Osho - Thiền - Con đường nghịch lý (Tập 1)
Chương 3: Đạo vốn không lời
"Ðạo vốn không lời," Bồ Ðề Ðạt Ma tổ sư Thiền Ðông Ðộ đã nói như vậy -bởi vì bằng lời nói, thế gian được bắt đầu. Ðúng như những gì mà Thánh Kinh đã nói -"Lúc khởi nguyên đã có Ngôi Lời ". (1) Và lúc kết thúc cũng sẽ là Ngôi Lời.
Cái khoảnh khắc mà bạn đi
vào thế giới ngôn từ, bạn bắt đầu rời xa sự thực. Bạn càng đi sâu vào lời chừng
nào, bạn càng xa rời Thượng Ðế chừng nấy. Lời nói là một hư ngụy lớn lao. Nó
không hề là một chiếc cầu, không hề là một phương tiện truyền thông -mà thật ra
là một chướng ngại.
Bồ Ðề Ðạt Ma nói, "Ðạo
vốn không lời," Nếu tâm của bạn không phát thành lời, trong cái tĩnh lặng
đó chính là Thượng Ðế, là sự thật, là niết bàn. Cái khoảnh khắc mà lời nói chen
vào, bạn không bao giờ còn là bạn nữa. Bạn đã đi xa. Ngôn ngữ đã mở ra một cuộc
hành trình đưa bạn rời xa tự tánh. Thực ra, bạn không bao giờ thoát ra khỏi
chính bạn -nhưng bạn có thể mơ ước điều đó. Thực ra, bạn luôn luôn hiện hữu ở
đó, bạn chỉ có thể ở đó, mà không nơi nào khác -nhưng mà bạn vẫn có thể đi vào
giấc ngủ và mơ một ngàn lẻ một giấc mơ khác nhau.
Tôi sẽ lại một lần nữa kể
cho bạn nghe một trong những câu chuyện hay ho nhất đã được lưu lại -câu chuyện
sa ngã của Adam. Truyện kể rằng Thượng Ðế cấm Adam ăn trái Cây Hiểu Biết. Ðiều
này thì Thiền không có gì để phản đối, bởi vì chính hiểu biết đã làm cho bạn
ngu dốt, chính hiểu biết đã không cho phép bạn nhận thức. Adam đã có khả năng
nhận thức trước khi y ăn trái từ Cây Hiểu Biết. Nhưng ngay từ khoảnh khắc mà y
ăn trái cấm này, cái khoảnh khắc mà y trở nên hiểu biết, y đã không còn biết gì
nữa. Y đã giả từ sự ngây thơ vô tội. Y trở nên lém lỉnh, sắc sảo hơn. Trí tuệ
đã ra đi. Vâng, trí thức có thể gia tăng nhưng trí tuệ không còn nữa. Trí thức
không những chẳng dính líu gì đến trí tuệ mà còn là sự tương phản, đối nghịch.
Bạn càng trở thành người trí thức chừng nào, bạn càng trở nên kém trí tuệ chừng
nấy.
Thật ra, trí thức là vật
thay thế để che dấu sự thiếu trí tuệ của bạn; nó là bạc giả. Bởi vì bạn không
có trí tuệ nên bạn thay thế nó bằng trí thức. Trí thức là một cái gì đó rẽ tiền
mà bạn có thể mua sắm dễ dàng ở bất cứ nơi đâu. Trong thực tế, người ta sẽ rất
sẵn lòng san sẻ kiến thức của họ cho bạn. Người ta sẽ rất sẵn sàng quẳng tất cả
những cặn bả rác rưới của họ lên người bạn.
Adam trở nên người có kiến
thức -kể từ khi sa ngã. Kiến thức vì thế chính là sự sa đọa.
Câu chuyện kể rằng Adam đã
ăn một trái táo, một quả từ Cây Hiểu Biết. Ðây không thể nào là một trái táo.
Những trái táo không hề được nuôi lớn từ Cây Hiểu Biết. Có một đìểm nào đó trong
câu chuyện không được ổn. Những trái táo rất là ngây thơ vô tội -bạn không thể
bị tống cổ, trục xuất ra khỏi thiên đường chỉ vì ăn một trái táo. Thượng Ðế
không thể nào quá đỗi giận dữ như thế đối với bạn.
Không, không thể nào là một
trái táo; táo chỉ là sự ẩn dụ. Ðây phải là lời nói, ngôn ngữ. Trên Cây Hiểu
Biết kết đầy những trái ngôn từ, ý niệm, triết lý, hệ thống -không hề là những
trái táo. Hãy quên trái táo của bạn đi. Hãy nhớ rằng đó là ngôn ngữ.
Và rồi, con rắn là người
thầy giáo đầu tiên của nhân loại, trong hệ thống giáo dục sơ khai. Con rắn -kẻ
lừa mị đầu tiên đó, cũng là người viện sĩ đầu tiên của chúng ta. Y đã dạy bài
học bịp bợm gian trá đầu tiên về hiểu biết: xúi biểu Eve ăn trái cấm. Y đã
không thể thuyết phục được Adam một cách trực tiếp. Tại sao như thế? Tại sao y
phải thuyết phục Eve trước tiên? Bởi vì Eve dễ dàng bị tấn công hơn. Phụ nữ
luôn luôn dễ bị tấn công, họ cởi mở, nhu nhược và mềm yếu hơn. Họ rất dễ bị
người ta xỏ mũi lôi đi ; họ rất dễ dàng bị ám thị ; họ có thể bị thôi miên dễ
dàng hơn một người đàn ông. Thế là con rắn đã thuyết phục được người đàn bà. Y
không những là nhà viện sĩ đầu tiên mà còn là người chào hàng đầu tiên của nhân
loại nữa. Và y là người chào hàng thành công.
Tuy nhiên y đã không làm
điều gì sai trái. Những gì y nói ra đều đúng sự thật. Y nói rằng, "Bạn sẽ
trở thành người hiểu biết, nhận thức được cái gì là cái gì. Không ăn trái cây
này, bạn sẽ không bao giờ biết gì cả."
Có một loại hiểu biết hoàn
toàn khác biệt: bạn biết và đồng thời cũng không thể biết được cái gì là cái
gì. Ðây là một loại hiểu biết khá phức tạp. Nó không được xếp loại, phân chia
hay phân tích. Adam chắc là đã sống trong trạng thái ngây thơ vô tội không thể
phân tích đó. Khoa học không có mặt ở đây; chỉ có tín ngưỡng -tất cả được bao
phủ trong một bầu khí tín ngưỡng. Adam chắc chắn là một huyền nhiệm trước khi
ăn trái Cây Hiểu Biết -mọi đứa trẻ đều là một huyền nhiệm. Mọi đứa trẻ được
sinh ra như là một huyền nhiệm trước khi chúng ta lôi chúng vào trường học, hệ
thống giáo dục, làm quen với các con rắn. Con rắn đó chính là văn minh, văn
hóa, là điều kiện cách.
Con rắn là một sinh vật qủy
quyệt và là một ẩn dụ khá hoàn toàn. Nó rất là gian manh, trơn tuột như lươn
-chẳng khác gì luận lý. Bạn không thể biết trước nó đi đến đâu. Nó đi không cần
đến chân; không chân mà vẫn di động, mà lại di động rất nhanh. Giống như những
điều dối trá. Dối trá thường không có chân đứng cho nên phải mượn đỡ đôi chân
từ chân lý; đó là lý do tại sao mọi điều dối trá đều luôn luôn cố gắng tối đa
để chứng tỏ rằng mình là chân lý. Nhưng chẳng qua đó chỉ là những cặp chân vay
mượn.
Con rắn -người thầy giáo,
vị viện sĩ đầu tiên của chúng ta- đã thuyết phục Eve không mấy khó khăn, và
Adam dĩ nhiên đã bị Eve thuyết phục tin theo mình. Người phụ nữ luôn luôn rất
có uy thế với đàn ông -tất cả những gì mà người đàn ông suy nghĩ đều không được
đếm xỉa đến, ấy thế mà y cứ luôn làm bộ như mình là quan trọng; như mình có
nhiều uy thế hơn. Thật là vô nghĩa. Và người đàn bà cứ để cho người đàn ông
nghĩ như thế -hoàn toàn "okay", không có vấn đề, cứ để cho y nghĩ như
thế. Ðiều này có làm đổi thay được tình huống gì đâu. Người đàn bà luôn luôn là
kẻ cầm cân nẩy mực.
Mọi chuyện đều có lý lẽ của
nó... Giống cái luôn có uy thế hơn giống đực; nhu luôn thắng cương, nước chảy
đá mòn. Bạn có thể hỏi Lão Tử, nhà minh triết phương Ðông, về chuyện này. Ông
ta biết rất rõ. Ông ta biết rất rõ dù không phải là người giàu kiến thức. Ông
ta bảo rằng nếu bạn muốn có quyền lực lâu dài, hãy trở thành nhu, hãy trở nên
thụ động. Thụ động luôn luôn có sức mạnh hơn, hàm súc hơn năng động -đó là lý
do tại sao đàn ông không thể mang thai. Y chẳng khác gì một bãi sa mạc cằn khô.
Chỉ đàn bà là có khả năng mang thai, mang sức sống tiềm ẩn. Người đàn bà chuyên
chở sự sống; chứa đựng đời sống ở trong họ. Rất nhiều đời sống.
Adam đã bị lọt bẩy, rất
thích thú với điều này. Anh ta chắc đã nghĩ rằng nếu càng có nhiều kiến thức y
sẽ càng trở nên năng động hơn, sẽ hiểu biết nhiều hơn. Y chắc chắn đã trở thành
một con người đầy tham vọng. Ðó là những gì mà con rắn đã mang đến. Con rắn há
đã chẳng nói rằng, "Nếu bạn ăn trái táo này bạn sẽ chẳng khác gì Thượng
Ðế, đầy quyền lực như Thượng Ðế -đó là lý do mà Thượng Ðế cấm bạn ăn trái cấm
này. Ngài lo sợ, ngài ghen tức với bạn."
Mỗi đứa con trai trong gia
đình đều có cung cách suy nghĩ như vậy -rằng người cha đang ghen tức với mình,
rằng cha mình lo sợ mình, rằng ông ta không bao giờ muốn con cái có quyền để
ông có thể luôn luôn điều khiển được chúng.
Câu chuyện ngụ ngôn trong
kinh thánh này là một câu chuyện ngụ ngôn rất hay ho, chứa đựng nhiều ý nghĩa
thâm thúy.
Adam nguyên ở trong trạng
thái hiểu biết đơn thuần, thế rồi y trở thành con người có kiến thức. Thế là
tôn giáo tín ngưỡng biến mất, và khoa học lên ngôi. Khoa học ... cái tiếng
'khoa học' rõ ràng đã mang sẵn ý nghĩa kiến thức. Thế nên những trái cấm đó
chính là trái cấm khoa học. Adam đã đánh mất sự hồn nhiên vô tội và trở thành
người lém lỉnh xảo quyệt.
Ðiều này xảy ra cho tất cả
mọi đứa trẻ được sinh ra trong thế giới này. Mỗi đứa trẻ đều được sinh ra trong
khu vườn của Thượng Ðế -Vườn Ðịa Ðàng Eden- và rồi chúng bị rù quyến bởi những
con rắn văn minh, văn hóa, giáo dục. Mỗi đứa trẻ đều bị điều kiện hóa, bị lôi
kéo, bị điều khiển nhằm hướng đến tham vọng, những mục tiêu thoả mãn bản ngã
-có quyền lực như những ông thượng đế, đó là tất cả tham vọng của khoa học.
