Osho - Thiền - Con đường nghịch lý (Tập 3)
Chương 9: Chú Ý
Thanh Trường muốn trở thành đệ nhất xạ thủ trong thế gian này, vì vậy ông trở thành đệ tử của Vũ Phi. Trước tiên, Vũ Phi ra lệnh ông không được chớp mắt. Thanh Trường bò dưới khung dệt vãi của vợ, và nằm ngửa nhìn không chớp mắt bàn đạp lên xuống trước mắt ông. Sau năm năm, ông đạt đến điểm mà đôi mắt của ông không chớp dù lông mi của ông có dính vào mắc cửi. "Biết làm sao để không chớp mắt chỉ là bước thứ nhất..." Vũ Phi bảo, "Ngươi phải học cách chú ý mọi sự vật, đến lúc những gì cực nhỏ cũng biến thành khổng lồ, lúc đó hãy đến gặp ta..."
Thanh Trường tìm kiếm loại
côn trùng cực nhỏ đối với đôi mắt của người thường. Ông đặt nó trên một chiếc
lá và treo nó trong phòng học của ông. Sau đó, ông chọn một chỗ ngồi và ngồi đó
ngày qua ngày để chỉ chăm chú nhìn con côn trùng nhỏ bé này. Lần đầu, ông không
thể nào nhìn thấy con côn trùng này, nhưng sau mười ngày trôi qua, ông bắt đầu
thấy nó như lớn dần lên.
Trong ba năm, ông không bao
giờ rời khỏi phòng. Cuối cùng, có một ngày, ông thấy con côn trùng nhỏ đó lớn
như một con ngựa vậy, "Ta đã thành công rồi!" Ông la lên.
Lần này, sư phụ ông hài
lòng bảo ông. "Tốt lắm!" Cuối cùng, Thanh Trường trở thành một xạ thủ
nổi danh nhất, Không có một kỳ công xạ thủ nào có thể vượt qua được khả năng
phi thường của ông. Ông gần như thành toàn tâm nguyện của ông, nhưng có một
hôm, ông bỗng giật nẩy mình, buồn phiền khi nhận thức rằng, nếu sư phụ của ông,
Vũ Phi, còn tại thế thì ông sẽ không bao giờ có thể được người đời xưng tụng là
đệ nhất xạ thủ...
Có một hôm, đang đi trên
một cánh đồng, Thanh Trường trông thấy Vũ Phi ở đằng xa. Không một phút do dự,
ông lấp tên vào cung, nhắm về hướng sư phụ của mình. Lão sư này, có lẽ cảm giác
được chuyện gì xảy ra, lập tức lấp ngay cung tên nhắm ngay học trò của mình bắn
trả lại. Khoảnh khắc ngắn ngủi, hai mũi tên va vào nhau giữa từng không và rơi
xuống đất. Trận đấu cung lạ lùng giữa hai thầy trò tiếp diễn cho đến khi ống
tên của Vũ Phi không còn mũi tên nào, và chỉ còn lại một mũi tên duy nhất trong
ống tên của học trò ông, "Đây là cơ hội của ta!" Thanh Trường thì
thầm. Lập tức, ông gài mũi tên cuối cùng vào cung. Thấy vậy, Vũ Phi bẻ một cây
gai nhỏ trong bụi cây gần đó. Lúc tên nhắm ngay tim ông bay tới, ông gõ nhẹ cây
gai vào đầu mũi tên và nó rơi xuống cạnh chân ông."
"Bằng hữu của
ta", Vũ Phi bảo, "Ta đã truyền dạy cho ngươi tất cả kiến thức về cung
thủ mà ta biết. Nếu ngươi muốn đào sâu hơn trong sự huyền bí này, ngươi phải
tìm bậc lão sư Khang Tỉnh. So sánh với tài xạ thủ của ngài, chúng ta chỉ là trẻ
con mà thôi."
Sau bao nhiêu tháng trường
tìm kiếm gian nan, cuối cùng Thanh Trường tìm thấy Kang Ying trong một hang
núi. Ông tuyên bố với ngài. "Ta tìm đến đây để tìm hiểu ta có phải là đệ
nhất xạ thủ như ta vẫn thường tin hay không." Không chờ đợi câu trả lời,
ông rút mũi tên, lấp vào cung, nhắm vào đàn chim đang bay trên trời, và bắn rơi
năm con chim cùng một lúc. Lão sư mỉm cười bảo. "Nhưng chỉ ngươi đơn thuần
bắn với mũi tên và cánh cung mà thôi. Ngươi đã học hỏi cách hữu chiêu vô tiển
chưa? Hãy theo ta."
Thanh Trường lặng lẽ đi theo
sau vị lão sư đến một vách đá vĩ đại nhô ra từ núi. Khi ông nhìn xuống vực
thẳm, đôi mắt ông mờ đi, và đầu óc ông quay cuồng. Trong lúc đó, lão sư Khang
Tỉnh chạy thật nhanh trên rìa đá nhỏ hẹp nhô ra trên vách núi thẳng đứng, và
quay lại hỏi, "Bây giờ ngươi có thể cho ta thưởng thức tài nghệ của ngươi
rồi. Hãy chạy lại đến nơi ta đang đứng và cho ta thấy tài xạ thủ của
ngươi."
Khi Thanh Trường bước trên
rìa đá nhỏ hẹp này, nó như lắc lư qua lại. Ông nỗ lực gài mũi tên vào cung,
nhưng cuối cùng ông có cảm giác như ông đang bị mất thăng bằng. Ông vội nằm
xuống bám chặt vào rìa đá với mười ngón tay của ông. Chân ông run lẩy bẩy và
những giọt mồ hôi tuôn ra thấm ướt toàn thân. Lão sư cười lớn, vươn tay ra nắm
lấy tay của ông và giúp ông xuống. Nhảy trên mỏm đá, ông nói, "Hãy cho
phép ta, thưa ngài, để biểu diễn cho ngài thấy tài xạ thủ của ta. "
"Nhưng cung tên của ngài đâu?" Thanh Trường hỏi, "Cung tên của
ta?" Lão sư cười lớn bảo, "Xạ thủ nào mà vẫn còn phải cần cung tên
thì thuật cung tiển của hắn vẫn còn quá hời hợt. Một xạ thủ chân chính sẽ không
cần cung tên."
Trên đầu cả hai là một con
chim nhỏ đang bay lượn. Lão ẩn sĩ già nua nhìn lên nó. Thanh Trường nhìn theo
mắt ngài. Con chim bay cao đến nỗi thậm chí với đôi mắt sắc bén của ông, nó
giống như một hột mè nhỏ bé. Khang Tỉnh lấp một mũi tên vô hình vào cánh cung
vô hình vô bóng, kéo dây cung căng thẳng hết mức và thả ra. Trong một khoảnh
khắc, chú chim ngừng vỗ đôi cánh và rơi xuống như một hòn sỏi nhỏ trên đất.
Trong chín năm trường,
Thanh Trường ở lại hoang sơn với vị ẩn sĩ già nua này. Ông phải trải qua bao
nhiêu sự đào luyện và khổ tập trong núi thì không ai biết được. Sau mười năm
ông trở về nhà. Tất cả đều kinh ngạc trước sự biến đổi của ông. Thái độ kiêu
ngạo và kiên quyết đã biến mất, thay vào đó là sự hồn nhiên. Người thầy cũ của
ông, Vũ Phi tìm đến, chỉ một cái nhìn thoáng qua, ông bảo, "Bây giờ ngươi
đã thật sự là tuyệt đại cao thủ rồi! Kể cả ta cũng không xứng đáng để chùi chân
cho ngươi." Những cư dân tọa lạc trong thị trấn nơi Thanh Trường đang ở,
tôn vinh ông là đệ nhất cao thủ cung tiễn trên thế gian này, và họ đồng đợi chờ
cái ngày mà ông sẽ biểu diễn tài xạ thủ của ông, nhưng Thanh Trường vẫn bất
động. Ông không hành động bất cứ điều gì để thoả mãn niềm hy vọng của họ. Cánh
cung bằng gỗ dương vĩ đại có lẽ ông đã bỏ lại trên ngọn hoang sơn. Khi có ai
yêu cầu ông giải thích, ông chậm chạp trả lời, "Trạng thái tối hậu của
động tức là tĩnh. Trạng thái tối hậu của đa ngôn chính là vô ngôn. Trạng thái
tối hậu của hữu chiêu tức là vô chiêu."
Thanh Trường mỗi ngày qua
mỗi càng già đi. Mỗi ngày qua, ông càng như lạc vào trạng thái thân tâm như như
bất động. Ông không còn vướng bận bởi ngoại cảnh nữa. Thân tâm của ông hiện hữu
trong sự yên nghỉ tao nhã và đơn thuần. Nét mặt thản nhiên như ông không còn
phảng phất mọi dấu vết của diễn cảm. Không một tác động bên ngoài nào có thể
làm giao động sự bình thản hoàn toàn của ông. Hiếm khi ông nói chuyện. Gần đây,
không còn ai có thể biết rằng ông có còn hít thở nữa hay không? Vào lúc cuối
đời, ông không còn phân biệt giữa "cái này" và "cái kia".
Ấn tượng đầy cảnh sắc biến ảo của cảm quan không làm cho ông phải động tâm.
Điều mà ông chỉ bận tâm là mắt ông là tai của ông, tai ông là mắt của ông, và
mũi là miệng của ông.
Năm cuối cùng trong cuộc
đời ông, câu chuyện kể rằng có một ngày, ông viếng thăm một người bạn và ông
thấy trên bàn có một vật rất là quen thuộc mà ông không thể nào nhớ được nó là
gì. Ông quay lại người bạn hỏi, "Xin làm ơn cho tôi biết, vật trên bàn là
vật gì vậy? Và nó sử dụng vào việc gì?" Người bạn kêu lên trong sự kinh
ngạc, "Ồ, bậc minh sư, ngài nhất định là một minh sư vĩ đại nhất thế gian.
Chỉ có ngài mới có thể quên được cánh cung...cả danh từ của nó và cách sử dụng
của nó mà thôi."
Nghe nói, sau đó, ở thị
trấn này, họa sĩ ném hết cọ vẽ của họ. Nhạc sĩ cắt đứt giây đàn, và thợ mộc
thẹn thùng khi mọi người bắt gặp họ với cây thước..."
Một hôm trong chúng có
người nói với Thiền Sư
Nhất Hưu (Ikky):
"Thưa Thầy, thầy có
thể vui lòng viết cho tôi vài câu châm ngôn về sự khôn ngoan cao siêu nhất hay
không?"
Nhất Hưu lập tức cầm bút
viết. "Chú ý"
"Chỉ có thế thôi
à?" Người đàn ông hỏi. "Thầy có gì thêm nữa không?"
Thiền Sư Nhât Hưu, bấy giờ
lại viết một mạch hai chữ ấy:
"Chú Ý! Chú Ý!"
"Ậy". Người đàn
ông tỏ vẻ bực tức, "Tôi thật không hiểu được bao nhiêu cái thâm sâu vi
diệu trong những gì mà thầy vừa viết!"
Nhất Hưu lại viết một mạch
ba chữ ấy: "Chú ý! Chú ý! Chú ý!"
Nửa giận nửa dằn, người đàn
ông hỏi, "Cái chữ
Chú Ý có nghĩa kiểu gì
vậy?" Nhất Hưu dịu dàng đáp:
"Chú ý có nghĩa là Chú
ý!"
