn đã lạc đường.
Bản thân Bồ đề đạt ma có thể, trong cốt lõi bên trong nhất của ông ấy, không đánh mất chứng ngộ của ông ấy - chứng ngộ không thể mất được - nhưng ông ấy đã làm vẩn đục nó. Việc chứng ngộ của ông ấy không còn trong sạch nữa, không còn sáng lạn nữa, không còn là cây cột trụ ánh sáng nữa. Và chỉ bởi một việc kinh doanh đơn giản của tôn giáo có tổ chức...
Nhân loại sẽ không bao giờ có tính tôn giáo chừng nào mọi tôn giáo có tổ chức còn chưa biến mất và tôn giáo chưa trở thành cam kết cá nhân hướng tới sự tồn tại, cho nên không có vấn đề về thoả hiệp phát sinh.
Hãy để tôi nói với bạn: Tôn giáo có tính nổi dậy, và con người của tôn giáo là người nổi dậy. Người đó có tính nổi dậy chống lại tất cả những gì chính thống, chống lại mọi tín ngưỡng, chống lại mọi tổ chức, chống lại mọi ý thức hệ. Tình yêu duy nhất của người đó là với chân lí, và toàn thể tình yêu của người đó là dành cho chân lí. Chỉ người đó mới tìm thấy nó. Những người khác chỉ vẩn vơ trong dốt nát, trong giấc mơ, trong giấc ngủ - và họ đau khổ.
Được chứ, Maneesha? Vâng, thưa Osho
Xem tiếp Chương 20 - Quay về Mục lục