Khoa học tin rằng một ngày nào đó mình có thể khám phá ra tất cả mọi bí ẩn của
vũ trụ và con người trở thành thượng đế, với quyền lực bất tận. Ðó chỉ là một
tham vọng, một cuộc phiêu lưu của bản ngã.
Chúng ta kéo lê từng đứa
trẻ hướng về bản ngã cá nhân mà bản ngã thì lại sống bám vào ngôn ngữ. Thế nên
một đứa trẻ càng nói sỏi chừng nào nó càng trở nên vị kỷ chừng nấy. Khả năng
diễn tả, truyền đạt ý tưởng của nó bằng lời càng xuất sắc chừng nào, nó càng
trở nên nổi tiếng chừng ấy. Nó sẽ trở thành nhà lãnh đạo hay văn hào, nhà thơ,
v.v... -đây là những con người nổi tiếng nhất trên thế giới. Nó cũng có thể trở
thành nhà tư tưởng, giáo sư Ðại học hay là một triết gia. Ðây là những con
người chuyên chế ngự kẻ khác.
Tại sao họ có thể chế ngự
trong thế giới này? Một người ăn nói lưu loát là một người có khả năng chi
phối. Làm gì có chuyện một anh lãnh đạo đần độn, ăn nói không ra hồn, không
diễn tả được những điều mình suy nghĩ lại trở thành nổi tiếng? Không bao giờ. Danh
tiếng đến từ ngôn ngữ. Thế là đứa trẻ bắt đầu ngày càng trở nên gắn bó với ngôn
ngữ, với lời nói -và Bồ Ðề Ðạt Ma cho rằng, "Bất lập văn tự."
Tôi đã gọi con rắn là người
thầy giáo đầu tiên. Thế nên nỗ lực chính của một vị Ðạo Sư tôn giáo không gì
ngoài việc làm thế nào để giải trừ con rắn này, làm thế nào để giải trừ tất cả
những gì mà bạn đã được dạy dỗ, làm thế nào để giải trừ cả một hệ thống giáo
dục, làm thế nào để giải phóng bạn ra khỏi tình trạng bị điều kiện hóa, làm thế
nào để giúp bạn giải trừ ngôn ngữ. Khoảnh khắc mà ngôn ngữ được giải trừ, bạn
trở lại thành con người ngây thơ vô tội -đó là cái mà người ta gọi là thánh
quả, là ngây thơ, là vô nhiễm nguyên tội.
Cái khoảnh khắc mà ngôn ngữ
lìa khỏi tâm và bạn không bao giờ còn quay cuồng chung quanh lời nói, một sự
tĩnh lặng vô biên xuất hiện... sự tĩnh lặng mà hầu như bạn đã lãng quên từ một
thuở xa xưa nào đó. Bạn không hề được cảnh báo rằng bạn đã từng có nó. Nó tràn
ngập bạn khi bạn còn là bào thai nằm trong bụng mẹ. Nó chan hoà hiện hữu khi bạn
mới sanh ra, lần đầu tiên mở mắt chào đời. Nó luôn ở đó, cực kỳ sống động. Bạn
sống trong nó vài ngày, vài tháng, vài năm. Và rồi nó biến mất, từ từ biến mất.
Những bụi bặm chồng chất và rồi tấm gương không còn phản chiếu nữa. Khi người
ta nói rằng bạn đã trưởng thành cũng có nghĩa là bạn đã đánh mất đi sự thơ ngây
vô tội.
Người ta đã làm hư hỏng đời
bạn, người ta đã thôi miên và đưa bạn vào ngôn ngữ. Bây giờ bạn nghĩ rằng mình
thấy, nhưng thực ra bạn không nhìn thấy gì hết. Bây giờ bạn nghĩ rằng mình biết
nhưng thực ra bạn không biết gì cả. Bạn quanh quẩn hết chỗ này đến chỗ nọ nhưng
không bao giờ đi vào đúng mục tiêu. Bạn chỉ chạy lòng vòng thôi. Bạn sẽ nói về
Thượng Ðế, nói về tình yêu, nói đủ thứ chuyện nhưng bạn chẳng hề biết rõ cái gì
cả -bởi vì để biết về yêu bạn phải yêu trước đã. Suy nghĩ về nó, đọc trăm cuốn
sách về nó cũng chẳng ích lợi gì hết. Bạn có thể trở thành một chuyên gia nặng
ký về tình yêu nhưng thực ra bạn hoàn toàn mù tịt về nó. Phải thực chứng trước
đã. Ngôn ngữ cực kỳ tráo trở. Nó thay thế chân lý bằng sự nói về chân lý.
Một hôm có một người đến
gặp tôi và cho biết, "Bây giờ tôi mới được biết về Thượng Ðế." Tôi
trả lời, "Tại sao lại biết về? Tại sao không tự mình chính là Thượng
Ðế?" Vâng, tại sao lại biết về? Nó giúp ích được cái gì khi bạn chỉ biết
về Thượng Ðế? Vâng, bạn có thể tích luỹ được một số thông tin, dữ kiện, bạn sẽ
trở nên giàu kiến thức -nhưng điều này chẳng giúp ích gì cho bạn cả, nó chẳng
hề làm bạn thăng hoa, chẳng hề biến thành ánh sáng giác ngộ ở trong bạn. Bạn
vẫn chìm ngập trong bóng tối như bao giờ.
Tất cả những nỗ lực của
Chúa Giê Su, của Ðức Phật, của Bồ Ðề Ðạt Ma không gì khác hơn ngoài việc làm
thế nào để giải trừ tất cả những gì mà xã hội đã tác động lên bạn. Ðây là những
con người chống lại xã hội nhất trong thế giới này. Họ phá hủy tất cả những gì
mà xã hội đã tạo dựng lên chung quanh bạn, tất cả những rào chắn chung quanh
bạn, tất cả hàng rào phòng thủ chung quanh bạn, tất cả những bức tường chung
quanh bạn -họ phá hủy, tiếp tục phá hủy. Như là những con người hư vô chủ nghĩa
vĩ đại. Chỉ có một việc đơn giản là phá hủy -Phá hủy bởi vì không cần thiết
phải tạo dựng lên. Nó đã có sẵn ở đó. Ðâu cần phải sáng chế ra mà chỉ cần khám
phá ra. Hay, nói một cách chính xác hơn, khám phá trở lại.
Bạn đã từng biết nó. Thế
nên đó là lý do tại sao mà chúng ta luôn luôn có một cảm giác thoáng qua về cực
lạc. Có khi chúng ta biết nó là cái gì nhưng mà rất khó dùng ngôn từ để diễn
tả. Chúng ta đang tìm kiếm nó. Chúng ta đang mò mẫm trong bóng tối để hướng về
một cái gì đó gọi là cực lạc. Nếu trước đây bạn chưa hề biết nó, tại sao bây
giờ bạn lại tiếp tục mò mẫm kiếm tìm? Chắc chắn là bạn đã có lần biết nó. Bây
giờ có thể bạn đã quên đi, đúng vậy, nhưng bởi vì bạn đã từng biết qua thế nên
trong tận cùng sâu thẳm của tiềm thức, trong ngỏ ngách sâu kín của tâm hồn, bạn
vẫn mang theo với bạn giấc mơ cùng nỗi nhớ nhà.
Trường hợp này cũng giống y
như vậy. Bạn đã từng biết Thượng Ðế. Bạn đã từng sống như là một Thượng Ðế. Khi
bạn còn là một đứa trẻ, bạn sống hồn nhiên không bản ngã -trước khi tiếp xúc
với con rắn lần đầu tiên. Bạn đã từng được biết qua, ngày đó đôi mắt của bạn
hoàn toàn trong sáng, và tất cả mọi thứ đều trong suốt, bạn có thể nhìn xuyên
qua không có gì ngăn ngại. Bạn đã từng sống như là một Thượng Ðế, từng biết qua
cực lạc là gì nhưng nay bạn đã quên đi. Thế nhưng trong tận cùng tiềm thức nó
vẫn không ngừng nhắc nhở bạn -"Hãy đi tìm. Hãy tìm nữa."
Từ đó bạn tìm kiếm Thượng
Ðế, bạn tìm kiếm thiền định, bạn tìm kiếm yêu thương, bạn tìm kiếm tất cả những
gì có thể tìm kiếm được. Có lúc bạn đi đúng hướng, có lúc bạn lạc đường, thế
nhưng bạn vẫn tiếp tục đi tìm kiếm cái mà bạn biết đã có lần ở đó và bây giờ
không còn nữa. Ðến cái ngày mà bạn biết được Thượng Ðế là gì, cái ngày mà bạn
thân chứng được điều này, bạn sẽ bật cười sảng khoái : "Ðây là Thượng Ðế
sao? Ta đã từng biết rồi mà. Ta có thể nhận ra được." Ðó là cách mà con
người đã nhận ra Thượng Ðế như thế nào, bằng không làm sao họ có thể nhận ra
được? Nếu một ngày nào đó bạn đi ngang qua tôi, và nếu bạn không biết tôi trước,
làm sao bạn có thể nhận ra tôi?
Con người đã từng nhận biết
nó. Khoảnh khắc mà Ðức Phật đạt đến giác ngộ, Ngài có thể nhận ra ngay lập tức,
"Vâng, nó đây rồi". Khi Bồ Ðề Ðạt Ma đạt đến khoảnh khắc đó, Ngài cả
cười, "Nó đây mà? Trong tuổi ấu thơ của ta, nó đã từng ở đó. Nhưng rồi nó
đã bị hủy diệt, nó đã bị nhiễm độc. Bụi bặm đã quẳng vào mắt ta và sự trong
sáng không còn nữa. Bây giờ thì đôi mắt ta đã phục hồi chức năng trở lại và ta
có thể trông thấy nó."
Thượng Ðế hiện hữu như thế.
Bạn chính là Thượng Ðế mà không hay, vị Thượng Ðế đang ngủ quên chưa ai đánh
thức dậy.
Thêm một chi tiết chung
quanh câu chuyện trong Kinh Thánh. Chuyện kể rằng Thượng Ðế đã trục xuất Adam
ra khỏi Vườn Ðịa Ðàng. Ðiều này không đúng. Thượng Ðế không thể trục xuất bất
cứ ai. Thượng Ðế không hề có quyền lực trong lãnh vực này. Thượng Ðế trục xuất
người ta đi đâu? Làm ơn cho tôi biết. Chỗ nào? Ở đâu cũng là vườn của Ngài. Bất
cứ bạn ở chỗ nào chỗ đó vẫn là vườn của Ngài. Từ đầu này cho đến đầu kia, đâu
đâu cũng là Vườn Ðịa Ðàng Eden. Không cách gì có thể trục xuất được. Vương quốc
của Thượng Ðế là vô tận. Làm thế nào mà Ngài có thể trục xuất bạn được? Trục
xuất bạn đi đâu bây giờ? Ðâu có chỗ nào khác? Thế giới của Ngài là duy nhất,
đâu còn thế giới nào khác. Thế nên Adam không hề bị trục xuất bởi lẽ không có
chỗ nào để trục xuất.
Thứ hai, Thượng Ðế không
thể trục xuất bởi vì Adam cũng chính là Thượng Ðế. Adam là một phần của Thượng
Ðế. Làm thế nào bạn có thể trục xuất một phần thân thể của chính mình? Tôi
không thể nào trục xuất tay của tôi hay chân của tôi. Không thể nào. Trục xuất
Adam cũng chẳng khác gì Thượng Ðế tự làm cho mình trở nên tàn tật. Không hề có
chuyện như vậy, Ngài không thể nào làm như thế; Ngài không phải là kẻ bạo dâm
nên không thể nào tự cắt xẻo mình ra thành từng bộ phận. Thượng Ðế rất nhân từ.