Danh từ "Chú ý!"
chứa đựng toàn bộ thông
điệp của thiền. Fra Giovana
vào thời đại Aldous Huxley (43) bảo, "Sự tối tăm của thế gian không gì
ngoài một chiếc bóng. Sau nó, quá tầm tay với là hạnh phúc. Có một sự rực rỡ và
vinh quang trong bóng tối, có thể nào chúng ta nhận thấy, và để nhận thức được,
chúng ta cần phải chú ý. Tôi yêu cầu bạn hãy chú ý!"
Từ ngữ "Chú ý!"
chắc chắn là toàn bộ tinh yếu của thiền. Làm cách nào để chú ý là cốt tuỷ tinh
yếu của tất cả tôn giáo. Làm cách nào để có thể chú ý với đôi mắt sáng suốt,
tập trung đến mức độ đạt được sự hợp nhất trong sự quán chiếu mà cả đối tượng
và chủ thể đồng biến mất, chỉ sự thanh tịnh còn lại. Trong sự chú ý sáng suốt
đó... không có người chú ý, và không có người chú ý đến đối tượng. Trong sự
quán chiếu sáng suốt đó, Darshan (44), trong viễn cảnh đó, chân lý được khả
tri. Thiền nhân đề cập về Ba Trụ Thiền. Có tất cả là Ba Trụ Thiền, dự bị bạn
làm sao có thể chú ý. Thứ nhất: Vô tướng. Thứ hai: Vô Tâm. Thứ ba: Vô ngã. Điều
này có vẻ lạ lùng, đặc biệt là mọi người đã quen thuộc với tôn giáo được xem
gần như là thành ngữ... Con người có ba sự sống: thân, tâm, và tâm thức. Chính
trị gia, linh mục và học giả thường đề cập đến sức khoẻ, sự quân bình giữa
thân, tâm và linh ngã. Thiền bảo: Vô niệm có nghĩa là vô tâm; vô tướng có nghĩa
là vô thân, vô vật thể; và Vô ngã có nghĩa là vô linh hồn và vô ngã. Thiền dạy
rằng: Thân là cái ngã ố trược... Ngã là số một. Tâm lý vi tế hơn, ít ố trược
hơn, nhưng vẫn là ngã... Cái ngã thứ hai. Và cái gọi là linh ngã là cái ngã vi
tế nhất... cái ngã thứ ba, nhưng vẫn là ngã. Cả ba ngã tạo nên con người, con
người siêu việt.
Thiền đào sâu trong tận
cùng linh ngã nhất của cái ngã bệnh hoạn vốn được xem là con người. Thiền dạy:
Ngọai trừ, con người nhận thức rằng hình tướng là hư huyễn, rằng vọng tưởng là
huyễn tượng, không những vậy, con người tin và kết luận rằng, sau tâm, tự ngã,
cũng hư huyễn... Khi cả ba được khả tri, được chú ý đến, và được thấy nó trong
sự bất thường hằng, nơi đó sẽ phát sanh sự chú ý. Sự chú ý này sẽ cho bạn sự thật,
như nó là... Đây là Ba Trụ Thiền. Vô tướng có nghĩa là tất cả mọi hình tướng
trong thế giới này đều là chất lỏng, trong dòng thay đổi liên tục. Một hài nhi
trở thành một đứa trẻ. Một thiếu niên trở thành một người già nua đang sắp
chết. Sự đang chết sẵn sàng tái sinh lần nữa. Hình tướng này sẽ liên tục thay
đổi qua hình tướng khác. Đây là dòng thay đổi liên tục của mọi hình tướng. Vô
tướng mới trường tồn, bởi không có tướng tồn tại. Chúng có đó rồi mất đó. Sự
sống của chúng chỉ trong mỗi một sát na. Chúng là chiếc bóng của huyễn tưởng.
Chân lý sẽ tồn tại mãi mãi
và mãi mãi. Chân lý là vô tận. Hình tướng không phải chân lý bởi nó không
thường hằng. Hãy quán chiếu mọi hình tướng. Khi Nhất Hưu bảo, "Hãy chú
ý!" Cái nhìn đầu tiên là hãy chú ý đến cái ngã ô trược, trực diện vào hình
tướng. Bạn không là đó. Nó không thật. Thực chất là vô thực chất, là huyễn
tưởng và ảo hóa. Sự chú ý đầu tiên là phải trực diện vào cái ngã thứ nhất này.
Khi bạn hiểu rằng tướng liên tục thay đổi, bạn không thể bám víu vào tướng. Bạn
không thể đồng hóa với tướng. Làm cách nào bạn có thể đồng hóa với cái đến rồi
đi? Vào lúc bình minh, nó là ánh sáng. Vào hoàng hôn, nó là bóng tối. Bạn tĩnh
tọa trong phòng riêng của bạn. Bình minh đến, căn phòng chan hòa ánh sáng. Vào
ban trưa, vào hoàng hôn, nó đã tối tăm rồi và mặt trời biến mất, căn phòng trở
nên tối tăm. Màn đêm đã buông xuống và vô cùng tối tăm.
Bạn không thể nói rằng,
"Tôi là bình minh", "Tôi là ban trưa" hay là "Tôi là
màn đêm." Bạn không thể nói như vậy. Bạn là quan sát viên, một chứng nhân.
Bình minh đến rồi đi. Hoàng hôn đến rồi đi. Bạn liên tục quán chiếu. Vào bình
minh đó là hài nhi. Tuổi trẻ ngự trị ở ban trưa. Tuổi già kề cận với hoàng hôn,
và màn đêm chính là tử thần, và liên tục bánh xe luân hồi vận hành... Nhưng bạn
là ai? Hãy chú ý!
Sự chú ý đầu tiên mà Thiền
sư Nhất Hưu đề cập là hãy trực diện hình tướng, cái ô trược nhất. Hãy học hỏi
bắt đầu từ đó. Một khi bạn đã trực diện cái ô trược nhất, lớp ngã thứ nhất biến
mất. Bạn sẽ đủ khả năng nhận thấy cái ngã thứ hai, tâm. Bạn có thể nhận thấy
thân của bạn chỉ là dòng chảy, biến đổi không ngừng. Tâm bạn cũng vậy! Vọng
tưởng vận hành quá nhanh. Không một khoảnh khắc nào mà tư tưởng đứng yên. Nó
đến rồi đi. Làm sao bạn có thể là những tư tưởng đó? Những tư tưởng này chỉ vận
hành như những vầng mây luôn trôi nổi trên bầu trời cao, như luồng giao thông
trên đường phố. Bạn là quan sát viên. Hãy chú ý...!
Lần thứ hai khi Thiền sư
Nhất Hưu bảo, "Hãy chú ý! Hãy chú ý!" Ý của ngài là hãy chú ý vào cái
ngã thứ nhì này... tức là tâm. Nếu bạn chú ý nó thật kỹ, bạn nhận thức bạn
không phải là tâm. Vô tướng, vô niệm. Cái còn lại là cái ngã vi tế nhất... Cái
ngã thứ ba. Bạn bắt đầu tin rằng bạn là tự ngã. Điều đó cũng là sự giả tạo. Hãy
chú ý đến nó! Bạn sẽ kinh ngạc khi bạn trực diện chính bạn, bạn tìm thấy chỉ
một khoảng không bao la trống rỗng, không có gì cả, thậm chí, tự ngã cũng không
tìm thấy. Các khách thể biến mất. Bỗng nhiên, thậm chí, bạn không còn nhận thức
là chủ thể tại đó. Khách thể, chủ thể đều là những bóng ma. Chúng đồng biến mất,
chỉ còn lại sự tịnh tĩnh, tuyệt đối tĩnh lặng, không âm thanh... của chủ thể
lẫn khách thể. Mọi đối thoại biến mất. Mọi giao động chấm dứt. Hoàn toàn trống
rỗng. Hoàn toàn thanh tịnh.
Khi quán chiếu điều thứ ba,
Thiền sư Nhất Hưu bảo. ""Hãy chú ý! Hãy chú ý! Hãy chú ý!" Lớp
ngã thứ ba là khó khăn nhất, vi tế nhất phải cần chú ý. Có những loại người,
nhóm Duy Vật, họ bảo rằng sự thô tế là thật. Họ chấm dứt tại đây. Họ không vượt
trên đó...Charvakism (45), chủ nghĩa Mác xíc, và cộng sản. Họ dừng lại ở cánh
cửa đầu tiên. Họ không vượt xa hơn đó. Các nhà Duy Tâm đi sâu hơn một chút. Họ
bảo rằng hình tướng không thật, nhưng tâm là thật. Vật thể không thật, nhưng
tâm là thật. Họ tin rằng tâm đối trị vật thể. Họ dừng lại ở ngưỡng cửa thứ nhì.
Sau đó là những nhà Duy Linh, họ lại đi sâu thêm vào một chút nữa. Họ bảo rằng,
thậm chí tâm cũng không thật, chỉ có tự ngã, linh ngã, Atma mới là thật.
Thiền vào sâu nhất, tận
cùng nhất. Không có một ai có thể đi sâu vào tận cùng sự huyền bí Thể Tánh Chân
Như như Đức Phật đã đi qua. Ngài bảo, "Thậm chí tự ngã, thậm chí thần
thức, Atma không thật. Nó là dấu vết cuối cùng của tự ngã. Tuy là dấu vết cuối
cùng nhất, nhưng nó vẫn là dấu vết cuối cùng của tự ngã." Chính ý tưởng
"Tôi là" vẫn còn tồn tại, chiếc bóng của tự ngã cũ kỹ đó. Khi bạn
trực diện vào nó, ngã biến mất. Khi tất cả biến mất, sẽ còn lại gì? Chỉ có sự
quán chiếu thanh tịnh. Thật là vô cùng khó khăn để hiểu ngoại trừ bạn ngộ nhập
vào sự tồn tại của nó. Chỉ có sự quán chiếu thuần khiết... bởi nó trở nên phi
lý. Làm sao có sự quán chiếu thuần khiết khi không còn người quán chiếu? Nhưng
nó là vậy.
Nó là sự nghịch lý. Trong
ngôn ngữ thật khó mà diễn đạt sẽ còn lại gì. Chỉ có sự quán chiếu thuần
khiết... nơi đó không có người quán chiếu! Không có người nào để bạn có thể
quán chiếu. Người quán chiếu và sự quán chiếu, cả hai đồng biến mất. Chủ thể và
đối tượng cả hai đồng biến mất. Chỉ có sự quán chiếu thuần khiết. Một sự tịnh
tĩnh, nhưng là một sự tịnh tĩnh vô cùng sống động. Không có cách định nghĩa bởi
nó không thể định nghĩa. Thậm chí, bạn không thể nói đây là bãn ngã... chỉ là
đang quán chiếu, một Sakshin - chứng nhân, nhưng sử dụng từ ngữ "chứng
nhân" có thể tạo ra rắc rối rồi, bởi giây phút chúng ta sử dụng từ
"chứng nhân" chúng ta bắt đầu tư duy là đang có người nào đó đang
quán chiếu. Vì vậy, Đức Phật dạy, "Không có chứng nhân! chỉ có sự đang
quán chiếu. Không có người quán chiếu! Chỉ có sự quán chiếu. Không có Thiền
nhân! Chỉ có sự thiền định. Không có người đạt đại định. Chỉ có sự đại định
thuần khiết." Điều này thật vô vàn khó khăn bởi chúng ta bị vướng mắc vào
cấu trúc của ngôn ngữ.