Và như thế, Adam không thể nào bị trục xuất.
Như vậy thì chuyện gì đã
xảy ra? Anh chàng Adam chắc chắn thế nào cũng cảm thấy buồn ngủ. Ăn trái Cây
Hiểu Biết xong là y sẽ chìm vào cơn buồn ngủ thôi. Bây giờ y sẽ không còn nhìn
thẳng vào thực tại nữa mà bắt đầu mơ mộng về nó. Bây giờ thì y có những ý tưởng
riêng, ý niệm riêng, thị kiến riêng của mình. Bây giờ thì y trở thành nhà chế
tạo, và tha hồ sáng chế. Thay vì nhìn thực tại với nguyên dạng, y lại sáng chế
ra. Y sử dụng thực tại nguyên dạng như là cái màn ảnh để phóng chiếu cái thế
giới ngôn ngữ ý niệm của riêng mình.
Ðó là lý do tại sao Bồ Ðề
Ðạt Ma tuyên bố, "Bất lập văn tự". Và nếu bạn đã lập thì hãy nên tháo
rời, buông bỏ. Ðây là một trong những thông điệp căn bản nhất của Thiền. Tiếng
Trung hoa gọi tình trạng này là 'mo chao' -mặc chiếu- khi bạn không còn dùng
đến ngôn ngữ văn tự. Mo -mặc- có nghĩa là yên tĩnh, yên lặng và 'chao' có nghĩa
là chiếu. Từ chiếu (reflection) này không mang cái ý nghĩa như ta hiểu thông thường
trong Anh ngữ, tức không phải là quán chiếu. Ý nghĩa thực sự của nó bao hàm sự
phản chiếu với phẩm chất của một tấm gương. Mặt hồ đang yên lặng -không một gợn
sóng lăn tăn. Nó phản chiếu một cách hoàn toàn, như trong đêm trăng rằm, vầng
trăng được phản chiếu trọn vẹn trên mặt hồ.
Bạn đã từng trông thấy
chưa? Cái vầng trăng được phản chiếu trên mặt hồ còn đẹp tuyệt vời hơn cả vầng
trăng trên bầu trời kia nữa. Có một cái gì đó đã được điểm xuyết vào -phải
chăng là cái quang cảnh thanh vắng, tĩnh lặng, mát mẽ của chiếc hồ? Và cả cái
tấm gương trong xinh xắn kia. Khi Thượng Ðế phản chiếu vào bạn, vào cái tình
trạng mặc chiếu đó, Thượng Ðế cũng trở nên xinh đẹp rực rỡ bội phần. Một chất
liệu gì đó đã được bỏ thêm vào.
Thế rồi bạn suy nghĩ, cũng
có nghĩa là lúc bạn làm cho mặt hồ sóng gợn. Chiếc hồ nay ở trong tình trạng
xáo động. Bạn không còn ở trong tình trạng phản chiếu. Bạn ở trong tình trạng
phá hủy thực tại. Mặt trăng sẽ không còn phản chiếu nguyên dạng nữa, nó bị hủy
diệt bởi những gợn sóng do bạn gây ra. Nếu đó là những lượng sóng lớn, tầm mức
hủy diệt lại càng lớn hơn. Thế là chẳng những bạn không thêm được gì vào nét
đẹp của vầng trăng mà ngược lại bạn tước đoạt hoàn toàn nét xinh xắn đó. Và rồi
sự thật bị bóp méo. Trăng không còn là trăng mà là một cái gì đó rất xa lạ,
không đúng với sự thật. Hoàn toàn không đúng.
Tình trạng mặc chiếu này
được diễn tả trong một bài thơ nổi tiếng của Thiền Sư Hung Chin :
Khi bỏ quên mọi ngôn từ
chìm khuất vào lặng yên, tĩnh mịch ;
Thực tại xuất hiện trước
mặt ta sống động rõ ràng.
Nó bao la vô bờ khi ta thực
chứng ;
Trong Bản thể của nó, ta
trở nên tỉnh thức.
Tuệ giác sáng ngời được
phản chiếu
Ðầy kỳ diệu là sự phản
chiếu thuần khiết này...
Giọt sương và vầng trăng,
Những ngôi sao và những
dòng suối
Tuyết bám trên những cành
thông
Những đám mây lửng lơ trên
đầu núi-
Từ bóng tối, tất cả bừng
lên trong ráng hồng rực rỡ ;
Từ tối tăm, tất cả nhuộm
trong ánh sáng lộng lẫy chan hòa.
Nỗi ngạc nhiên vô tận thấm
vào sự tĩnh lặng này ;
Trong phản chiếu này mọi nỗ
lực cố ý đều biến mất.
Tĩnh lặng là lời nói cuối
cùng của mọi lời giáo huấn.
Chân lý của mặc chiếu
Là viên mãn và viên thành.
Hãy nhìn xem ! Trăm nhánh
sông đang xuôi chảy
Tuôn trào thành những dòng
thác
Xuôi về đại dương !
Thiền được đặt cơ sở trên
mặc chiếu -mochao. Cần phải hiểu rõ điều này. Nhưng khi nói tịch tĩnh không có
nghĩa là một sự vắng lặng cưỡng chế. Bạn có thể ép cho tâm của bạn trở nên vắng
lặng nhưng điều này chẳng giúp ích gì nhiều cho bạn cả. Ðó là điều mà nhiều
người nghĩ rằng các Thiền giả trên thế giới này đang làm. Họ đã bức ép tâm một
cách hung bạo. Họ đã tấn công tâm của họ một cách quyết liệt. Nếu bạn cứ tiếp
tục theo kiểu này thì bạn có thể đạt đến cái điểm mà tâm của bạn -vì quá mệt
mỏi- đã phải nhượng bộ. Tuy nhiên đây chỉ là bề mặt thôi, trong tận cùng tiềm
thức của bạn vẫn không ngừng xáo động. Ðây chỉ là một tĩnh lặng giả hiệu, hoàn
toàn không có thật.
Sự tịch tĩnh không thể được
mang đến bằng ý chí -không bao giờ. Cũng không thể mang đến bằng nghị lực. Nó
chỉ đến bằng hiểu biết cảm thông, không phải bằng quyết tâm, ý chí. Thế nên
đừng bao giờ nghĩ đến việc thay thế cảm thông bằng ý chí -mặc dù đây là một cám
dỗ lớn.
Sự cám dỗ luôn luôn có mặt,
bởi vì làm bất cứ chuyện gì đó thông qua ý chí, hay dùng sức mạnh coi bộ vẫn dễ
dàng hơn ; bằng cảm thông và thương yêu thì lại vô cùng khó khăn và hình như
phải mất cả nghìn năm mới đạt đến. Thế nên thông thường người đời vẫn thường có
thói quen tìm con đường tắt.
Nhưng khốn nổi, đời sống
tâm linh không thể tiến bộ bằng những con đường tắt. Không hề có chuyện như thế
và sẽ không bao giờ có chuyện như thế. Bạn đừng bao giờ để mình trở thành nạn
nhân của những con đường tắt. Sự tịch lặng cần phải được vun quén, không thể
bằng cưỡng chế. Nó phải được đến từ tận cùng cốt lõi sâu thẳm của bạn, từ cảm
thông.
Thế nên hãy cố gắng để hiểu
ngôn ngữ đã làm gì cho bạn, cố gắng để hiểu ngôn ngữ đã hủy diệt trong bạn
những gì, cố gắng để hiểu rằng những kiến thức của bạn không phải là hiểu biết.
Nhìn thẳng vào nó. Canh chừng nó. Lưu tâm đến nó trong mọi trạng huống -để thấy
rằng nó đã kéo bạn xa rời thực tại như thế nào.
Khi bạn đi ngang qua một
đoá hồng và ngay cái khoảnh khắc mà bạn vừa trông thấy nó, lập tức ngôn ngữ
nhảy vào và rồi tâm của bạn thốt lên, «Một đoá hồng tuyệt đẹp.» Thế là bạn đã
hủy diệt mất một cái gì đó. Bây giờ thì không còn cả cái tuyệt đẹp lẫn bông
hồng -lời nói đã chen vào. Ðừng bao giờ để cho lời nói xen vào từng mỗi một
kinh nghiệm sống của bạn. Thỉnh thoảng bạn cứ ở đó cùng với cái bông hồng mà
không cần phải buột miệng ra, « Ðoá hồng ». Không cần thiết như vậy. Ðóa hồng
không hề có tên, những danh hiệu đều do con người gán cho chúng. Danh không
phải là thực. Thế nên nếu bạn cứ mãi bám víu vào danh, bạn sẽ xa rời thực tại.
Cái tên chợt đập vào đôi mắt bạn và rồi từ đó bạn phóng chiếu ra một cái gì
khác -tất cả những bông hồng trong quá khứ.
Khi bạn nói rằng, đây là
một đóa hồng, bạn đang làm cái công việc phân loại nó mà thực ra không một đoá
hồng nào có thể được xếp loại bởi vì tất cả hoa hồng đều thống nhất và mang bản
sắc cá biệt khó mà xếp loại. Như vậy, đừng xếp hạng, đừng cho vào từng ngăn
kéo, đừng bỏ nó vào hộp. Hãy thưởng thức vẻ đẹp của nó đi. Hãy thưởng thức màu
sắc, thưởng thức vũ điệu của nó. Hãy đứng đó. Không nói một lời. Chỉ nhìn ngắm.
Mặc chiếu -mochao- để sự vật tự nó phản chiếu trong tịch lặng. Bạn trở thành
một tấm gương. Nếu bạn trở thành một tấm gương, bạn đã trở thành một hành giả
hành Thiền. Thiền định không gì khác hơn là kỹ thuật soi bóng mình. Bây giờ
không còn một ngôn từ nào thâm nhập vào nội tâm, bạn không còn bị kéo đi lạc
hướng.
Lời nói liên hệ với nhau,
nối kết với nhau. Lời này dẫn đến lời khác, rồi lời khác nữa và rồi càng ngày
nó càng dẫn bạn đi xa hơn. Cái khoảnh khắc bạn nói rằng, « Ðây là một đóa hồng
tuyệt đẹp, » lập tức bạn nhớ ngay đến người bạn gái có thói quen yêu thích hoa
hồng, và rồi bạn nhớ lại những gì đã xảy đến với cuộc tình cùng người bạn gái
năm nào -mối tình thơ mộng, tuần trăng mật, và rồi những bất hạnh xảy đến, và
tiếp theo là đổ vỡ, ly dị... đại loại như thế.
Và đóa hồng này -hầu như
bạn đã quên bẵng nó đi. Ðóa hồng này không còn ở đó nữa. Ngôn ngữ, văn tự đã
lôi kéo bạn đi vào một cuộc viễn du mới. Một từ dẫn đến một từ khác; những liên
kết không ngừng tiếp diễn. Tất cả những từ đều kết nối nhau, gắn liền nhau
trong một mối quan hệ sâu xa. Hãy bắt đầu bằng một từ và rồi bạn chờ xem, nó sẽ
bắt đầu nhảy lung tung.
Bạn nói « Con chó » chẳng
hạn, một từ rất bình thường, nhưng rồi chỉ một giây sau đó bạn lập tức bị cuốn
theo bởi từ này. Bạn nhớ lại con chó đã làm bạn kinh hoàng lúc nhỏ -con chó của
người hàng xóm. Nó đã làm bạn hoảng sợ biết bao mỗi lần bạn đi học về, bây giờ
nhớ lại chuyện này, trái tim của bạn như đập mạnh hơn, mối lo sợ như chớm bùng
dậy. Con chó này vẫn còn chỗ đứng trong trí tưởng bạn. Con chó này dẫn bạn nghĩ
lan man đến người láng giềng, và cứ thế, chuyện nọ dẫn đến chuyện kia.