Khi có người nào đó đang
chạy, có hai hiện tượng xảy đến. Người chạy và sự đang chạy. Đức Phật dạy rằng
chỉ có sự đang chạy, không có người chạy. Người chạy chỉ là một kết luận. Đức Phật
bảo chỉ có hành động, nhưng không có diễn viên. Khi bạn bảo rằng cây đang mọc,
bạn tin rằng... ngụ ý... cây cối là một biến cố, và sự đang mọc là một biến cố
khác. Đức Phật bảo chỉ có sự đang mọc, không có cây đang mọc. Khi dòng sông
tuôn chảy, bạn bảo là dòng sông luân lưu, Đức Phật bảo chỉ có sự tuôn chảy,
không có dòng sông. Đức Phật thiên về động từ và chúng ta bám rễ vào danh từ.
Điều này đã tạo nên bao rắc rối. Đức Phật dạy là vạn hữu là động từ. Nó là một
tiến trình. Không là gì cả, mà tất cả đều chỉ là những tiến trình. Tôi đang đối
thoại với bạn, nhưng không có người đối thoại. Bạn đang lắng nghe tôi, nhưng
không có người nghe. Nếu bạn có thể thấu hiểu mọi sự tồn tại, chỉ như vậy bạn
có đỉ khả năng để thấu triệt ý của Đức Phật là gì khi ngài dạy rằng thậm chí
lớp thứ ba của tự ngã cũng biến mất. Trong hiện tại, hãy kinh nghiệm mọi thực
tại. Có người lắng nghe hay là chỉ có sự lắng nghe? Nếu bạn nhìn lại, nếu bạn
nỗ lực tóm tắt, người nghe sẽ bước vào. Người nghe là ký ức. Nếu bạn tư duy về
nó, nhất định là bạn sẽ nhận thức người nghe đang tồn tại, bởi người nghe là ký
ức, nhưng khi bạn lắng nghe chỉ có sự đang lắng nghe, không có người nghe, bởi
người nghe là ký ức. Khi bạn chạy, chỉ có sự đang chạy. Khi bạn đến điểm bạn
dừng lại, bạn tĩnh tọa dưới một gốc cây để nghỉ ngơi, và sau đó, bạn hồi tưởng
quá khứ... bạn tìm thấy người chạy. Người chạy là sự tạo nên của ký ức. Nó
không thật trong sự tồn tại. Nó chỉ là dấu vết của ký ức giữa nhiều tác ý. Làm
cách nào hợp nhất mọi tác ý thành một? Những hạt nhỏ của mỗi tác ý cần hợp
nhất, nếu không sẽ rất khó nhớ chúng. Vì vậy, bạn tạo một xâu chuỗi. Bạn kết
những hạt tác ý vào nhau với ý tưởng của người chạy... và nó trở thành tự ngã
của bạn.
Có những tác ý nguyên tử cá
nhân, và không có gì đang kết hợp chúng. Khoa tật lý hiện đại bắt nguồn qua
nguyên lý đó. Quan điểm của khoa vật lý hiện đại về vạn hữu đúng như lời dạy
của Đức Phật, rất gần với lời dạy của Đức Phật. Khoa vật lý hiện đại cũng ghi
chú rằng chỉ sự hiện hữu của nguyên tử, những nguyên tử lực này vô thực chất,
chỉ là lực từ trường, không phải vật thể... chỉ là năng lực từ trường, luôn
thay đổi và không tồn tại. Mọi sự đều nằm trong một dòng chảy. Chúng là ba trụ
huỷ diệt toàn bộ cấu trúc của bãn ngã. Nó là ba ngôi vô cùng phủ định. Đức tin
Công giáo có ba ngôi: Thiên chúa Cha, Con và Thánh Thần. Ấn Độ giáo có khái
niệm của Trimurti (46):Tam Diện. Ba khuôn mặt của Thượng Đế... Thượng Đế, Thánh
nữ Vishu, và Mashes (Shiva), là ba năng lượng phủ định. Tiến trình của Thiền
thiên về thực tại vô cùng phủ định. Có ba trụ: Vô tướng, vô tâm, và vô thần
thức. Khi bạn quán chiếu xuyên qua mọi hiện tượng, và bạn tìm thấy,
"Không. Không. Không." Sẽ còn lại gì đây? Những gì còn lại không thể
định nghĩa. Cái còn lại là sự thật. Đức Phật thinh lặng về nó. Nó không thể
diễn đạt. Khi bạn diễn đạt nó, bạn đã giả định về nó rồi. Trạng thái này, khi
bạn thông qua sự hiểu biết về vô tướng, vô tâm, vô tâm thức... là Wu qua Hoa
ngữ, Đại định trong Phạn ngữ, và Ngộ qua Nhật ngữ, vài kinh nghiệm đại định,
bạn sẽ đủ khả năng để bước vào vào giai thoại tuyệt vời này.
Đại định (Samadhi) có tất
cả là bảy đặc tính. Một là nhất thể, tại trạng thái chỉ là một. Nhị nguyên biến
mất. Sự phân chia giữa sự biết và người biết biến mất.
Sự hợp nhất phát sanh, giao
động chấm dứt. Không còn hai, nhưng hãy nhớ rằng:Giây phút Đức Phật bảo không
còn hai, ngài không có ý rằng nó là một. Ngài hoàn toàn im lặng về cái Một này.
Ngài dạy không có cái Hai bởi khoảnh khắc bạn bảo là Một, bạn mang vào cái Hai.
Một là vô nghĩa, thiếu vắng cái Hai. Không phải là Hai... Chỉ có vậy. Người
chạy và sự đang chạy không hiện hữu nơi đó. Bạn và tôi không có mặt . Người đối
thoại và người nghe không hiện hữu có đó. Sự sống là hệ thống hữu cơ hợp nhất,
bất nhị. Tất cả đồng Nhất thể, nhưng Đức Phật không bao giờ gọi nó là Một. Ngài
rất cẩn thận. Ngài tránh mọi hầm hố luận lý. Ngài vô cùng cảnh giác, không để
rơi vào mọi giả định của luận lý. Ngài không dạy sự sống chỉ Một, bởi ý bạn Một
là gì nếu nó không phải là Hai? Số Một chỉ đầy ý nghĩa với số Hai. Thiếu số
Hai, Một vô nghĩa. Nếu chúng ta bảo rằng Thượng Đế là ánh sáng, nó chỉ đầy đủ ý
nghĩa khi bóng tối tồn tại. Như vậy, Ma vương là bóng tối. Thiếu ngữ cảnh của
Ma vương và bóng tối, vậy "Thượng Đế là ánh sáng" có ý nghĩa gì? Nó
không có ý nghĩa gì cả. Đức Phật chỉ đơn giản bảo rằng Thượng Đế không là ánh
sáng cũng không là bóng tối. Thượng Đế là bất nhị. Chân lý không là bất nhị. Đó
là kinh nghiệm đầu tiên của đại định. Mỗi giây phút trôi qua, đặc tính bất nhị
của vạn hữu biến mất.
Tại sao đặc tính nhị nguyên
này được tạo nên? Nó sáng tạo bởi ba tự ngã . Khi tôi bảo đây là thân như là
thân của tôi, như vậy thân bạn trở thành tướng của bạn. Khi tôi vướng vào hình
tướng của tôi, hình tướng của bạn trở thành vật ngoại thể... Một hình thể khác.
Giây phút tôi nhận thức thân tôi không phải là thân của tôi là giây phút tôi
nhận thức chính tôi là vô tướng, vì vậy hình tướng của người khác không còn. Sự
biến mất của tự ngã chấm dứt với tự ngã của kẻ khác. Không có cái
"Tôi", cái "Bạn" không thể hiện hữu. Chúng hiện hữu chung trong
một đôi. Vì vậy, thể tính đầu tiên của đại định là: Thể tính nhị nguyên của sự
sống biến mất. Sự hòa hợp lớn lao nẩy sinh. Tất cả đồng Nhất thể... Đó là ý
liên hiệp. sự liên hiệp phát sinh bởi cái nhị. Như vậy, sẽ có xung đột, một sự
xung đột liên tục.
Đặc tính thứ nhì của đại
định là "Lạc Căn" (Orgasmicness), lạc thú, đại ân phúc. Ngoại trừ bạn
hoàn toàn xả bỏ mọi ngã tính, bạn sẽ không bao giờ hạnh phúc. Bạn sẽ không bao
giờ cực lạc. Sự đau khổ là sản phẩm phụ của ngã . Bởi có ba tầng lớp bãn ngã,
có ba tầng lớp đau khổ. Khổ thân. Khổ thọ, và Khổ Ngã. Có lẽ bạn chưa nghe loại
đau khổ thứ ba này... Khổ ngã. Có lẽ bạn cũng xem nó như là một loại khổ não,
nhưng hãy để ý: Một người nghèo khó muốn được giầu có. Ông khổ não. Mọi người
biết ông đang khổ não. Nếu bạn đến một linh mục, ông sẽ bảo, "Đừng tham
lam. Tiền tài chỉ là cát bụi. Đừng bận tâm về nó. Nghèo khó là hạnh phúc. Con
phải hài lòng với những gì mà con đang có." Nhưng sau đó, người này cố
gắng trở thành một nhạc sĩ tốt hơn, hay là một thi sĩ hay là một họa sĩ, bạn sẽ
không chống bởi ông không tham tiền bạc. Nếu ông tham quyền và những tham vọng
khác thì mọi người sẽ kết án ông, nhưng bây giờ ông muốn sáng tác một bức họa
đẹp, một tuyệt tác phẩm, viết một vần thơ hay, sẽ không có một ai phê phán ông,
nhưng ông sẽ khổ não. Hiện tại, sự khổ não nào thuộc về phương diện tâm lý. Ông
muốn trở thành Shakespeare.
Vẫn là trò chơi đó trên một
bình diện khác. Trước đó, ông muốn trở thành Roketfeller, bây giờ ông muốn trở
thành Shakespeare, nhưng tham ái vẫn còn. Nếu bạn tìm đến một thiền nhân, ông
bảo sự ham muốn đó vẫn là sự tham muốn phát khởi trên một bình diện khác sâu
thẳm hơn. Hãy buông bỏ nó. Thật vô nghĩa. Thậm chí, nếu bạn muốn trở thành
Shakespeare, không có gì để đạt. Shakespeare cũng khổ như bạn vậy. Thậm chí,
nếu bạn sáng tác một tuyệt tác phẩm của nghệ thuật, bạn sẽ không phúc lạc. Bạn
có thể tìm đến các họa sĩ, các nhạc sĩ nổi tiếng, và họ cũng không hạnh phúc
như bạn hằng suy tưởng.
Nếu bạn muốn thành Phật,
thành Chúa Giê Su, điều đó cũng chẳng giúp đỡ bạn được gì. Bạn trở thành
Krishna. Ở họ, hỷ lạc có mặt. Vì người này muốn nỗ lực để thành một vị Phật,
Chúa Giê Su... Điều đó sẽ tạo nên khổ ngã. Vẫn là sự khổ não đó. Bây giờ, nó
còn thâm sâu hơn. Hiện tại, nó đã đi vào tầng lớp thứ ba rồi... bản ngã. Bây
giờ thì không còn ai phê phán bạn... ngoại trừ bạn gặp một vị Phật, sẽ không có
ai kết án bạn! Họ sẽ bảo bạn là người tâm linh. Nếu bạn than khóc và thống khổ
bởi bạn muốn thành một thánh giả, bạn muốn đạt đại định (Samadhi), Moska, Niết
bàn (Nirvana), ai sẽ phê phán bạn đây? Mọi người sẽ tôn sùng bạn. Họ sẽ bảo,
"Xem kìa! Thật là một bậc thánh giả vĩ đại. Ngài không ham muốn tiền tài.
Ngài không quan tâm đến quyền lực. Ngài chỉ than khóc với Thượng Đế thôi. Ông
mới là bậc thánh giả."