Một chuyện dẫn đến một ngàn
lẻ một chuyện khác và xem chừng như không bao giờ chấm dứt. Vâng, tất cả bắt
đầu bằng Ngôi Lời -Kinh Thánh quả nói rất đúng. Tất cả đều được bắt đầu bằng
lời. Thế gian được khởi đầu bằng lời. Khi bạn quên lời, cái thế giới đó biến
mất. Bạn thể nhập vào Thượng Ðế. Và rồi đứa con đi hoang, đứa con bị trục xuất
kia nay lại trở về nhà. Nó đã và đang sống trong tỉnh thức.
Thế nên đừng bao giờ phải
gượng ép để đạt đến tĩnh lặng. Ðó là lý do tại sao tôi cứ mãi lập lại ở đây là
đừng nên gượng ép -thay vì cứ việc nhảy múa, hát ca. Cứ để cho những hoạt động
tự nhiên của bạn tuôn trào. Cứ để cho tâm của bạn rong chơi đây đó, cho đến một
lúc nào tự nó cảm thấy thấm mệt. Cứ việc nhảy rồi thở rồi chạy bộ rồi đi bơi,
đến một lúc nào đó thân tâm của bạn mệt mỏi, đó là lúc bạn ngồi xuống yên lặng
và lắng nghe.
Từng khoảnh khắc tịch tĩnh
cực kỳ vi tế sẽ bắt đầu thấm vào hồn bạn. Từng giọt một. Có một danh từ chuyên
môn của nhà Phật để gọi cái này... Ðó là sát na tỉnh thức, 'chitta-kshana' -một
khoảnh khắc của tỉnh thức. Những sát na tỉnh thức, những khoảnh khắc vi tế của
ý thức này, bắt đầu nổi lên ở trong bạn. Chúng đến cách quảng. Khi một niệm vừa
diệt, niệm kia chưa kịp dấy lên, giữa hai khoảnh khắc này bỗng dưng một khoảng
trống xuất hiện -đó là một cách quảng, một kẻ hở. Từ đây bạn có thể nhìn xuyên
suốt thực tại, vô cùng sáng tỏ. Bạn nhìn trở lại bằng đôi mắt hồn nhiên của
tuổi thơ mà bạn đã hoàn toàn đánh mất. Thế giới một lần nữa lại rực rỡ muôn
màu, phiêu bồng, sống động, kỳ diệu vô cùng.
Ðó là điều mà Thiền sư Hung
Chin đã nói...
đầy kỳ diệu là sự mặc chiếu
thuần khiết này...
Nỗi ngạc nhiên vô tận đó đã
chan hoà vào sự tịch lặng.
Sự kỳ diệu là hương vị của
tịch tĩnh. Cái tâm của ngưòi thời nay đã mất hết khả năng ngạc nhiên. Do kiến
thức, nó đã mất hết mọi khả năng để nhìn vào những điều bí ẩn, những phép lạ,
vì nó nghĩ là nó biết hết mọi chuyện. Cái khoảnh khắc mà bạn nghĩ rằng mình
biết, nỗi ngạc nhiên không còn dấy lên. Cái khoảnh khắc mà bạn mất dần kiến
thức, sự kỳ diệu trở lại, bắt đầu thâm nhập bạn. Hãy lắng nghe. Nếu bạn nghĩ
rằng bạn hiểu biết cái cây này, bạn sẽ không còn thấy được cái kỳ diệu của nó.
Ðó là lý do mà bạn không hề
cảm thấy sững sờ trước vợ bạn, trước vẻ đẹp của nàng. Bạn cứ tưởng là bạn biết
nàng. Nếu nàng là vợ của kẻ khác thì may ra còn thu hút, hấp dẫn bạn. Nhưng đây
là vợ bạn, và bạn nghĩ là bạn biết nàng, biết quá rõ là khác. Thật ra không
phải như vậy -bởi vì mỗi con người là một điều bí ẩn hoàn toàn không cách gì hiểu
được. Bạn không thể hiểu được người đàn bà này chỉ vì bạn là chồng của người
đó, bạn cũng không thể biết được người đàn ông kia vì bạn là vợ của anh ta.
Bạn có thể sống chung với
nhau hằng ba chục năm trời nhưng vẫn không hề hiểu về nhau. Các bạn vẫn chỉ là
những người khách lạ. Bởi vì tất cả chúng ta đều là những nỗi bí ẩn, không cách
gì có thể làm quen được, mỗi khoảnh khắc đều không thể tiên đoán được.
Thỉnh thoảng bạn thể nghiệm
được chuyện đó. Bạn sống với một người đàn bà hơn mười năm, bỗng dưng một hôm
bạn thấy nàng nổi cơn thịnh nộ, và bạn không bao giờ ngờ rằng nàng có thể giận
dữ đến như thế. Trong mười năm bạn đã nhìn kỹ nàng và nàng thì luôn luôn dịu
dàng, đáng yêu, nhân ái biết bao, thế mà bỗng dưng hôm nay nàng lại nổi giận
lên như thế, giận đến độ muốn giết luôn cả bạn. Khó mà lường trước được. Thế mà
bạn cứ tưởng là mọi sự đã ổn định, đã bắt đầu cho là một chuyện đương nhiên, và
nghĩ rằng bạn rất hiểu nàng. Không có ai hiểu ai cả. Nàng không hề hiểu bạn và
bạn cũng không hề hiểu nàng.
Vâng, có thể là bạn đã sanh
ra một đứa con. Nó đã nằm trong bào thai hơn chín tháng, nhưng bạn không biết
gì về nó. Khi đứa trẻ ra đời, như những đứa trẻ khác, bạn cũng khó mà tiên liệu
nó như thế nào. Chúng ta chỉ là những kẻ lạ mặt.
Cả toàn thể hiện hữu này
cũng thế. Những cành cây chung quanh đây... Bạn trông thấy nó hàng ngày nhưng
trong từng giây, từng phút qua đi thật ra bạn đã không trông thấy gì cả bởi vì
bây giờ bạn nghĩ rằng bạn đã biết nó -trọng điểm là gì ? Hãy làm ơn lắng nghe
tôi đi. Hãy nhìn chúng trở lại một lần nữa và rồi bạn sẽ ngạc nhiên. Không có
cái gì gọi là đã biết. Kiến thức chẳng mang lại gì cả. Kiến thức chỉ là sự dốt
nát hoàn toàn. Cuộc sống vẫn là những bí ẩn. Vâng, ta có thể vẫn vui sống, nhảy
múa, hát ca, chúc tụng cuộc đời -ta có thể làm như vậy. Nhưng hiểu được nó,
không bao giờ.
Tất cả những bậc đạo sư lớn
của thế giới này đều cho rằng không có cái gọi là kiến thức. Nó không hề hiện
hữu trong bản chất của vạn pháp. Và tất cả những điều mà bạn nghĩ rằng mình
biết thật ra chỉ là chuyện bình thường -những điều giả huyễn của bạn. Và rồi
chính cái điều giả huyễn này đã trở thành gánh nặng không còn cho bạn những
ngạc nhiên khám phá trước cuộc đời. Một đứa trẻ ngạc nhiên thích thú là vì nó
chưa hề biết gì. Một khi nó bắt đầu làm quen -học địa lý, học sử ký và tất cả
những điều nhảm nhí khác- thế là nó nghĩ rằng mình là người hiểu biết. Từ đó,
những đóa hoa không còn thơm mùi hương nguyên thủy nữa, những cánh bướm không
còn hấp dẫn y như trước đây. Và rồi nó không còn chạy nhảy nhặt vỏ sò trên bải
biển. Người ta nói rằng nó đã trưởng thành.
Thực ra nó đã ngừng lớn
khôn. Thực ra nó đã chết. Cái ngày mà bạn nghĩ rằng mình hiểu biết, cũng là
ngày mà bạn khai tử chính mình -bởi lẽ từ đây bạn sẽ không còn ngạc nhiên, vui
sống, thích thú trước cuộc đời. Bạn đang sống trong nỗi chết. Và như vậy, bây
giờ bạn có thể chui vào huyệt mộ được rồi, đâu có gì mất mát hay nuối tiếc. Bởi
vì bạn sống mà không còn chút ngạc nhiên trước cuộc đời thì sống để làm gì ? Tự
tử đi là hơn. Quả thật đúng như vậy. Chúng ta đang tự sát. Cái ngày mà bạn nghĩ
rằng mình hiểu biết, bạn đang thực hiện một cuộc tự sát.
Với mặc chiếu -mo chao- một
lần nữa bạn lại trở thành trẻ con, bạn lại nhìn đời bằng đôi mắt tuyệt vời của
tuổi thơ -ngây thơ, hồn nhiên, trong trắng.
Như vậy, hãy nhớ kỹ rằng,
tịch tĩnh hay tĩnh lặng không phải là sự điềm tĩnh hay thanh thản. Nó bao hàm
sự vượt qua cả lời hay cả ý để hiển lộ một trạng thái siêu việt, chan hoà an
lạc. Nó không phải là một cái tâm vắng lặng mà là một vắng lặng tự thân. Nó
cũng không phải là một nỗ lực để đưa vào kỷ cương. Nó không có gì để thực hành,
mà chỉ cần được thông cảm, yêu thương. Bạn phải vui đùa với nó thay vì tìm
phương cách giải quyết. Không hề có bất cứ một nỗ lực tinh thần nào ở đây.
Vâng, đó là tất cả những gì được gọi là thiền định -vắng bóng nỗ lực tinh thần.
Tâm đi vào trạng thái vô niệm, tâm đi vào trạng thái tịch tĩnh.
Nó không có một chút hơi
hướng nào của hoạt động tinh thần, đây là sự tỉnh giác trong tịch lặng của tánh
không. Người Nhật đã có một danh từ khá tuyệt cho trạng thái này: họ gọi là
kokoro. Kokoro có nghĩa là tánh không tuyệt đối, là không có gì cả, là trống
rỗng hoàn toàn -nhưng không phải là tiêu cực. Tánh không cho ta cảm giác một
cái gì đó bị phủ định. Không. Tất cả những gì là rác rưởi đều phải bị phủ định,
chắc chắn và hiển nhiên như thế, nhưng một khi bạn phủ định tất cả những gì là
rác rưởi, thì phần bản tánh thẳm sâu nhất ở trong bạn lại được khẳng định. Ðó
là phần tích cực nhất.
Khi chiếc hồ không còn
những gợn sóng lăn tăn bạn có thể nói rằng không có gì trên mặt hồ. Tuyệt đối
không có gì lưu lại, nổi lên ở trên đó. Nhưng đây không phải là một thể trạng
tiêu cực. Thực ra trong sự yên lắng hoàn toàn này, chiếc hồ bây giờ đã tự khẳng
định chính mình. Bản tánh của nó đã được thể hiện rõ ràng qua mặt hồ, từ lâu
vốn bị những luồng sóng, những gợn lăn tăn che khuất. Bây giờ thì nó được hiện
bày ra. Không ồn ào, hoàn toàn trong yên lắng. Nó không cần phải kêu lên,
"Tôi đây này" -cái "Tôi" đã không còn hiện hữu nữa.
Cái "Tôi" này
chẳng là gì cả ngoài những náo động của bạn kết hợp lại. Khi những náo động này
biến mất, khi cái tâm, cái trí không còn, bỗng nhiên lần đầu tiên bạn trở lại
là mình -đúng vậy, bạn chưa bao giờ là bạn cả. Trong lối sống cũ đó, bạn không
hề là bạn; bây giờ con người cũ đó chết đi, bạn được tái sanh trở lại. Đây là
lần thơ ấu thứ hai trong đời.