Họ là những con người gọi
là thánh nhân, nhưng nếu bạn nhìn sâu hơn, bạn sẽ thấy họ bị khổ ngã. Vẫn vấn
đề như vậy. Trước tiên, bạn muốn trở thành Rokefeller. Sau đó, bạn muốn trở
thành Shakespeare, và bây giờ bạn muốn trở thành một vị Phật, nhưng bạn vẫn
muốn được trở thành! Sự ham muốn trở thành mãi dai dẳng. Ái dục (Tanha) đang
trở thành vẫn dai dẵng. Sự ham muốn để trở thành một người nào đó vẫn tiếp tục.
Hiện tại, bạn muốn trở thành Thượng Đế, vẫn không có gì thay đổi.
Đó là tam khổ bởi có tam
ngã. Khi mọi bản ngã đều lìa bỏ, khi không còn một ý niệm ham muốn nào còn lại,
khi tất cả mọi ham muốn đều không thành... Xin cho phép tôi được lập lại, trong
phần tâm linh, trong tôn giáo, chí người hoàn toàn thất bại mới thành công. Nó
là nghịch lý. Thất bại hoàn toàn với ái dục là đi vào cõi Phật. Nếu bạn vẫn còn
ham muốn để đến một cõi nào đó, bạn sẽ không bao giờ ngộ nhập thực tại. Vì vậy,
nguồn hy vọng của bạn sẽ kéo bạn đi xa hơn. Một Thiền nhân không nên quá lo
lắng sẽ trở thành một cái gì... thậm chí là trở thành một vị Phật...
Chỉ mới ngày hôm kia, tôi
có đọc về một hành giả tham thiền rất nhiều năm... gần năm mươi năm. Ông đã quá
già rồi. Ông tìm đến một minh sư và bảo ngài, "Năm mươi năm! Ngài có nghĩ
là quá lâu hay không? Tôi đã tham thiền và tham thiền. Tại sao tôi vẫn chưa
thành Phật vậy?" Vị minh sư này cười bảo, "Điều đó đã giải thích tại
sao ông vẫn chưa trở thành một vị Phật bởi vì ông vẫn còn tham muốn trở thành
một vị Phật. Do đó, ông đã lỡ mất cơ hội. Hiện tượng đó đã giải thích tất cả
rồi!"
Nếu bạn muốn trở thành
Phật, bạn sẽ không bao giờ thành Phật được, bởi một vị Phật là người đã lìa bỏ
tất cả mọi ham muốn trở thành, người mà hoàn toàn hạnh phúc trong giây phút
này... dù không lý do gì hết. Ngài không có nơi nào để đến, không có mục tiêu
nào để đạt, không có kết quả để nhắm tới. Ngài xả bỏ toàn bộ sự ham muốn tầng
tầng lớp lớp từ tâm trí. Tâm như một củ hành tây: Một lớp là thân. Lớp thứ hai
là tâm. Lớp thứ ba là ngã. Người đó phải ném hết mọi lớp ngã này, hoàn toàn lột
bỏ hết mọi lớp hành, và vào đến tận cùng cốt lõi... Bạn biết tận cùng cốt lõi
này là gì không? Nó trống rỗng. Nếu bạn tiếp tục lột bỏ củ hành này, cuối cùng
bạn sẽ đạt đến sự trống rỗng. Chỉ có sự trống rỗng này còn lại trong đôi tay
của bạn. Trong sự trống rỗng này là Lạc Căn... là Cực lạc.
Với sự trở thành là nỗi khổ
não. Nếu bạn muốn trở thành một cái gì đó, bạn sẽ đau khổ, căng thẳng và buồn
bã. Nếu bạn hiểu rằng không có gì để thành... bạn đã là... rồi. Bất cứ bạn là
gì... Bạn là! Không có cách nào để cải thiện. Không cần phải cải thiện nó. Như
bạn là đã hoàn toàn lắm rồi! Sự cực kỳ bình thường của bạn đã là vô cùng phi
thường. Nhận thức hiện tượng này sẽ giúp bạn đạt đến hạnh phúc. Toàn bộ sự sống
sẽ mưa hoa trên bạn. Nó luôn mưa hoa nhưng bởi vì bạn quá bận tâm với sự ham
muốn của bạn làm sao để trở thành một cái gì đó, bạn đã không sẵn sàng đón nhận
nó. Bạn không mở rộng với nó.
Đặc tính thứ ba của đại
định là: Sự sáng soi... Sự trong suốt không cùng của nội tại, ánh sáng và sự
sáng suốt. Khi tất cả mọi ngã tính biến mất, mọi bức màn biến mất qua đôi mắt
bạn. Sự chú ý sẽ thuần khiết hơn. Nó không ẩn dấu bất kỳ nơi nào, không trốn
tránh bạn, không ngự trị ở một cõi nào đó. Nó hiện hữu trước mũi bạn, nhưng đôi
mắt bạn khép kín. Khi đôi mắt bạn mở rộng, bạn có sự trong suốt và sự sáng suốt
để nhận thức... sự rõ ràng này! Chân lý rất hiển nhiên.
Đặc tính thứ tư của đại
định là: Nghỉ ngơi. Thư giãn. Làm sao bạn có thể nghỉ ngơi với sự ham muốn liên
tục để trở thành một cái gì đó? Làm sao có thể nghỉ ngơi được? Bạn vẫn sẽ căng
thẳng. Sự nghỉ ngơi chỉ có thể xảy ra khi mọi định hướng đều xả bỏ; khi tâm
thành tựu không còn hoạt động trong bạn, thì đó là nghỉ ngơi, là thư giãn. Tư
tưởng là tâm hành. Vô tâm là tâm đang nghỉ ngơi. Đại định đang quán chiếu cả
hai... chuyển hoá. Bạn chạy đuổi theo mọi ham muốn. Bạn nhận thức hiện tượng đó
và nỗi thống khổ của chúng. Vì vậy, bạn dừng chân. Bạn thấy được vẻ đẹp mỹ lệ
của nó, sự nghỉ ngơi, sự thư giản. Bạn nhận thức cả hai... và người nhận thức
cả hai bỗng nhiên sẽ chuyển hoá cả hai.
Điều này không phải là sự
thư giãn bình thường. Bạn biết sự thư giãn như thế nào rồi. Khi bạn kiệt sức,
bạn thư giãn, hưng sự thư giãn đó là bất thư giãn. Nó không phải là sự ngừng
nghỉ của sự muốn trở thành. Nó chỉ là sự mệt mỏi. Bạn làm việc nguyên ngày. Vào
đêm, bạn chìm vào giấc ngủ say, nhưng giấc ngủ của bạn vẫn không yên. Bạn sẽ có
nhiều cơn ác mộng. Trong giấc ngủ bạn vẫn luôn vận hành. Tâm bạn vẫn tiếp tục
quay cuồng và thêu dệt một ngàn lẻ một cơn huyễn mộng. Thông thường, sự nghỉ
ngơi mà chúng ta biết đến là một mặt khác của sự bất an... mệt mỏi, kiệt sức.
Có một loại thư giãn khác hơn. Khi bạn quá mệt mỏi với mọi ham muốn. Bạn đã
chứng nghiệm được sự yên nghỉ của sự không còn ham muốn nữa, một loại thư giãn
hoàn toàn mới mẻ khác nẩy sinh. Bạn thư giãn bởi không có người thư giãn! Sự
phức tạp vô cùng tận biến mất. Làm sao bạn có thể căng thẳng? Không có một ai
cả. Bạn không thể tạo nên cái gút trong bạn khi bạn không là! Bạn đơn thuần
biến mất. Nó là sự trống rỗng bên trong bạn. Bạn không thể tạo nên cái gút
trong sự trống rỗng.
Đặc tính thứ năm của đại
định là: Tỉnh thức... tâm thức, nhận thức, khả tri, quán chiếu. Đó là trạng
thái thứ tư mà Ấn Độ giáo gọi là Turiya (47). Đó là ý của Thiền sư Nhất Hưu khi
ngài bảo, "Hãy chú ý! Hãy chú ý! Hãy chú ý!" Khi người đó hỏi,
"Ý của ngài là gì khi ngài bảo tôi chú ý?" Ngài dịu dàng trả lời,
"Chú ý có nghĩa là chú ý." Hãy mở to đôi mắt. Hãy cảnh giác, hãy
chánh niệm. Hãy nhận thức sự vật như thật tánh của chúng. Đừng sáng tạo sự giả
tưởng. Đừng phóng chiếu.
Bạn đi xem phim... Có lúc
nên thí nghiệm thử một đôi lần. Đôi lúc nên thử thí nghiệm với máy phóng ảnh
của bạn ở nhà. Bạn treo một cái màn ảnh với một khoảng cách vừa phải thì hình
ảnh sẽ rất rõ ràng. Nếu bạn mang máy phóng ảnh đến gần hơn thì hình ảnh trên
màn sẽ mờ nhạt đi. Nó không rõ ràng nữa. Bạn không thể nhìn rõ hình nào ra hình
nào. Hãy mang máy đến gần chút nữa. Bây giờ thì thật khó mà bạn có thể phân
biệt hình nào là cây cối, hình nào là người đàn ông, hình nào là con chó và
hình nào là chiếc xe. Tất cả đều khuyếch tán. Mang nó đến gần hơn... nó càng
gần hơn thì sự phân biệt càng biến mất. Đến cái điểm mà màn ảnh sát bên máy...
chỉ còn lại một mầu trắng. Những bóng tối mầu đen đồng biến mất... hoàn toàn
một mầu trắng thuần khiết. Khi chùm ánh sáng rời bỏ máy, nó là một mầu trắng
thuần khiết. Càng xa chừng nào, nó sẽ phân hai trắng và đen. Phải cần một
khoảng cách vừa phải để có thể nhìn thấy mọi hình ảnh rõ ràng hơn.
Chính sự tỉnh thức xảy ra
như vậy. Khi bạn thật sự tỉnh giác, bạn gần gũi với thực tại hơn, và mọi phân
biệt chấm dứt. Cây không còn là cây. Sông không còn là sông. Núi không còn là
núi. Tất cả đều tan chẩy thành một. Bạn càng trở nên tỉnh thức hơn. Bạn sẽ nhìn
sự vật rõ ràng hơn... Màn ảnh gần gũi hơn. Chỉ còn có một mầu trắng tinh khiết...
Mọi phân biệt biến mất. Đó chính là sự tỉnh thức. Vì vậy, mọi huyễn tưởng về sự
sống không còn hiệu lực. Chỉ còn có ánh sáng thuần khiết... ánh sáng của sự
tỉnh thức.
Đặc tính thứ sáu là: Bất
tử. Vô hạn. Thường hằng. Nếu bạn không là... làm sao bạn có thể chết? Khi không
còn bản ngã, làm sao bạn có thể chết? Có nhiều người vấn Đức Phật khi ngài còn
tại thế cả ngàn lần câu hỏi mà mọi người vẫn thường hay hỏi, "Chuyện gì
xảy ra cho ngài, bậc Thế Tôn, sau khi ngài tịch diệt?" Đức Phật mỉm cười bảo,
"Không có ai chết cả." Nhưng ngài nhấn mạnh rất rõ rằng, "Ta
không cho rằng ta bất tử. Không có ai để bất tử cả."
Hiện tại, sự vô minh đầu
tiên của chúng ta là chúng ta suy tưởng rằng chúng ta sẽ chết, bởi cái ngã hiện
hữu cho nên chúng ta sợ hãi là chúng ta có thể giữ được mạng sống này không?