Thiền sư Suigan, sau mùa an
cư kiết hạ tuyên bố, "Ta đã nói khá nhiều trong suốt mùa hè này, đủ mọi
thứ chuyện Đông Tây kim cổ, với chư huynh đệ. Xem thử coi lông mày của ta có
tiếp tục dài thêm chút nào không?"
"Chúng dài đẹp lắm đó,
bạch Thầy", một đệ tử trả lời.
"Kẻ nào phạm tội trộm
cắp, tâm hồn họ sẽ không bao giờ thoải mái," một người khác nói.
Và người thứ ba, chẳng nói
gì cả, chỉ buột miệng, "Kong!"
"Kong" chỉ là một
lời thốt ra hoàn toàn vô nghĩa. Nó cũng chẳng biểu trưng cái gì, chỉ là một âm
thanh.
Vi Thiền sư đang nói... Đây
là chuyện khôi hài, nếu không nói là điều nghịch lý -ngay cả một vị Thiền sư
cũng phải nói. Ông ta nói về chuyện giải trừ ngôn ngữ thế nhưng ông ta vẫn còn phải
sử dụng đến ngôn ngữ.
Chẳng khác gì bạn đang lâm
bệnh vì một loại độc dược và chúng ta bào chế thuốc men bằng một loại độc dược
khác để chữa trị bệnh này. Tất cả mọi loại thuốc men đều được chế biến từ chất
độc. Ðó là cách dùng độc trị độc.
Chân của bạn đang đạp phải
một cái gai, chúng ta chạy đi kiếm một cái gai khác để lể nó ra. Dùng gai lể
gai là như thế. Vâng, chuyện khôi hài là ngay cả một vị Thiền sư cũng phải nói
luôn mồm. Phật cũng đã nói liên tục trong suốt bốn mươi hai năm, buổi sáng,
buổi chiều, buổi tối -và lúc bán thời. Và Ngài chỉ nói có một chuyện -đó là:
đừng nói gì nữa, hãy yên lặng, "Đạo vốn không lời".
Bây giờ thì vị Thiền sư
này, cái ông Suigan đó, đã phải nói trong suốt mấy tháng, và kết thúc mùa an cư
bằng câu, "Ta đã nói khá nhiều trong suốt mùa hè này, đủ mọi thứ chuyện
Đông Tây kim cổ, với chư huynh đệ. Xem thử coi lông mày của ta có tiếp tục dài
thêm chút nào không?" Ý ông ấy muốn nói, "Này nhìn xem, ta đang sống
hay đã chết đây. Nói nhiều như thế chắc là ta chết mất rồi, có thể ta không còn
lớn dậy nữa".
Người đệ tử thứ nhất trả
lời, "Chúng dài đẹp lắm đó, bạch Thầy". Y nói rất đúng, một trăm phần
trăm đúng. Y có thể nhìn thấu suốt vào vị Thầy mình. Những lời mà ông nói ra
không hề khuấy động sự tịch tĩnh của ông, không hề biến ông trở thành cái xác
chết khô cằn -mạch đời của ông vẫn tuôn chảy như tự bao giờ. Chúng không hề là
những chướng ngại. Như vậy bạn chỉ được quyền nói khi nào mà lời sẽ không hủy
diệt sự tịch tĩnh trong bạn. Khi sự tịch tĩnh này không bị đụng chạm bởi lời,
bạn có thể nói. Những lời nói của bạn lúc này sẽ là một ân sủng cho trần gian.
Bạn sẽ giúp cho biết bao người thoát ra khỏi sự trói buộc của ngôn từ. Lời nói
của bạn lúc này sẽ biến thành một thần dược.
Thế nhưng nếu lời nói làm
khuấy động sự tịch lặng của bạn, nghĩa là trong khi nói bạn bị tách lìa ra khỏi
phần thẳm sâu nhất của sự tịch tĩnh trong bạn, mặc chiếu, thì lời nói sẽ chỉ là
những phù phiếm, vô ích. Lúc này tốt nhất là bạn nên chữa trị cho mình trước
đã. "Người thầy thuốc tự chữa trị cho chính mình". Khoan nghĩ đến
chuyện chữa trị cho ai khác. Bạn sẽ gây nguy hại cho họ thay vì chữa lành cho
họ.
Người đệ tử thứ nhất trả
lời, "Chúng dài đẹp lắm đó, bạch Thầy. Tôi có thể nhìn thấy được sự an
nhiên tự tại đó".
Người đệ tử thứ hai nói,
"Kẻ nào phạm tội trộm cắp, tâm hồn họ sẽ không bao giờ thoải mái."
Người này xem ra khá hơn ngưòi trước. Ðiều y muốn nói là, "Thầy ạ, mặc dầu
Thầy đã vượt ra ngoài chuyện trộm cắp, nhưng nếu Thầy phạm phải, Thầy vẫn cảm
thấy tội lỗi như thường. Chúng con biết là lời nói không còn khuấy động đến
Thầy, thế nhưng lời nói vẫn còn là một mối phiền toái làm Thầy không thoải mái.
Con có thể nhận thấy điều đó."
Tôi có thể hiểu được những
suy nghĩ của người học trò thứ hai. Vâng, nói chuyện với các bạn tôi không được
thoải mái, vì có một điều hết sức nguy hiểm là bạn có thể đã không lắng nghe
những gì tôi đang nói, không lắng nghe những điều mà tôi muốn nói và rồi bạn
cũng sẽ bắt đầu nói như tôi. Nguy hiểm nằm ở chỗ đó. Thế là tôi đang phạm một
lỗi lầm. Tôi đã phải phạm tội bởi vì không còn một cách thế nào khác để giúp đỡ
bạn. Phải chấp nhận sự rủi ro thôi.
Người đệ tử thứ hai như thế
đã đi sâu thêm một bậc. Nên nhớ rằng nếu người đệ tử thứ nhất đúng một trăm
phần trăm thì người đệ tử thứ hai đúng đến hai trăm phần trăm. Y nói, "Kẻ
nào phạm tội trộm cắp, tâm hồn họ sẽ không bao giờ thoải mái. Tôi có thể nhận
thấy điều đó."
Nhưng người thứ ba thì có
thể nói là đúng đến ba trăm phần trăm. Người đệ tử thứ ba không nói gì cả, y
chỉ thốt ra một tiếng đơn giản "Kong!" Giống như bạn kêu lên
"hu!" Bởi vì nói ra bất cứ điều gì cũng đều là vô nghĩa. Y chỉ buột
ra một âm thanh. Và điều y muốn nói là, "Bất cứ những gì mà Thầy đã và
đang nói ra chỉ là những thanh âm rỗng tuếch, Thầy ạ! Không có gì phải lo lắng.
Bất cứ những gì mà Thầy đã và đang nói chẳng khác gì nhả ra một luồng hơi nóng,
giống như tiếng 'Kong!' của con thôi. Vâng, nó cũng có thể hữu ích khi ta cần
đánh thức một người nào đó mà không cần phải mang một ý nghĩa gì cả. Nếu một
người nào đó đang ngủ ngon và bạn la lớn vào tai y "Kong!", y sẽ mở
mắt thôi, chỉ có thế. Như vậy là xong việc. Và cái tiếng 'Kong!" này không
cần phải có ý nghĩa gì cả."
Ðúng như vậy, tất cả những
gì mà vị Thiền sư thốt ra đều chỉ là một tiếng "Kong!" Nó không mang
một ý nghĩa nào, nó không chuyên chở bất cứ triết lý trong đó. Ðây chỉ là những
tiếng kêu để đánh thức bạn dậy. Người đệ tử thứ ba như thế là đã hoàn toàn hiểu
được Thầy mình. Y ở chung trong cùng một không gian và tần số với vị Thiền sư.
Nhưng tiếng
"Kong!" này từ đâu mà đến? Nó đến từ kokoro, tánh không. Một khi bạn
ở trong tánh không này, tất cả đều khả dĩ. Cái tánh không này rất hiệu năng,
rất tích cực, cái tánh không này chính là Thượng Ðế. Phật giáo không gọi đó là
Thượng Ðế, bởi vì dùng từ Thượng Ðế có vẻ như bị hạn chế rất nhiều. Họ gọi là tánh
không -kokoro, shunyata. Trong tánh không này bạn sẽ thấy Thượng Ðế có mặt khắp
nơi. Cái tánh không này phủ đầy vạn hữu.
John Donne (2) có nói như
thế này, "Thượng Ðế ở khắp mọi nơi, là một thiên thần trong một thiên
thần, một viên đá trong một viên đá, một cọng rơm trong một cọng rơm."
Trong tánh không này bạn sẽ
thâm nhập vào trong tận cùng bản thể của vạn pháp. Xuyên suốt vào bản thể của
vạn pháp là một mục tiêu. Nó chỉ được thể hiện khi nào bạn "bất lập văn
tự". Rồi thì mọi chuyện diễn ra.
Hãy lắng nghe vài lời thơ
của Wordsworth (3):
Con gà đang gáy
Dòng suối đang chảy
Ðàn chim nhỏ hót líu lo
Ánh sáng lấp lánh trên mặt
hồ
Dưới ánh mặt trời, cánh
đồng xanh say ngủ.
Mọi chuyện đều như thị. Con
gà đang gáy và những cánh đồng xanh ngủ yên trong ánh sáng mặt trời.
"Thượng Ðế ở khắp mọi nơi, là một thiên thần trong một thiên thần, một
viên đá trong một viên đá, một cọng rơm trong một cọng rơm." Và rồi Thượng
Ðế biến đi. Chỉ còn lại sự kính tín. Không còn một đấng trời thần nào cả, mà
chỉ còn lại thánh linh, một dòng thánh linh tinh khiết dịu dàng, tràn ngập mọi
chiều kích không gian.
Mới hồi đêm rồi tôi đang
dọc cuốn nhật ký của Leonardo Da Vinci. (4) Trong cuốn nhật ký này có một câu
đập mạnh vào trí tôi: "Trong tất cả những gì lớn lao được tìm ra chung quanh
ta, sự hiện hữu của tánh không là vĩ đại nhất." Kokoro.
Sự hiện hữu của tánh không
không đến từ lời, từ ngôn ngữ, từ ý niệm, từ tâm hay trí -mochao, mặc chiếu.
Bây giờ chúng ta đi vào câu
chuyện ngụ ngôn này.
Một vị Thiền sư đã phẩm
bình một cách vắn tắt về một môn đồ ưa lý thuyết dông dài về Thiền học...
Này, chuyện đầu tiên là
-Thiền không hề có học thuyết. Thiền không tiếp cận thực tại bằng học thuyết.
Nó không có giáo điều, chủ nghĩa -và bởi thế nó không có nhà thờ, linh mục hay
giáo hoàng. Thiền rất là trần tục, thực tế; nó không đối diện với những khái
niệm trừu tượng. Ðó là một hiện tượng hiếm có. Ðó là môt cuộc hôn phối của hai
dòng tinh thần kiệt xuất -một Ấn Ðộ và một Trung quốc. Tinh thần Ấn Ðộ thì rất
trừu tượng -ngay cả Ðức Phật. Ngài đã cố gắng hết sức để làm giảm bớt trừu
tượng nhưng đâu có thể làm gì khác hơn? Một người Ấn vẫn luôn là một người Ấn.
Tinh thần Ấn Ðộ thì rất là
trừu tượng. Nó đề cập đến những chuyện vô cùng lớn lao, đến những học thuyết;
xoay quanh những tư tưởng lớn. Nó bay bổng trên mây, chẳng bao giờ hạ cánh
xuống mặt đất. Và như thế, hằng bao thế kỷ qua tinh thần Ấn Ðộ đã không biết
làm cách nào để đáp xuống mặt đất. Nó cứ đi lên mà chẳng bao giờ biết cách quay
trở lại. Nó không có rễ. Nó chỉ có cánh mà không có rễ. Ðó là điều khốn khổ.