Chúng ta bảo
vệ nó hay là không? Sau đó,
có một người nào đó biết. Ông bảo, "Không có gì chết cả." Chúng ta
lại phóng chiếu huyễn tưởng. Chúng ta tư duy rằng chúng ta bất tử, nhưng vẫn là
sự sai lầm đó. Trước tiên, chúng ta suy nghĩ, "Chúng ta sẽ chết." -
Chúng ta đã... và chúng ta sẽ chết. Vẫn chúng ta đã... Hiện tại, chúng ta sẽ
không chết. Đức Phật dạy, "Ta sẽ không chết bởi vì ta không là... Không
phải vì ta bất tử. Không có một ai để chết cả, và sẽ không có một ai bất tử.
Không có tự ngã, làm sao cái chết có thể xảy ra?" Đây là một quan điểm
hoàn toàn khác biệt! Đó là sự khác nhau giữa Vệ Đà và Đức Phật, và cũng là sự
khác nhau giữa Shankara và Đức Phật. Trí tuệ của Đức Phật thâm sâu hơn là của
Shankara. Shankara luôn bảo rằng, "Ngươi bất tử bởi linh hồn của ngươi bất
tử. Nó không thể chết bởi vì nó không có sự chết." Đức Phật cũng dạy rằng
bạn sẽ không chết, nhưng ngài không dạy rằng bạn bất tử. Ngài chỉ dạy,
"Con không bao giờ chết bởi con không thể chết... bởi khởi nguyên con
không là..."
Để nhận thức, "Ta
không là..." là xả bỏ khái niệm tử và bất tử. Thời gian biến mất. Bất tử
của bạn là gì? Nó sẽ là sự gia hạn thời gian, kéo dài ra. Nó sẽ là gì? Bảy mươi
năm trôi qua bạn sẽ sống... thêm bảy trăm năm? bảy triệu năm? nhưng nó chỉ là
sự gia hạn. Cõi vĩnh hằng của bạn là gì? Không gì cả ngoài sự bám víu vào ái
dục. Ái dục vẫn tồn tại. Không có ai để mà bất tử. Đối với các thi sĩ, chính
trị gia, bất cứ một ai mà bạn suy diễn, nhưng đó chỉ là do tâm mong cầu, để trở
thành kẻ vĩ đại nhất trần gian.
Tâm là chuyến du hành của
bản ngã. Tâm muốn đứng trên tất cả. Thực tế, không thể nào được. Do đó, kết quả
là sự thất vọng. bạn không thể là người đầu tiên trên một đường thẳng bởi không
có con đường thẳng nào cả. Chúng ta đang đứng ở một vòng tròn. Lúc nào cũng sẽ
có người khác đứng trước bạn. Bạn không thể nào đạt đến điểm mà bạn là bậc
nhất. Thậm chí người đó là nguyên thủ quốc gia, thủ tướng, hoặc vua chúa, họ
cũng không thể đứng vào bậc nhất. Thực tế, giây phút mà họ cho là họ là bậc
nhất, họ sẽ ý thức rằng họ yếu đuối và bất lực rồi.
Chúng ta không nối đuôi
nhau trên một đường thẳng mà chúng ta đang vận hành trong một vòng tròn. Có
người đứng sau bạn, có người đứng trước bạn. Nếu bạn nhìn sâu hơn, bạn sẽ thấy
rằng người đứng bạn lại là người đứng trước bạn. Người đứng trước bạn là người
đứng sau bạn. Nó là một vòng tròn. Sự sống vận hành trong các vòng tròn, không
trên một con đường thẳng. Vạn vật vận hành theo các vòng tròn! Hãy để tâm bạn
chìm đắm qua sự suy nghiệm sâu sắc này. Mỗi khi bạn gặp khó khăn trong cuộc
đời, lúc nào nó cũng nằm trong cái vòng tròn. Nó không bao giờ là một đường
thẳng. Những vì sao vận hành theo một vòng tròn. Địa cầu vận hành theo vòng
tròn. Thời tiết vận hành theo một vòng tròn. Hài nhi, tuổi niên thiếu, tuổi già
vận hành theo vòng tròn. Vạn vật vận chuyển theo vòng tròn. Sự vận hành của
đường thẳng phát xuất từ sự cấu trúc của tâm, là một tưởng tượng. Thực ra, có
những nhà toán học, những hình học... hệ phái phi Euclean (48) tin rằng bạn
không thể vẽ một đường thẳng. Không thể nào. Đường thẳng không thể nào có thể
vẽ được, bởi chúng ta sống trên mặt địa cầu... Địa cầu là một quả cầu tròn.
Bạn có thể vẽ một con đường
thẳng trên sàn nhà trước mặt bạn, nhưng thật sự nó không thật sự là một đường
thẳng. Nếu bạn tiếp tục vẽ tiếp nối ở cuối hai con đường, có một ngày, nó sẽ là
một vòng tròn vòng quanh trái đất. Vì vậy, nếu nhìn thẳng, nó là một phần của
một vòng tròn vĩ đại. Nó là... một vòng tròn chưa thành hình. Chỉ có vậy. Nó
không phải là một đường thẳng. Các con đường thẳng không thể nào có thể vẽ bởi
đường thẳng không hiện hữu. Albert Einstein (49) chứng thực một điều lạ rằng:
Không gian là một đường cong. Các đường thẳng không hiện hữu, vì vậy không gian
phải cong. Thậm chí, không gian... sự trống rỗng... là đường cong, không phải
đường thẳng. Thật là vô cùng khó để tiếp nhận rằng sự trống rỗng có thể là một
đường cong. Có một cái gì đó cong, nhưng không thể là sự trống rỗng? Sự trống
rỗng là sự trống rỗng! Làm cách nào mà một đường cong phát sanh từ sự trống
rỗng? Nhưng Einstein nói đúng. Ông bảo rằng sự trống rỗng hiện hữu như một
đường thẳng, vì vậy chúng ta không thể tiếp nhận được không gian là một đường
thẳng. Nó là một vòng cong.
Thế giới hiện tượng vũ trụ
này là một đường cong... vì vậy sẽ không ai đứng vào bậc nhất. Người tự xưng
mình là bậc nhất thường là người thất vọng nhất thế gian. Vì lý do đó, Đức Phật
rời bỏ đế quốc của ngài, trở thành một khất sĩ. Ngài ý thức rằng, "Mọi mục
tiêu đều hướng vọng để có thể đứng vào bậc nhất, nhưng ta không là..."
"Thanh Trường muốn trở
thành là đệ nhất xạ thủ trong thế giới này, vì vậy ông trở thành đệ tử của Vũ
Phi. Trước tiên, Vũ Phi ra lệnh ông không được chớp mắt..."
Tập trung là bước cần thiết
trước nhất đối với người có tham vọng. Tập trung là con đường dẫn đến tham
vọng. Người này rất tham vọng. Người thầy bảo, "Được rồi. Việc đầu tiên mà
ngươi cần phải làm là không được chớp mắt..."
"...Thanh Trường bò
dưới khung dệt vải của vợ, và nằm ngửa nhìn không chớp mắt bàn đạp lên xuống
trước mắt ông. Sau năm năm, ông đạt đến cái điểm mà đôi mắt của ông không chớp
dù lông mi của ông có dính vào mắc cửi..."
Ông đạt được sự tập trung.
"Biết làm sao để không
chớp mắt chỉ là bước thứ nhất..."Vị thầy bảo, "Tốt lắm, nhưng nó chỉ
là bước thứ nhất."
"Ngươi phải học cách quan
sát mọi sự vật, đến lúc mà mỗi giây phút có vẻ rõ rệt, những gì cực nhỏ trở
thành lớn lao, lúc đó hãy đến gặp ta một lần nữa..."
Bước thứ hai là quan sát
mọi sự vật thật thấu suốt thậm chí vật vi tế nhất cũng trở thành lớn lao. Tuỳ
thuộc vào cách quan sát của bạn. Nếu bạn quan sát hời hợt, thậm chí ngọn Hi Mã
Lạp Sơn cũng trở thành nhỏ bé. Nó có tính cách tương đối. Nếu bạn quan sát một
cách thấu suốt thì thậm chí một hạt nhỏ nó cũng vĩ đại hơn Hi Mã Lạp Sơn. Tuỳ
thuộc vào sự đối xứng và cách nhìn của bạn thâm sâu đến mức độ nào. Một hạt
nguyên tử cũng trở thành vũ trụ nếu sự chú ý của bạn tuyệt đại thâm sâu. Vũ trụ
trở thành hạt nguyên tử nếu sự chú ý chỉ là nguyên tử. Thông thường, chúng ta
nhìn mọi sự vật rất hờ hững. Chúng ta luôn lỡ cơ hội. Thượng Đế hiện hữu cùng
khắp! Từ mọi cội cây ngài gọi mời bạn, và từ mọi hòn sỏi, ngài mời mọc bạn.
Trong mỗi dòng sông là lời pháp của ngài, nhưng bạn quá hờ hững. Bạn không biết
làm sao để chú ý nên bạn luôn lỡ cơ hội. Ngài trong mỗi giây phút vi diệu nhất,
trong cái cực vi tế, nhưng bạn luôn đánh mất cơ hội. Không phải bởi ngài không
vắng mặt mà bởi bạn không thấy ngài. Bạn không thấy ngài chỉ vì bạn không biết
cách chú ý.
Vị thầy bảo, "Hãy học
hỏi cách chú ý. Cho đến khi ngươi có thể thấy được vật cực nhỏ trở thành khổng
lồ."
"Thanh Trường tìm kiếm
loại côn trùng cực nhỏ đối với đôi mắt của con người bình thường. Ông, đặt nó
trên một chiếc lá và treo nó trong phòng học của ông. Sau đó, ông chọn một chỗ
ngồi và ngồi đó ngày qua ngày để chỉ chăm chú nhìn con côn trùng nhỏ bé này.
Lần đầu tiên, ông không thể nào nhìn thấy con côn trùng này, nhưng sau mười
ngày qua, ông bắt đầu thấy nó như lớn dần lên.
Trong ba năm, ông không bao
giờ rời khỏi phòng. Cuối cùng, có một ngày, ông thấy con côn trùng nhỏ đó lớn
như một con ngựa vậy. "Ta đã thành công rồi!" Ông la lên. Lần này, sư
phụ ông hài lòng bảo ông. "Tốt lắm!""
Bởi người này đã làm một
việc rất có giá trị. Ông hoán chuyển kích thước của loài côn trùng nhỏ bé chỉ
qua sự chú ý liên tục. Bây giờ, vũ trụ có thể tìm thấy trong hạt nguyên tử. Đây
là một bài học cơ bản nhất trong cung thuật. Bạn phải chú ý đến mức độ một vật
cực nhỏ cũng trở thành khổng lồ thì lúc đó mục tiêu của bạn mới không bị sai
lạc. Chỉ có như vậy, bạn mới trở thành một cung thủ. Trong thiền, cung thuật đã
được sử dụng hằng bao nhiêu thế kỷ như là kỹ xảo vào thiền định, bởi nó đòi hỏi
cùng một phẩm tánh như thiền đòi hỏi. Trước nhất: Không được chớp mắt. Bước thứ
hai: Khả năng chú ý sự vật thật chăm chú đến độ có thể thay đổi kích thước của
nó. Kích thước của nó tuỳ thuộc vào sự chú ý của bạn.