Tinh thần Trung Hoa thì
thực tế, thực dụng, thực tiễn hơn. Chúng không bay bỗng lên trời quá mức. Ngay
cả nếu chúng có lên tới đó thì cũng luôn bám chặt đôi chân trên mặt đất, giữ
gốc rễ trên mặt đất. Chúng không bay như chim, mà vươn lên trời như một cái
cây. Chúng vẫn giữ gốc rễ trên mặt đất. Lão Tử rất là thực tế, cả Khổng Tử cũng
thế.
Khi Bồ Ðề Ðạt Ma đến Trung
Quốc mang theo thông điệp vĩ đại của Thiền, đã tạo ra một sự giao lưu tư tưởng
lớn, một cuộc đại tổng hợp giữa tinh thần Ấn Ðộ và Trung Quốc. Thiền vì thế
không là Trung Quốc mà cũng không là Ấn Ðộ. Nó chứa đựng cả hai truyền thống
nhưng đồng thời cũng vượt ra khỏi cả hai.
Thế nên nếu bạn hỏi một
tăng sĩ Phật giáo Ấn Ðộ -cũng không nhiều lắm đâu- về Thiền, ông ta sẽ không
xem đây là chuyện quan trọng. Ông ta sẽ nói, "Toàn là chuyện nhảm
nhí." Bất cứ nơi nào mà truyền thống Phật giáo Ấn Ðộ thịnh hành, Tích Lan,
Miến Ðiện, Thái Lan chẳng hạn, không ai nói đến Thiền. Họ cười nữa là khác, cho
rằng đó chỉ là chuyện tiếu lâm.
Ngược lại nếu bạn nói
chuyện với các Thiền giả Trung hoa hay Nhật Bản về các đại tạng kinh Phật giáo,
họ sẽ bảo bạn, "Ðem đốt chúng hết đi ngay lập tức. Tất cả những lý thuyết
trừu tượng đều nhảm nhí. Chúng kéo con người ra khỏi thực tại."
Ðối với tôi, Thiền là một
tổng hợp vĩ đại nhất -một hiện tượng thăng hoa. Trước tiên nó là hiện sinh mà
không là lý thuyết. Nó không nói bất cứ điều gì về chân lý, nó chỉ cho bạn chân
lý, như thị. Một cách đơn giản, nó đánh thức bạn dậy. Nó lay bạn cho bạn thức
giấc, nó la lên cho bạn thức dậy -nhưng nó không hề đưa ra lý thuyết, nó không
cho bạn bất cứ giáo điều, kinh điển nào. Thiền là một tôn giáo duy nhất có khả
năng đốt sạch mọi kinh điển, và là một tôn giáo duy nhất có khả năng hủy diệt
tất cả những gì được gọi là lý tưởng, thần tượng.
Một vị Thiền sư đã phẩm
bình một cách vắn tắt về một môn sinh ưa lý thuyết dông dài về Thiền học...
Thiền không hề có học
thuyết. Ðây là điều độc nhất vô nhị về Thiền. Cái khoảnh khắc mà bạn bắt đầu
nói về lý thuyết Thiền học, Thiền không còn là Thiền nữa. Ðó là học thuyết chứ
không phải Thiền. Thiền và học thuyết không thể sống chung với nhau. Học thuyết
thì rất hạn chế; trong khi đó Thiền là một thân chứng, một kinh nghiệm tâm linh
vô giới hạn. Thiền chẳng khác gì lòng yêu thương -bạn không thể nào định nghĩa
được.
Vị Thiền sư nói,
"Bạn có quá nhiều
Thiền"
Ðây là một câu nói rất hay
ho. Khi ông ta nói rằng, "Bạn có quá nhiều Thiền," có nghĩa là ông ta
muốn nói rằng, "Bạn không có chút Thiền nào trong người cả." Ðó là
cách nói của vị Thiền sư. Thay vì nói, "Bạn chẳng có tí gì Thiền cả"
-thì ông nói ngược lại, "Bạn có quá nhiều Thiền". Làm sao mà bạn lại
có quá nhiều Thiền được? Chỉ có hay không mà thôi và đây là cách nói cho thấy
rằng bạn chẳng có tí Thiền nào cả. "Bạn có quá nhiều Thiền" có nghĩa
là "Bạn thu thập rất nhiều học thuyết. Bạn biết quá nhiều về Thiền. Và có
thể là bạn chẳng hề ngó ngàng đến nó."
"Thế nhưng có gì là
trái tự nhiên khi một Thiền sinh nói chuyện về Thiền?" người học trò bối
rối hỏi thầy.
Ta bước qua vấn đề thứ
hai... Trước tiên, Thiền không hề có học thuyết, thứ hai, không hề có chuyện
bất cứ ai đó được gọi là thiền sinh. Không thể có chuyện như vậy. Người học trò
luôn luôn chạy đi tìm học thuyết. Người học trò luôn muốn trở thành người có
kiến thức. Họ chạy đi tìm con rắn chứ đâu có đi kiếm Thiền sư? Họ chạy đi tìm
thầy giáo. Họ chạy đến các trường đại học, các học viện.
Thiền không hề có học trò.
Thiền không có học thuyết nên không thể có học trò, và không thể có giáo sư.
Vâng nó có những Thiền sư và những môn đồ. Nhưng nên nhớ rằng một vị Thiền sư
không phải là một người thầy giáo. Công việc của vị Thiền sư hoàn toàn trái
ngược với công việc của một người thầy giáo. Người thầy giáo dạy bạn, bắt bạn
phải học đủ thứ chuyện -vị Thiền sư thì giúp bạn giải trừ những điều đã học. Thiền
sư vì thế là thuốc giải độc đối với giáo sư. Trong tự điển, có thể ý nghĩa của
hai tiếng này giống nhau, nhưng bạn nhớ cho, trong thế giới của Thiền, chúng
không hề có cùng chung một ý nghĩa.
Tôi là một đạo sư chứ không
phải là một thầy giáo và những ai thật sự đến đây không phải là những học trò
mà là những môn đồ. Thế thì sự khác nhau giữa một người học trò và môn đồ là
gì? Người học trò luôn luôn muốn biết thật nhiều, muốn nắm giữ thật nhiều. Họ
muốn trở thành một nhà học giả. Họ khao khát thèm muốn trái Cây Hiểu Biết.
Người học trò muốn ăn càng nhiều trái táo trên cái cây này càng tốt. Họ đang
thực hiện chuyến viễn du của bản ngã -ham học hỏi, tò mò, nhưng không hề sẵn
sàng để chuyển hóa.
Môn đồ là một hiện tượng
khác biệt. Người môn đồ không hề khao khát kiến thức. Y muốn thấy chứ không
muốn biết. Y muốn thực sự hiện hữu. Y không còn thích thú trong việc tích lũy
kiến thức, y muốn sống thật phong phú. Mà muốn có thêm chất liệu sống y phải giải
trừ tất cả mọi kiến thức, và y đã sẵn sàng. Y sẵn sàng để hy sinh tất cả mọi
thứ. Hướng đi của y vì thế hoàn toàn khác biệt.
Người môn đồ, khác với
người học trò ở chỗ, y không phải là kẻ tích luỹ. Dĩ nhiên khi bạn tích lũy,
bạn sẽ tích lũy ở đâu nếu không phải là trong ký ức? Và như thế, không phải
trong ý thức mà là trong tâm của người học trò, ký ức ngày càng mãi chồng chất
thêm. Trong khi đó, trong tâm của kẻ môn đồ ký ức mỗi ngày càng nhạt nhòa đi. Y
không còn phải mang theo gánh nặng chồng chất của quá khứ. Y chỉ biết đến những
gì thiết yếu nhất. Kiến thức của y chỉ còn tồn đọng những gì có lợi. Thế nhưng
trong lúc đó ý thức của y bắt đầu tăng trưởng. Toàn bộ năng lượng của y được
chuyển từ ký ức sang ý thức.
Ðã có một sự khác biệt khá
lớn lao giữa một người học trò và một môn đồ. Người học trò luôn luôn muốn biết
về một cái gì đó -tất cả nỗ lực của y là để làm sao suy nghĩ tốt hơn. Kẻ môn đồ
thực sự chỉ muốn hiện hữu -tất cả nỗ lực của y chỉ là để hiện hữu như thế nào,
làm sao để trở về lại mái nhà xưa, để đạt đến đôi mắt thơ dại cũ, như được tái
sanh trở lại một lần nữa trên cõi đời này. Ðó là tất cả những gì mà Chúa Giê Su
muốn nói trong câu, "Trừ phi ngươi được tái sanh trở lại."
Chúa đang đi tìm môn đồ. Và
ngài đang nói câu này với Nicodemus, "Trừ phi ngươi được tái sanh trở lại,
ngươi sẽ chẳng bao giờ hiểu được ta và sẽ chẳng có khả năng vào được nước
Trời"...
Có thể bạn đã không biết
được rằng người đàn ông kia không ai khác hơn là Nicodemus, một vị giáo sư, và
trong nỗ lực tìm kiếm kiến thức ông ta đã tìm đến gặp Chúa. Nicodemus là một
mục sư Do thái giáo có tiếng tăm. Ông ta là thành viên trong ban quản trị của
ngôi đền thờ lớn nhất tại Jerusalem. Ông ta không dám đến tìm gặp Chúa vào ban
ngày vì ông ta sợ mọi người cười chê -một bậc thông thái như thế kia, một vị
giáo sư lừng danh trên khắp cả nước, lại đi tìm đến thỉnh giáo một kẻ vô danh
tiểu tốt, một anh chàng híp-py!
Vâng Chúa Giê Su đã là hình
ảnh của một chàng híp-py lặn lội giữa những kẻ khó, những người thất học, làm
thân với những gái điếm, với đủ mọi hạng người, sống chung cùng những thành
phần hèn kém trong xã hội. Ðó là một anh chàng thanh niên trông có vẻ khùng
khùng. Chứ còn gì nữa! Anh ta toàn nói những chuyện đâu đâu may ra chỉ có những
người loạn thần kinh hay ông Phật mới nói đến. Vâng, bất cứ lúc nào có vấn đề
cần phải đi đến quyết định cho rằng một người nào đó là một vị Phật hay là kẻ
loạn thần kinh, bạn sẽ cho rằng y là kẻ loạn thần kinh -bởi vì nếu cho đó là
một vị Phật thì lại đụng đến cái bản ngã của bạn. Thế nên người đời biết đến
Chúa Giê su như là một kẻ loạn trí, hơi khùng, lập dị, và lại đang tụ tập một
nhóm người nguy hiểm chung quanh.
Nicodemus đã không thể đến
tìm gặp Chúa giữa thanh thiên bạch nhật; thế nên đợi đến lúc nữa đêm ông ta mới
tìm đến và mang theo câu hỏi. Ông ta hỏi, "Nưóc Trời là cái gì mà ngài cứ
đi rao giảng mãi như thế? Cái gì vậy? Tôi muốn được biết thêm về nó".
"Biết về nó?"-xin lỗi. "Trừ phi ngươi được tái sanh trở lại,
ngươi sẽ chẳng bao giờ biết được nó là cái gì." Chúa Giê Su trả lời. Bây
giờ thì quả là chuyện quá sức đối với Nicodemus. Tái sanh trở lại? Phải trả giá
lớn lao như thế ư? Chết và tái sanh trở lại. Xem chừng như quá nhiều!