"Thanh Trường cuối
cùng trở thành một xạ thủ nổi danh nhất, Không có một kỳ công nào trong nghệ
thuật xạ nào mà khả năng phi thường của ông không vượt qua được. Ông gần như
thành toàn tâm nguyện của ông, nhưng có một hôm, ông bỗng giật nẩy mình, buồn
phiền khi nhận thức rằng, nếu sư phụ của ông, Vũ Phi, còn tại thế thì ông sẽ
không bao giờ có thể được xưng tụng là đệ nhất xạ thủ..."
Tham vọng lúc nào cũng là
vậy. Khi bạn đạt được mục tiêu rồi, bạn luôn nhận thức một sự việc cực kỳ cơ
bản rằng... luôn có một người trước bạn. Tham vọng rất bạo động. Thậm chí, dù
người đó là minh sư, bạn cũng muốn sát hại ông. Con người tham vọng không có
lòng nhân ái. Thậm chí, sư phụ của ông cũng không an toàn. Con người tham vọng
là con người nguy hiểm. Tham vọng là độc dược. Nó đầu độc bạn. Bây giờ thì
người cung thủ này nhận thức một sự thật là, "Ta đã là đệ nhất cung thủ,
nhưng vẫn còn lại một vấn đề. Thầy của ta vẫn còn tại thế. Ta không bao giờ có
thể tự xưng là đệ nhất cung thủ khi ông vẫn còn sống!" Một kết luận tự
nhiên: Phải tiêu diệt ông.
Tham vọng tiêu diệt. Bạn
phải sát hại. Mọi người cần phải bị tiêu diệt bởi vì tham vọng. Trực tiếp hay
gián tiếp, mọi người đều là kẻ sát nhân bởi mọi người đều tham vọng. Không tham
vọng thì bất bạo động. Hãy nhớ kỹ: Bạn không thể bất bạo động nếu bạn vẫn tham
vọng. Bất cứ tham vọng gì cũng ngăn trở sự từ bi của bạn. Làm sao bạn có thể
nhân ái nếu bạn tham vọng? Bạn phải tranh đấu, phải vạch con đường bạn đi? Nếu
có tham vọng, mọi biện pháp đều đúng cả. Bận tâm đến biện pháp mà chi? Kết quả
quan trọng hơn.
"Có một ngày, đang đi
trên một cánh đồng, Thanh Trường trông thấy Vũ Phi ở đằng xa."
Ông thấy một người già.
Người đó là thầy của ông. Người đã dạy dỗ cho ông ta nhiều năm qua.
"Không một phút do dự,
ông lấp tên vào cung, nhắm về hướng sư phụ của mình. Lão sư này, có lẽ cảm giác
được chuyện gì xảy ra, lập tức lấp ngay mũi tên."
Nhất định ông đã nhận thức
ngày đầu tiên người đệ tử này tìm tới ông rồi. Con người tham vọng không thể là
đệ tử. Người tham vọng không bao giờ quy phục. Sự tuân phục của ông ta chỉ có
tính cách tạm thời. Sự quy phục của ông không phát xuất từ trái tim, Vị thầy
này nhất định biết như vậy! "Không sớm thì muộn, người đệ tử này sẽ tìm
cách tiêu diệt ta. Không sớm thì muộn, qua tham vọng, người đệ tử này sẽ có ý
tưởng muốn trừ diệt ta." Vị thầy này chắc chắn đã cảnh giác rồi. Tất cả
các bậc thầy đều cảnh giác đối với những môn đồ đầy tham vọng. Có nhiều khả
năng rằng Judas là một trong đệ tử tham vọng nhất của Chúa Giê Su. Ông phải có
lý do. Ông là người trí tuệ nhất, thông thái nhất, và giỏi tài biện luận nhất.
Ông thường tự cho rằng ông trí tuệ hơn Chúa Giê Su. Ông thường tranh biện với
Chúa Giê Su. Nếu bạn nghe cuộc tranh luận của ông, bạn sẽ bị ông thuyết phục
hơn là bị Chúa Giê Su thuyết phục, bởi Chúa Giê Su không biết tranh luận. Ngài
có lý do của ngài, nhưng những lý do đó rất vi tế. Khi nào bạn có mắt bạn sẽ
thấy, nếu không thì bạn sẽ không bao giờ thấy được. Lý do của Judas rất rõ
ràng, rất quen thuộc.
Có một hôm, có một phụ nữ
tìm đến, đổ lên chân của Chúa Giê Su một loại hương rất là quý báu. Judas đang
đứng đó, và ông không để mất cơ hội. Ông bảo, "Ngài nên ngăn cản người phụ
nữ này mới phải! Thật là lãng phí quá. Loại hương này quí báu đến nỗi cả làng
có thể được mời đến để lễ hội. Trong khi ở làng này có quá nhiều người đói khổ
thì chúng ta không thể phung phí như vậy được." Ông bảo, "Cả làng này
có thể có được một bữa ăn thịnh soạn. Họ có thể hưởng thụ. Ngài nên ngăn cản bà
mới phải! Thật là vô lý!" Chúa Giê Su đã nói gì? Ngài bảo. "Người đói
khổ lúc nào cũng hiện hữu nơi đây. Ngươi có thể phục vụ họ khi ta không còn tại
thế nữa."
Không hấp dẫn cho lắm...
haybạn suy tưởng rằng rất hấp dẫn? Không có sức thuyết phục chút nào. Có vẻ là
một câu tranh biện vô cùng bất lực. "Người đói khổ lúc nào cũng có mặt
nơi. Ngươi có thể phục vụ họ khi ta không còn tại thế nữa."
Trên bề mặt, Judas có vẻ
cứng rắn hơn. Nếu bỏ phiếu, chắc chắn là Judas thắng rồi, nhưng quan điểm của
Chúa Giê Su ở một bình diện khác hơn. Ngài bảo, "Những sự việc này không
đáng kể. Thậm chí, nếu ngươi mời cả làng dự tiệc cũng không giúp gì nhiều,
nhưng nếu ngăn cản người phụ nữ giàu lòng thành tâm này, với lời nguyện thành
kính, sẽ huỷ diệt sự tăng trưởng của bà. Từ chối bà, ngăn cản bà sẽ làm cho bà thương
tổn, bởi bà rất là mềm yếu và mỏng manh."
Chúa Giê Su không quan tâm
đến loại hương này. Cái mà ngài quan tâm là trái tim của người phụ nữ, nhưng
trí não không bao giờ chú tâm đến trái tim. Trí não luôn có lý do riêng của nó.
Đệ tử của Đức Phật, Devadatta,
phản bội ngài. Ông là người trí tuệ nhất, một trong anh em bà con của ngài. Ông
cũng sinh trưởng trong một gia đình quyền quí như Đức Phật. Con rể của Mahavira
cũng phản bội ngài. Ông ta là một con người thông thái, trí tuệ vào bậc nhất
luôn quanh quẩn bên Mahavira. Tại sao? Con rể của Mahavira tham vọng được trở
thành một minh sư vĩ đại nhất thế giới, và Mahavira là chướng ngại của ông.
Ngày nào mà Mahavira còn tại thế thì giấc mộng của ông khó đạt được.
"Khoảnh khắc ngắn
ngủi, hai mũi tên va vào nhau ở giữa từng không và rơi xuống đất. Trận đấu cung
lạ lùng giữa hai thầy trò tiếp diễn cho đến khi ống tên của Vũ Phi không còn
mũi tên nào, và thì còn lại một mũi tên duy nhất trong ống tên của học trò
ông."
Đây là một biểu tượng. Đệ
tử thì trẻ trung. Vị thầy thì già nua. Vị thầy sẵn sàng chờ đợi cái chết đang
dần đến...
"Đây là cơ hội của
ta!" Thanh Trường thì thầm. Lập tức, ông gài mũi tên cuối cùng vào cung.
Thấy vậy, Vũ Phi bẻ một cây gai nhỏ trong bụi cây gần đó. Lúc mũi tên nhắm ngay
tim ông bay tới, ông gõ nhẹ vào đầu mũi tên với đầu nhọn của cây gai và nó rơi
xuống cạnh chân ông."
Đây là kỹ xão cuối cùng mà
vị thầy này chưa dạy cho môn đồ. Mỗi vị thầy đều cẩn thận giữ lại ít nhất là
một môn tuyệt kỷ. Nhưng hiện tại, ông bảo.
"Này bằng hữu của
ta..."
Hãy lắng nghe lời nói của
ông. Ông gọi... "Bằng hữu của ta..." Ý của ông là gì? Ông có ý rằng,
"Ta không còn là thầy của ngươi nữa. Ngươi không còn là học trò của ta.
Hãy tha ta, và quên ta đi! Ta tuyên bố ngươi là bằng hữu của ta. Ta đã dạy dỗ
tất cả mọi tuyệt kỷ cho ngươi... thậm chí đến tuyệt kỷ cuối cùng này. Ngươi đã
thấy rồi và ngươi đã học hỏi nó rồi.
"Ta đã truyền dạy hết
cho ngươi tất cả kiến thức về cung thủ mà ta đã biết. Nếu ngươi muốn đào sâu
hơn trong sự huyền bí này, ngươi phải tìm bậc lão sư Khang Tỉnh. So sánh với
tài xạ thủ của ngài, chúng ta chỉ là trò chơi của trẻ con mà thôi."
Thậm chí nếu Thanh Trường
có sát hại ông, ông vẫn gởi y làm một chuyến du hành khác. Vị thầy này gởi ông
đến vị thầy của mình, một lão sư trên ẩn cư trên núi. Ông bảo, "Những gì
chúng ta biết chỉ là trò chơi của trẻ con. Ta vẫn chưa phải là đệ nhất xạ thủ.
Ngươi có thể tha ta. Nếu ngươi muốn trở thành tuyệt đại xạ thủ, hãy tìm đến sư
phụ của ta. So sánh với tuyệt kỷ của ngài, chúng ta chỉ là con số không mà
thôi."
"Sau bao nhiêu tháng
trường tìm kiếm gian nan, cuối cùng Thanh Trường tìm thấy Kang Ying trong một
hang núi. Ông tuyên chiến với ngài. "Ta tìm đến đây để tìm hiểu ta có phải
là đệ nhất xạ thủ như ta vẫn hằng tưởng hay không." Không chờ đợi câu trả
lời, ông rút mũi tên, lấp vào cung và nhắm vào đàn chim đang bay trên trời, và
bắn rơi năm con chim cùng một lúc. Lão sư mỉm cười bảo. "Nhưng ngươi chỉ
đơn thuần bắn bằng mũi tên và cánh cung mà thôi. Ngươi đã học hỏi cách hữu
chiêu vô tiễn chưa? Hãy theo ta."
Đó là sự khác biệt giữa nhà
chuyên môn và nghệ nhân. Một kỹ thuật gia tinh tường mọi kỹ xảo, nhưng vẫn chưa
đủ. Bạn có thể biết cách họa, nhưng bạn không thể trở thành Michelangelo (50).
Bạn có thể là một nhạc sĩ tài ba, nhưng bạn không thể là Beethoven (51). Kiến
thức về kỹ thuật cần có, nhưng không phải là tất cả. Nó cần thiết, nhưng không
đủ. Sự chuyển hoá chân chính chỉ tìm đến khi chúng ta quên đi mọi kỹ xảo, khi
kỹ xảo không còn cần thiết nữa, khi bạn sử dụng mà không cần kỹ thuật. Ý là
vậy.
"Nhưng ngươi chỉ đơn
thuần bắn bằng mũi tên và cánh cung mà thôi."
Tốt lắm. Chỉ có bao nhiêu
đó... với cánh cung và mũi tên... nhưng không có gì cả.
"Ngươi đã học hỏi cách
hữu chiêu vô tiễn chưa?
Nếu bạn thiền bằng kỹ
xảo... Bạn chỉ đơn thuần bắn bằng cung tên thôi. Ngày mà bạn xả bỏ mọi kỹ thuật
thiền, thiền sẽ tuôn chảy mà không cần bất cứ kỹ thuật gì, và không cần bất cứ
phương pháp nào, đó mới là xạ thủ chân chính. Khi thiền hoàn hảo, thiền biến
mất. Đó là quan điểm của hảo thủ... khi bạn không cần nó nữa. Khi tình yêu trở
thành trọn vẹn, bạn quên mất từ "yêu". Khi bạn thật sự đã đến rồi,
bạn không biết bạn đang hạnh phúc. Làm cách nào bạn biết được bạn đang hạnh
phúc? Chỉ có người thiếu hạnh phúc mới cảm giác được hạnh phúc. Họ chỉ biết
được qua sự so sánh và qua đối cực.
Nếu bạn tạo ra nhạc trên
một nhạc cụ, bạn vẫn chưa biết rằng nhạc đã tuôn chảy với sự sống rồi. Nó không
cần nhạc cụ để sáng tạo nó. Nó chỉ cần một trái tim mở rộng để thưởng thức nó.
Thật ra, khi nhạc được sáng tạo bởi nhạc cụ, có làn hương nhạc phảng phất đâu
đó bao bọc, sự chấn động của vạn hữu phản ảnh trong nó. Chỉ có vậy. Có một kinh
nghiệm gì đó phản chiếu trong nó. Nó là tiếng vọng, một tiếng vọng xa xăm. Thậm
chí hiện tượng đó đã đủ lắm rồi. Vậy còn lời nhạc chân chính thì sao? Lời nhạc chân
chính, ở Ấn, chúng tôi gọi là Anahat Nad... Không cần dạo, không cần phải tạo
nên bởi nhạc cụ, không tạo ra bởi sợi dây kẻm được kéo ra, gõ vào nó, bằng tất
cả nỗ lực, nhưng bằng sự tịnh tĩnh trọn vẹn để người đó có thể thưởng thức nó.
Thiền gọi đó là "Tiếng
vỗ của một bàn tay." Tất cả mọi âm thanh tạo ra âm thanh, gõ vào nhau, hai
tay vỗ vào nhau, nhưng khi đôi tay vỗ vào nhau, âm thanh chỉ tạm thời. Nó sẽ
vang vọng trong chốc lát, sẽ đan kết trong giây phút, và chấm dứt, nhưng có
tiếng nhạc trời, loại nhạc Pythagorean (52) đề cập đến. Nhạc của các vì sao...
mà chúng ta cần nên lắng nghe. Không cần phải sáng tác nó. Nó đã hiện hữu rồi.
Nó đã sẵn có. Nó là chân tánh của vạn hữu.
"Lão sư mỉm cười bảo,
"Nhưng chỉ đơn thuần bắn với mũi tên và cánh cung mà thôi. Ngươi đã học
hỏi cách hữu chiêu vô tiễn chưa? Hãy theo ta."
Thanh Trường lặng lẽ đi
theo sau vị lão sư đến một vách đá vĩ đại nhô ra từ núi. Khi ông nhìn xuống,
đôi mắt ông mờ đi, và đầu óc ông quay cuồng..."
Mảnh đá nhô ra từ vách núi
dựng đứng... và vực thẳm. Nhất định ông cảm giác phát bệnh. Cơn ói như đang
trào dâng từ bao tử ông. Nhất định ông rất là sợ hãi. Nếu bạn sợ hãi, làm sao
bạn có thể là một xạ thủ? Nếu tử thần còn ảnh hưởng bạn, làm sao bạn có thể trở
thành một xạ thủ hoàn hảo? Khi sự sợ hãi hiện hữu, bạn run sợ. Và nếu bạn còn
run sợ, làm sao bạn nhắm mục tiêu một cách hoàn hảo đây? Có lẽ người bình
thường sẽ không thấy tay bạn run rẩy khi bạn bắn mũi tên ra, nhưng làm sao bạn
có thể trốn tránh được đôi mắt của một minh sư. Ngài sẽ thấy đôi tay bạn run
rẩy. Nếu trái tim bạn hồi hộp... Chuyện xảy ra trên vách núi không phải là cái
gì mới mẻ lắm. Chỉ có sự trực diện với tử thần được mang đến như là một sự thật
hiển nhiên để ông phải đối diện mà thôi. Người xạ thủ này hoảng sợ. Nhất định
lúc nào ông cũng sợ hãi tử thần.
Thật ra, tâm lúc nào cũng
sợ chết. Một cái tâm tham vọng càng sợ chết hơn nữa. Sự sợ hãi này là: Ta sẽ
chết trước khi ta thành toàn tâm nguyện của mình? Làm sao ta có thể chịu đựng?
Ta có thành toàn tâm nguyện trước khi bước vào cõi chết hay không, hay là ta sẽ
thất bại? Người tham vọng sợ hãi cái chết hơn là người không tham vọng. Người
không tham vọng không có gì để đánh mất. Nếu tử thần tìm đến... cũng tốt. Ông
không cần thành toàn những tâm nguyện, cho nên tử thần không thể lấy đi những
gì của ông. Vị minh sư này nhất định đã chú ý. Đôi mắt già nua đó có cái nhìn
xuyên suốt. Đôi mắt lão sư nhất định nhận thấy sự run sợ bên trong của người xạ
thủ này. Thật ra, xuyên qua tham vọng, chúng ta muốn chứng minh bản ngã chúng
ta đối với tử thần, nhưng không có gì có thể đối kháng được tử thần. Ngã phải
xả bỏ, phải chết đi. Nó không thể bất tử. Bạn có thể có bao nhiêu của cải bạn
muốn, nhưng bạn vẫn phải chết.
Bạn có thể có đầy quyền
lực, nhưng bạn cũng phải chết. Không có gì có thể bảo vệ bạn.
"Khi ông nhìn xuống,
đôi mắt ông mờ đi, và đầu óc ông quay cuồng. Trong lúc đó, lão sư Khang Tỉnh
chạy thật nhanh..."
Hãy lắng nghe...
"...chạy thật nhanh
trên rìa đá nhỏ hẹp nhô ra trên vách núi thẳng đứng, và quay lại hỏi, "Bây
giờ ngươi có thể cho ta thưởng thức tài nghệ của ngươi rồi. Hãy chạy lại đây,
nơi ta đang đứng và cho ta thấy tài xạ thủ của ngươi."
Khi Thanh Trường bước trên
rìa đá nhỏ hẹp này, nó như lắc lư qua lại. Ông nỗ lực gài mũi tên vào cung,
nhưng cuối cùng ông có cảm giác như ông đang bị mất thăng bằng. Ông vội nằm
xuống bám chặt vào rìa đá với mười ngón tay của ông. Chân ông run lẩy bẩy và
những giọt mồ hôi tuôn ra thấm ướt toàn thân của ông."
Lão sư giúp người xạ thủ
nhìn thấy thực tại của ông. Mọi tự ngã, mọi tham vọng, mọi ý tưởng trở thành đệ
nhất cao thủ của thế gian... kết thúc! Chỉ còn lại sự sợ hãi...và ông ta run sợ
như một đứa trẻ bị lạc. Sự thành đạt của chúng ta đều như vậy. Khi bạn đối diện
với sự chết thì tất cả đều vô nghĩa. Bỗngnhiên, bạn khám phá bạn vẫn là một đứa
trẻ như xưa... luôn sợ hãi... và run rẩy.
"Lão sư cười lớn, vươn
tay ra nắm lấy tay của ông và giúp ông xuống. Nhảy trên mỏm đá, ông nói,
"Hãy cho phép ta, thưa ngài, để biểu diễn cho ngài thấy tài xạ thủ của ta.
" "Nhưng cung tên của ngài đâu?" Thanh Trường hỏi..."
Tự nhiên rằng, nếu bạn tìm
đến Đức Phật, bạn sẽ hỏi, "Bạch Đức Thế Tôn, ngài thiền làm sao? Phương
pháp của ngài là gì?" Nếu bạn tìm đến Chúa Giê Su, bạn sẽ hỏi, "Bạch
Thầy, Thầy cầu nguyện như thế nào? Sự cầu nguyện của thầy như thế nào?" Chúa
Giê Su không có gì để nói với Thượng Đế. Lời cầu nguyện của ngài không phải để
nói điều gì với Thượng Đế. Sự cầu nguyện của ngài chỉ để lắng nghe. Đức Phật
không hành phương tiện thiền nào cả, bởi mọi sự tu tập đều thuộc về tâm. Tâm
phải biến mất. Đức Phật là sự thiền.
Khi mọi người tìm tôi, họ
hỏi, "Osho, ngài có yêu thương chúng con không?" Họ hỏi. Cũng khó cho
họ. Họ chỉ biết có một loại tình yêu... cần phải thực hiện. Họ không biết tình
thương nào khác nữa, một loại tình thương chân chính. Có tình thương và có TÌNH
THƯƠNG! Loại tình thương này không cần phải thành toàn. Nó chỉ đơn thuần hiện
hữu. Tôi không yêu thương bạn. Tôi là tình yêu. Loại tình thương này hoàn toàn
khác. Có lẽ đối với bản ngã của bạn thì cảm giác này không được tối lắm, nhưng
bạn không biết mặt thật của đồng tiền. Bạn chỉ biết mặt giả của đồng tiền. Tình
thương chân chính không phải là mối quan hệ... Nó chỉ là trạng thái của bản
thể.
"Nhưng cung tên của
ngài đâu?" Thanh Trường hỏi, "Cung tên của ta?" "Lão sư
cười lớn bảo, "Xạ thủ nào mà vẫn còn phải cần cung tên thì thuật cung tiễn
của hắn vẫn còn quá hời hợt. Một xạ thủ chân chính sẽ không cần cung tên
đâu."
Nghệ thuật chân chính không
cần đến kỹ xảo. Nếu bạn liên hệ với kỹ xảo, bạn vẫn còn ngoài vòng ngoại biên.
Tốt lắm! Không có gì sai lầm, nhưng nên nhớ rằng: Người đó phải vượt trên nó.
Người đó phải vượt trên mọi sự giam cầm. Người đó phải vượt trên mọi phương
tiện. Người đó phải tự sinh tự phát mà không cần phương tiện nào cả. Thiền
chính là bạn. Tình yêu chính là bạn. Thượng Đế chính là bạn.
"Trên đầu cả hai là
một con chim nhỏ đang bay lượn. Lão ẩn sĩ già nua nhìn lên nó. Thanh Trường
nhìn theo mắt ngài. Con chim bay cao đến nỗi thậm chí với đôi mắt sắc bén của
ông, nó giống như một hột mè nhỏ bé. Khang Tỉnh lấp một mũi tên vô hình vào
cánh cung vô hình vô bóng, kéo dây cung căng thẳng hết mức và thả ra. Trong một
khoảnh khắc, chú chim ngừng vỗi đôi cánh và rơi xuống như một hòn sỏi nhỏ trên
đất. "
Đã xảy ra. Không phải là
một phép lạ. Nếu tâm trọn vẹn trong thinh lặng và chỉ tư duy đến bất cứ cái gì,
nó sẽ xảy ra. Vì lý do đó, tất cả kinh điển của thế gian dạy rằng trước khi bạn
đạt đại định, bạn phải xả bỏ mọi vọng tưởng vô minh từ tâm bạn, nếu không, bạn
sẽ là mối đại hoạ cho nhân loại. Có một bí mật mà Pantajali (53) chắc chắn đòi
hỏi bạn là bạn phải xả bỏ mọi trụy lạc qua tâm bạn. Tại sao Mahavira dạy rằng
phải buông bỏ mọi bạo động, xả bỏ sự không thật, xả bỏ mọi vướng mắc. Tại sao?