Như thế đó, một người học
trò sẵn sàng chỉ để cò kè từng đồng xu; còn một môn đồ thì thường trả giá với
cả đời mình. Một người học trò thì luôn mang theo câu hỏi; còn môn đồ... đó
không phải là câu hỏi. Không có một danh từ nào trong Anh ngữ để diễn tả chính
xác khái niệm này. Phạn ngữ gọi đó là mumuksha. Ðặt vấn đề, nêu câu hỏi được
gọi bằng một danh từ khác -jigyasa, có nghĩa là một người muốn biết thêm nữa.
Còn mumuksha là người muốn được sống phong phú hơn. Người muốn được giải phóng
mình ra khỏi tất cả những hệ lụy trói buộc. Người không còn muốn bị giam hảm
vào bất cứ vòng nô lệ nào -của truyền thống, của kinh điển, của xã hội, của
quốc gia. Sẽ không còn bất cứ loại nô lệ nào; họ muốn tự do, hoàn toàn tự do.
Sự nổi loạn đó, sự đòi hỏi khẩn thiết để được giải phóng hoàn toàn đó, được gọi
là mumuksha. Trong tiếng Anh không có từ nào để dịch chữ này. Ta có thể gọi đó
là lòng ham muốn được trở thành người không còn ham muốn, lòng ham muốn được
hoàn toàn tự do và ngay cả lòng ham muốn này cũng không còn tồn tại nữa.
Bây giờ người học trò nêu
câu hỏi,
"Thế nhưng có gì là
trái tự nhiên khi một Thiền sinh nói chuyện về Thiền?"
Ðây là một người học trò,
không phải là một môn đồ -thế nên mới có chuyện rối rắm như vậy. Y hỏi,
"Có gì là trái tự nhiên?" Vâng, đối với người học trò, đây là chuyện
rất tự nhiên. Người học trò đâu có thể làm gì khác hơn? Người học trò, nhà học
giả, vị giáo sư -tất cả đều quan hệ với ngôn từ. Họ thiết lập văn tự. Họ đặt ra
từ mới. Họ đùa giỡn với chữ nghĩa. Tất cả dịch vụ của họ tập trung chung quanh
ngôn từ -những ngôn từ trống rỗng, nhạt thếch. Thế nhưng họ vẫn cứ tiếp tục
chơi trò chữ nghĩa, lại cứ tiếp tục sáng chế ra những ngôn từ mới.
"Thế nhưng có gì là
trái tự nhiên khi một Thiền sinh nói chuyện về Thiền?" Dĩ nhiên, đối với
một người học trò, không nói ba hoa về Thiền mới là điều trái tự nhiên. Bởi vì
người ta tìm đến vị Thiền sư để làm gì? Mục đích người ta tìm đến Thiền viện
làm gì nếu không để được nói? Ðó là điều tự nhiên thôi.
Thế nhưng đây không phải là
điều tự nhiên đối với một môn đồ. Người môn đồ tìm đến đây để được trở nên tĩnh
lặng. Một môn đồ biết rằng trở nên lặng yên mới là điều tự nhiên. Lắng nghe
Thầy mình trong yên lặng. Thật ra, không nên quá chú trọng vào lời của ông ta
nói mà hãy lắng nghe sự tĩnh lặng của ông ta luôn ở sau lời. Bạn bắt đầu bằng
cách lắng nghe những lời ông ta nói và rồi từng tí một, bạn bắt đầu lắng nghe sự
tĩnh lặng của vị Thầy. Với từng bước đi chầm chậm bạn chuyển dần từ ngôn từ qua
tĩnh lặng. Với từng bước đi chầm chậm sự thay đổi xảy đến, những đổi thay từ cơ
cấu -bây giờ thì bạn không còn quan tâm đến những gì mà Thầy mình nói, bạn trở
nên quan tâm với cách thế hiện hữu của ông ta.
Ðối với một môn đồ, đó là
chuyện tự nhiên, nhưng đối với một người học trò, dĩ nhiên anh ta đâu có thể
làm gì khác hơn? Anh ta vẫn có thể nói và câu hỏi đặt ra có thể làm ngưuời môn
đồ bối rối, "Thế nhưng có gì là trái tự nhiên khi một Thiền sinh nói
chuyện về Thiền? Tại sao Thầy lại ghét người ta nói về Thiền?" Vị Thiền sư
không hề ghét. Ông ta không thể ghét. Ông ta đã nhận chân được sự phù phiếm của
nó. Nên nhớ rằng, yêu và ghét cả hai đều có quan hệ với nhau. Vị Thiền sư không
còn dính dáng một chút nào đến lời; ông ta không yêu và cũng không ghét ngôn
ngữ.
Ghét cũng là một mối tương
quan, khi còn ghét là bạn vẫn còn chưa được tự do, bạn vẫn còn bị trói buộc.
Trong một cách thế nào đó, bạn vẫn còn bám víu, vẫn còn lo lắng. Bạn có thể
trốn chạy ra khỏi ngôn ngữ nhưng mà bạn vẫn chưa được giải phóng. Bạn vẫn còn
quan tâm đến nó và cái ngôn ngữ đó vẫn còn tiếp tục ám ảnh bạn.
Không hề có chuyện vị Thiền
sư thù ghét ngôn ngữ, ông ta đã hoàn toàn được giải phóng khỏi nó. Ông ta không
có bất cứ mối quan hệ nào với ngôn từ, ông ta đã chặt đứt chiếc cầu nối. Vị
Thiền sư sống trong vô ngôn, vô niệm. Ông ta sống trong mặc chiếu -mo chao,
trong yên lặng, phản chiếu trong tịch tĩnh. Ông ta chỉ là một tấm kiếng trong
suốt.
"Bởi vì", vị Thiền
sư trả lời một cách thẳng thắn, "nó làm cái bụng ta khó chịu."
Ðây là một ẩn dụ của Thiền.
Bạn phải hiểu cho được ý nghĩa của nó.
Thiền giả thường cho rằng
luôn luôn có sự tranh chấp giữa cái đầu và cái bụng -và cái đầu luôn làm phiền
cái bụng. Cái đầu rất là độc hại đối với cái bụng. Cái bụng mới chính là trung
tâm an trú thực sự của con người bạn. Cái đầu đã trở thành nhà độc tài nhờ ngôn
ngữ, và lời nói, nhờ học thuyết, giáo dục, và học vấn, kiến thức. Cái đầu hầu
như đã muốn chiếm luôn vị trí của cái bụng -không thể như vậy được. Cái đầu này
có thể được dẹp qua một bên, dẹp cái đầu đi bạn không mất mát gì cả, được thêm
nhiều thì có. Dẹp nó đi bạn được tất cả. Sống với cái đầu là bạn sống trong
ngôn ngữ chết. Chúng không hề làm thỏa mãn bạn, chúng không thể giải phóng bạn.
Ðó là chuyện cái đầu với cái bụng.
Mới đêm hôm trước đây tôi
có nói chuyện với các bạn về một vị Thiền sư có thói quen để hai con búp-bê bên
cạnh mình. Chúng giống nhau như đúc ngoại trừ sự khác biệt bên trong. Một con
có cái đầu rất nặng, chắc là được nhồi kim khí ở trong đầu. Một con rất nặng ở
phần dưới đít, có lẽ do kim khí được nhồi vào bụng. Chúng hoàn toàn giống nhau,
y phục cũng giống y nhau. Chúng luôn được đặt ngồi cạnh vị Thiền sư.
Thế rồi hễ có bất cứ ai đến
kiếm ông nêu lên những câu hỏi đại khái như, "Thiền là gì?" hoặc
"Thiền định là gì?" và "Làm thế nào để đạt đến?"... Thế là
trước tiên vị Thiền sư thảy ra một con búp bê -con nặng đầu trước- con này té
lăn cù và dĩ nhiên là không thể ngồi dậy được. Làm thế nào mà ngồi dậy khi cái
đầu quá nặng? Rồi ông đẩy con búp bê thứ hai ra -con nặng đít, và cho dù ông xô
đẩy thế nào đi nữa thì con búp bê này cũng bật trở lại như cũ trong thế ngồi
tỉnh tọa của Phật.
Ông kết luận, "Ðây là
Thiền -cái bụng. Ðây là Ðông phương -cái bụng."
Trong tất cả những quốc gia
phương Ðông trước đây, đặc biệt là vùng Viễn Ðông, người ta hay dùng hai chữ
bụng dạ để nói đến con người. Trong những ngày xưa cũ đó -cũng chừng một trăm
năm trở lại đây thôi- nếu bạn đến Nhật và hỏi bất cứ người nào rằng họ suy nghĩ
ở đâu, họ sẽ chỉ vào bụng và nói, "Chúng tôi suy nghĩ ở đây." Bây giờ
những con người này không còn nữa, đặc biệt là sau đệ nhị thế chiến. Nhật Bản
cũng đã trở thành giống như con búp bê thứ nhất -do ảnh hưởng Mỹ chi phối quá
nhiều. Bây giờ họ sẽ cười và không còn ai nói với bạn rằng họ suy nghĩ bằng cái
bụng -họ sẽ cho là chuyện ngu xuẩn nữa là khác. Bây giờ họ bắt đầu suy nghĩ
bằng cái đầu.
Tuy nhiên cái hàm ý nhấn
mạnh này rất quan trọng. Cái bụng là nguồn gốc sự sống của bạn. Bạn được nối
với người mẹ bằng cái cuống rốn; chính từ đây mà nhịp đời tuôn chảy. Còn cái
đầu, nó ở một góc xa nhất của đời bạn, trong khi trung tâm là cái cuống rốn.
Cuộc sống của bạn, sự hiện hữu của bạn được an trú ở đó. Sự suy nghĩ của bạn có
thể xảy ra ở cái đầu nhưng suy nghĩ chỉ là một bộ phận chuyên biệt. Giống như
đôi tay được dùng cho một công việc nào đó, đôi chân cho một số công việc khác,
rồi đôi mắt, lỗ tai, và cái mũi, v.v... như thế bạn dùng cái đầu, cơ chế vận
hành bộ não của bạn, để suy nghĩ, thế thôi.
Thế nhưng câu hỏi được đặt
ra, ai là kẻ sử dụng tất cả những cái này? Ai dùng đôi chân để đi, ai dùng đôi
tay, ai dùng đôi mắt? Và rồi ai dùng bộ não? Ðến bây giờ, ngay cả giới Tâm lý
học Tây phương cũng đang tỏ ra ngờ vực về ý tưởng cổ lổ của họ cho rằng bộ não
chính là tâm. Một mối hoài nghi lớn đang nhen nhúm: Không phải như thế. Một số
người đã bắt đầu suy nghĩ rằng bộ não không dính gì đến tâm.
Ngay chính bản thân bạn
thỉnh thoảng cũng có kinh nghiệm này. Cụ thể như, bạn vừa trông thấy một người
đàn ông mới đi băng ngang qua đường... Bạn nhớ lại khuôn mặt anh ta, bạn nhớ
mài mại rằng bạn đã từng biết y, bạn tin chắc rằng bạn đã biết tên của người
này rồi, thốt nhiên cái tên đó như nằm ở trên đầu lưỡi. Và bạn tự bảo, "Nó
ở trên lưỡi mình mà. Tôi biết là nó nằm ở đó, nhưng nó chưa chịu thốt ra."
Có hai sự việc đang xảy ra.
Bộ não đang cung cấp cái tên nhưng phải cần một ít thời gian. Nó nói rằng,
"Làm ơn, hãy chờ một chút. Nó có đó, ở trong bộ nhớ mà. Hãy chờ một chút
đi." Nhưng kẻ đang chờ đợi không phải là bộ óc -vì bạn biết cái tên này
mà, "Vâng, Tôi biết nó ở đó." Bộ óc là cơ phận mà tâm đang sử dụng.