Bởi khi bạn đạt được sự tĩnh lặng, bất cứ những gì nẩy sinh trong tâm của bạn
đều sẽ được thành toàn. Bạn có thể trở nên rất nguy hiểm. Đôi lúc xảy ra như
vậy. Đôi lúc tình trạng đó xảy ra và thiền nhân gây nên nhiều mối hoạ cho thế
gian. Như trường hợp của Rasputin. Ông là một thiền nhân. Vì ngẫu nhiên, ông đã
thiền. Ông cầu nguyện thật chăm chỉ. Ông cầu nguyện không biết bao nhiêu năm.
Sau đó, ông đạt ngộ. Vì vậy, ông có khả năng làm được nhiều việc. Bất cứ những
gì ông nói, đã xảy ra. Ông nói với Nga hoàng... Người vợ của nhà vua rất trung
thành với ông, nhưng ông có chút ngần ngại. Rasputin sợ nhà vua sẽ cách chức
ông. Có một ngày ông bảo hoàng đế Nga, "Hãy nhớ rằng, nếu tôi chết, đế
quốc của Hoàng Thượng sẽ sụp đổ theo. Đế quốc của Hoàng Thượng chỉ có thể còn
nếu tôi còn."
Đã xảy ra như vậy. Ông bị
sát hại, và sự kiện trước tiên xảy ra là cuộc cách mạng Nga. Tất cả mọi người
trong gia đình của Nga Hoàng đều bị giết... tám chục người, thậm chí một hài
nhi mới có hai tháng. Những gì mà Rasputin dự đoán đều thành sự thật. Ông quả
là một nhà tiên tri.
Có đôi lúc có người ngẫu
nhiên gặp được thiền. Tốt nhất là tu tập từ từ, cực kỳ cẩn thận. Nó không là
phép lạ! Nếu một lão sư như Khang Tỉnh tưởng tượng con chim nhỏ rơi xuống... nó
sẽ rơi xuống... bởi chúng ta có mối liên hệ lẫn nhau. Chuyện gì xảy ra khi tôi
di chuyển tay tôi? Tác ý nẩy sinh trong tôi đã di chuyển tay tôi, và tay tôi di
động. Bàn tay là vật thể. Tư tưởng không phải là vật thể. Đối với khoa học vẫn
còn là một bí mật. Cho đến bây giờ vẫn không thể nào có thể giải thích được làm
sao nó có thể xảy ra như vậy. Ý tưởng nẩy sinh và bàn tay di động. Nơi nào mà
tư tưởng chuyển hoá thành vật thể, và làm cách nào nó có thể chuyển hoá? Nếu
bàn tay có thể di động, tại sao bàn tay của bạn không di động? Nếu tư tưởng nẩy
sinh trong tôi rằng, "Hãy làm cho tay của ông di động." Tay của bạn
di động. Bạn có thể thử nó. Có đôi lúc, bạn sẽ kinh ngạc. Nó đã xảy ra như
vậy...
Bạn theo sau một người nào
đó. Chỉ nhìn vào cổ của ông ta. Sau vài phút, hãy thầm thì bên trong thật lớn
rằng... Thầm thì thôi, đừng nói ra, "Hãy quay lại nhìn tôi." Bạn sẽ
kinh ngạc. Người đó lập tức sẽ quay lại nhìn bạn. Chuyện gì đã xảy ra? Tư tưởng
đã chuyển tải. Tư tưởng truyền đạt đến người đó.
Một lão sư như Khang Tỉnh
có thừa tiềm năng để hành động như vậy. Chỉ ý tưởng thôi! Con chim không bay
cao lắm. Chúng ta đều hợp nhất. Chúng ta sống trong tư tưởng của đại dương.
Chúng ta đồng hợp nhất. Mỗi người chúng ta có sự ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng ta
là thành viên của mỗi người.
"Trong chín năm
trường, Thanh Trường ở lại hoang sơn với vị ẩn sĩ già nua này. Ông phải trải
qua bao nhiêu sự đào luyện và khổ tập trong núi thì không ai biết được. Sau
mười năm ông trở về nhà. Tất cả đều kinh ngạc trước sự biến đổi của ông. Thái
độ kiêu ngạo và kiên quyết đã biến mất..."
Tất cả mọi tham vọng, mọi
cuộc du hành của tự ngã rằng, "Ta phải là đệ nhất xạ thủ của thế
gian" chấm dứt. Với lão sư, trong thực tế, ngã tính biến mất. Ba tầng lớp
ngã: Thân, tâm, và ngã biến mất... Ông không còn kiêu ngạo. và cũng không khiêm
tốn.
"thay vào đó là sự
bình dị..."
Như con người ngốch nghếch,
đơn thuần, như ông không còn tâm, như ông là người vô tâm, như một hài nhi, hay
là một kẻ đần độn, hoặc như là một con người khờ dại. Đây là trạng thái tối
thượng nhất: trở thành người bình dị. Chuyện như vậy đã xảy ra với Thánh
Francis của thành Assis (54). Ông là người bình dị. Lão Tử, Trang tử, Tôn tử
cũng như vậy. Đặc biệt trong Đạo, đây là trạng thái Vô thượng nhất... để trở
thành người bình dị... không biết cái gì là cái gì, không biết gì cả. Khi mọi
tự ngã biến mất, hoàn toàn là sự tĩnh lặng và thuần nhất. Sự thuần nhất rất là
thân thiết. Người đó không biết gì cả. Nếu người đó không là... làm sao người
đó có thể biết bất cứ vấn đề gì?
"Người thầy cũ của
ông, Vũ Phi tìm đến, chỉ một cái nhìn thoáng qua, ông bảo, "Bây giờ ngươi
đã thật sự là tuyệt đại cao thủ rồi! Kể cả ta cũng không xứng đáng để chùi chân
cho ngươi. " Những cư dân tọa lạc trong thị trấn nơi Thanh Trường đang ở,
tôn vinh ông là đệ nhất cao thủ cung tiễn trên thế gian này, và họ đồng đợi chờ
cái ngày mà ông sẽ biểu diễn tài xạ thủ của ông, nhưng Thanh Trường vẫn bất
động."
Không có ai để thoả mãn sự
chờ đợi của họ. Ông hoàn toàn tịnh tĩnh, và trống rỗng...
"Cánh cung bằng gỗ
dương vĩ đại có lẽ ông đã bỏ lại trên ngọn hoang sơn. Khi có ai yêu cầu ông
giải thích, ông chậm chạp trả lờ, "Trạng thái tối hậu của động tức là
tĩnh. Trạng thái tối hậu của đa ngôn chính là vô ngôn. Trạng thái tối hậu của
hữu chiêu tức là vô chiêu."
Bước tối hậu là phủ định.
Sự khẳng định nằm ở ngoại biên. Sự phủ định là trung tâm. Sự tối hậu là Chân
không - Shunyata.
"Thanh Trường mỗi ngày
qua mỗi càng già yếu đi. Mỗi ngày qua, ông càng như lạc vào trạng thái thân tâm
như như bất động. Ông không còn vướng bận bởi ngoại cảnh nữa. Thân tâm của ông
hiện hữu trong sự yên nghỉ tao nhã và hồn nhiên."
Tao nhã và hồn nhiên...
Không phải vì do huấn luyện mà có được. Nó là sự tao nhã và rất tự nhiên. Ngã
tính biến mất... Vì lý do đó mới phát sanh sự hồn nhiên! Bạn có thể tu tập sự
hồn nhiên, nhưng nó chỉ là sử dụng để trang trí cho bản ngã. Có hai loại hồn
nhiên. Một loại được gọi là Mahatma - thánh nhân, người tu tập nó. Đây là sự
vận hành có tính toán. Một cử chỉ có sự tính toán, khôn khéo thì có nhưng thiếu
sự hồn nhiên. Nó chỉ là bề ngoài. Một loại hồn nhiên khác là: cao nhã, ân
phước, tự nhiên, không do tu tập mà có được. Như là một hài nhi, vô tâm. Vì vậy
mới hồn nhiên, mới tràn đầy ân huệ.
"Nét mặt thản nhiên
như ông không còn phảng phất mọi dấu vết của diễn cảm. Không một tác động bên
ngoài nào có thể làm giao động sự bình thản hoàn toàn của ông. Hiếm khi ông nói
chuyện. Gần đây, không còn ai có thể biết rằng ông có còn hít thở nữa hay
không? Vào lúc cuối đời, ông không còn phân biệt giữa "cái này" và
"cái kia". Ấn tượng đầy cảnh sắc biến ảo của cảm quan không còn làm
cho ông quan tâm. Điều mà ông chỉ bận tâm là mắt ông là tai của ông, tai ông là
mắt của ông, và mũi là miệng của ông..."
Mọi phân biệt chấm dứt. Ông
không biết gì hết. Ông không biết "cái này"và "cái kia".
Một ngàn lẻ một sự hợp nhất thành một. Vạn vật đồng hợp nhất. Chỉ còn là một cá
thể, toàn bộ vạn hữu, không phân biệt, không chia cách. không phân loại, đều xả
bỏ...
"Năm cuối cùng trong
cuộc đời ông, câu chuyện kể rằng có một ngày, ông viếng thăm một người bạn và
ông thấy trên bàn một vật rất là quen thuộc mà ông không thể nào nhớ được nó là
gì. Ông quay lại người bạn hỏi, 'Xin làm ơn cho tôi biết, vật trên bàn là vật
gì vậy? Và nó sử dụng vào việc gì?' Người bạn kêu lên trong sự kinh ngạc.
"Ồ, bậc minh sư, ngài nhất định là một minh sư vĩ đại nhất thế gian. Chỉ
có ngài mới có thể quên được cánh cung...cả danh từ của nó và cách sử dụng của
nó mà thôi."
Nghe nói, sau đó, ở thị
trấn này, họa sĩ ném hết cọ vẽ của họ. Nhạc sĩ cắt đứt giây đàn, và thợ mộc
thẹn thùng khi mọi người bắt gặp họ với cây thước..."
Thiền là như vậy. Thiền
không phải là phương tiện. Thiền vượt trên mọi phương tiện. Thiền không phải là
con đường! Thiền xả bỏ tất cả mọi con đường để về nhà! Thiền không phải là một
hành trình... không có mục tiêu trong nó. Thiền là sự chấm dứt của tất cả mọi
cuộc hành trình, và sự đột ngột nhận thức rằng bạn đã đến đó rồi, rằng bạn đã
hiện hữu tại đây lâu lắm rồi...
Thiền là sự chiếu rọi bất
ngờ, đột ngột, không từ từ... bởi từ từ có nghĩa là phải tu tập từng bước một.
Thiền là sự đốn ngộ. Không có gì phải cần tu tập. Nó đã là như vậy rồi. Cái mà
bạn tìm kiếm đã sẵn có trong bạn. Người tầm đạo chính là Đạo. Bạn chỉ phải chấm
dứt mọi tìm kiếm và mọi chú ý. Hãy chú ý hình tướng của bạn, bạn sẽ không thấy
nó. Hãy quán chiếu tâm bạn, bạn sẽ không thấy nó. Hãy tìm kiếm tự ngã của bạn,
bạn sẽ không thấy nó. Khi tất cả ba tầng lớp ngã này không còn tìm thấy, bạn sẽ
tìm thấy bạn là ai...
Xem tiếp Chương 10 - Quay về Mục lục - Quay về Mục lục Toàn tập