Khi bạn cố gắng hết sức mà vẫn không nhớ ra, bạn cảm thấy bực bội và không thèm
nghĩ đến chuyện này nữa. Bạn bỏ đi ra vườn, đốt một điếu thuốc -và bỗng dưng nó
hiện ra.
Bạn và bộ não của bạn là
hai sự việc khác nhau. Bộ não chỉ là một cơ phận của bạn -giống như các cơ phận
khác. Cái bàn tay này là một cơ phận của tôi; tôi sử dụng nó. Bộ óc của tôi là
một cơ phận của tôi; tôi dùng nó.
Như vậy đâu là trung tâm an
trú của tâm? Thiền cho rằng nó ở trong bao tử, trong bụng, trong cái cuống rốn
-chính ở đó, nơi mà nhịp đập đầu tiên của sự sống xuất hiện. Từ đó nó tuôn chảy
ra khắp nơi. Hãy đi trở lại chỗ này.
Khi vị Thiền sư bảo,
"Bởi vì nó làm cái bụng ta khó chịu", ý ông ấy muốn nói rằng những
người nặng về đầu óc tác động mạnh vào tâm của ông. Họ là náo động, là phiền
nhiễu. "Nó làm cái bụng ta khó chịu'"
Chuyện cái đầu với cái bụng
có thể được nhân ra thành nhiều dạng đối đãi khác: trí óc với trực giác; lý
luận với tình yêu; ý thức với vô thức; bộ phận với toàn thể; hành động với sự
cố; sống với chết; của cải với sinh thể. Tất cả bảy cặp tương quan này đều khả
hữu và có ý nghĩa.
Trí óc thì rất là giới hạn;
trực giác thì vô tận. Trực giác luôn luôn đến từ cái bụng. Bất cứ lúc nào bạn
trực giác một chuyện gì đó sắp xảy đến với bạn -ta gọi là linh cảm- nó luôn
luôn đến từ cái bụng. Cái bụng của bạn sẽ bị ảnh hưởng ngay lập tức, gan ruột
của bạn như bị cồn cào lên. Khi bạn yêu một người, bạn không yêu bằng cái đầu
-thế nên những người thuần trí gọi đó là tình yêu mù quáng. Ðúng vậy, vì bộ óc
của bạn không hề xen vào chuyện này. Khi bạn yêu, tình yêu được bắt nguồn từ
một chỗ khác. Nếu bạn hỏi những nhà khoa học lớn, những thi hào, những thiên
tài sáng tạo, họ cũng sẽ nói rằng khi một phát kiến, một ý tưởng mới mẻ xảy đến
với họ, nó không hề đến từ cái đầu, không toát ra từ bộ óc, mà là một nơi nào
đó vượt ngoài khả năng hiểu biết của họ.
Nhà thiên tài khoa học
Marie Curie trong suốt ba năm trời vật lộn với một bài toán không tìm ra lời
giải. Bà đã làm tất cả những gì có thể làm được. Bà là một thiên tài toán học
nhưng bà đã chịu thua trước bài toán này, bà đã hoàn toàn thất bại. Rồi một
đêm, bà dẹp nó qua một bên không còn nghĩ tới nữa. Tất cả những nỗ lực có vẻ
như đã không đi đến đâu và rồi cũng sẽ chẳng đi đến đâu cả. Ba năm quả là một
thời gian khá dài cho một bài toán.
Ðêm đó bà đã hoàn toàn dứt
khoát dẹp nó qua một bên. Sáng hôm sau bà khởi sự bắt tay làm việc cho một dự
án mới. Nhưng chính đêm hôm đó, cái vấn nạn của bài toán đã được giải quyết
xong. Vào lúc nữa đêm bà thức dậy, đi đến bàn làm việc và giải xong bài toán
một cách chóng vánh rồi lên giường đi ngủ trở lại.
Sáng hôm sau khi trở lại
bàn làm việc bà đã không còn tin vào đôi mắt của mình nữa. Ai đã vào phòng để
giải bài toán này? Chỉ có người bồi phòng là có thể vào đây ban đêm để sửa soạn
giường ngủ cho bà. Nhưng người bồi phòng dĩ nhiên là không thể làm được chuyện
này -Bà Curie còn không giải nổi thì ai có thể làm được? Rồi khi bà nhìn vào
nét chữ viết tay ở trên bài giải -đúng là nét chữ của bà. Có thể là không giống
một cách hoàn toàn, nhưng đúng là của bà -bà có thể thấy rõ như vậy. Nét chữ
viết có vẻ hơi run run, lờ mờ giống như được viết trong cơn say -nhưng đúng là
của bà. Nó ở đâu ra vậy?
Bà chợt nhớ lại giấc mơ đêm
rồi -bà mơ thấy rằng bà sẽ giải được bài toán này và viết ra lời giải đó. Và
rồi bà nhớ lại toàn thể giấc mơ. Như vậy bà Curie đã giải được bài toán hóc búa
của mình trong giấc mơ. Bộ óc đã hoàn toàn thất bại. Bộ óc đã không thể tìm ra
lời giải. Lời giải đã đến từ cái bụng, từ tâm thức.
Chuyện này cũng giống y như
chuyện của Ðức Phật. Trong suốt sáu năm trời Ngài đã làm việc không ngừng, thử
đủ mọi phương cách để tìm ra con đường đi đến giác ngộ, và đã thất bại. Cũng
chẳng khác gì việc bà Marie Curie đi tìm phương cách để giải bài toán cho chính
mình và rồi một đêm Ngài quyết định dẹp bỏ hết mọi chuyện. Ngài tự nghĩ,
"Không có con đường nào để đi cả và cũng không có gì sẽ xảy ra thế nên ta
nên quên nó đi." Ðêm hôm đó Ngài đi vào một giấc ngủ hoàn toàn thư giản,
nhưng cũng chính đêm đó là đêm Ngài đạt thành giác ngộ. Sáng hôm sau khi mở mắt
ra, Ngài đã là một con người khác. Một cái gì đó đã xảy ra trong đêm rồi. Từ
đâu đến?
Nhưng hãy nhớ rằng -tại sao
nó chỉ xảy ra khi bạn đã tận tâm tận lực để tìm cách giải quyết vấn đề? Vâng,
chỉ vào lúc đó nó mới xảy ra. Chỉ khi nào cái khả năng của bộ óc của bạn kết
thúc ở tột đỉnh thì lúc đó trực giác mới bắt đầu làm việc. Ðây là một năng
lượng cao cấp hơn. Chỉ khi nào bạn sử dụng hết năng lượng của bộ óc, bạn mới có
thể có khả năng sử dụng đến nó -từ đây bạn mới có thể nhảy một bước đi vào trực
giác.
Chỉ riêng trực giác cũng sẽ
không mang lại kết quả. Không tin ư? Bạn có thể đi ngay đến Bồ Ðề Ðạo Tràng
ngồi vào dưới gốc cây mà ngày xưa Ðức Phật đã ngồi và đạt đến giác ngộ, rồi
hoàn toàn thư giản và bạn nói, "Tôi đã buông xả tất cả." Sẽ chẳng có
chuyện gì xảy ra cho bạn cả, bởi vì bạn có gì đâu để buông xả. Ít nhất là cũng
phải có đến sáu năm lao tâm khổ trí. Ðể đạt đến tình trạng vô tác phải cần đến
một tác hành lớn lao.
Trí óc đối với trực giác,
luận lý đối với tình yêu... Ðây là hai cách thế của một sinh thể -luận lý và
tình yêu. Luận lý là một đường thẳng; thương yêu là một tổng thể. Luận lý đi
theo một con đường thẳng cũng giống như ngôn ngữ. Bạn có để ý đến chuyện này
không? Ngôn ngữ chuyển động trên con đường thẳng cũng giống như luận lý. Thế
nhưng hiện hữu không hề là một phương trình đường thẳng. Hiện hữu là một kích
thích đồng bộ. Không hề có chuyện tôi hiện hữu, rồi bạn hiện hữu, rồi người
khác hiện hữu, rồi cây, rồi núi -tất cả chúng ta đều hiện hữu đồng bộ, cùng
nhau.
Ngôn ngữ là hư ngụy bởi vì
chúp xếp đặt mọi việc theo một đường thẳng. Khi bạn đặt một câu: chữ đầu tiên
xuất hiện, rồi đến chữ khác, và chữ khác nữa. Văn phạm ra điều lệ cứng nhắc buộc
chữ nào phải đặt trước, rồi đến chữ nào, và những chữ kế tiếp -mọi chuyện đều
phải theo đúng y như vậy.
Ðó là lý do tại sao chữ Hán
là một trong những ngôn ngữ tuyệt vời nhất -bởi vì nó ít mang màu sắc ngôn ngữ
nhất. Chữ Hán không có mẫu tự. Bởi vì không có mẫu tự, chữ Hán hiện hữu một
cách hoàn toàn đồng bộ. Nó chân thực hơn đối với hiện hữu hơn bất kỳ loại ngôn
ngữ nào. Nó uyển chuyển hơn, không cứng nhắc cố định. Nó giống tình yêu hơn là
luận lý. Nó gần với trực giác. Nó đến từ cái bụng. Nó có thể hàm chứa ý nghĩa
một ngàn lẽ một chuyện khác nhau. Thế nên, người ta cho rằng loại ngôn ngữ này
rất là không phù hợp với khoa học. Vâng, nó không khoa học chút nào -tình yêu
cũng không khoa học, hiện hữu cũng không khoa học. Nó bao hàm nhiều ý nghĩa
khác nhau. Nó gần gũi với thi ca.
Thế nhưng tính cách của nó
là như thế. Một cái cây có thể mang một ngàn lẻ một ý nghĩa khác nhau nhưng
đồng thời cũng có thể không mang một ý nghĩa nào. Ðối với nhà hoạ sĩ nó mang
một ý nghĩa, đối với người tiều phu nó có một ý nghĩa khác, đối với một nhà thơ
nó lại có một ý nghĩa khác nữa rồi và đối với bất cứ ai không hế quan tâm đến
cây cối, nó chẳng hề mang một ý nghĩa nào cả. Cái cây mang một ý nghĩa đối với
những đứa trẻ đang đùa chơi chung quanh nó; đối với những người thờ cúng dưới
gốc cây, nó là Thượng Ðế. Một ngàn lẻ một ý nghĩa. Một cái cây không hề bị cột
chặt vào một ý nghĩa duy nhất. Chữ Hán mà mỗi chữ là một hình ảnh tượng trưng
có thể mang nhiều ý nghĩa trong cùng một lúc. Bạn có thể tiếp cận chúng từ mọi
hướng khác nhau.
Thế nhưng ngôn ngữ lại là
một con đường thẳng. Một con đường thẳng di động; cái này đến cái kia và rồi
mọi chuyện xảy ra. Luận lý cũng thế, đi từ cái này đến cái khác và rồi kết quả
xảy ra. Và nếu cái này xảy ra thì cái kia không thể xảy ra. Hãy nhìn một thí
dụ: Một khi bạn nói điều này, bạn không thể nói điều ngược lại -bạn bị cấm làm
chuyện như thế. Nhưng trong hiện hữu, các đối cực đều có thể cộng sinh. Ðời
sống và cái chết, tình yêu và thù hận, chúng có thể hiện hữu cùng nhau -không
phủ nhận nhau. Không hề có chuyện nếu tình yêu hiện hữu thì thù hận không có
mặt. Ánh sáng hiện hữu cùng với bóng tối -nhưng khi làm văn, nếu bạn nói,
"Trong phòng tràn đầy ánh sáng," thì bạn không thể nói tiếp liền ngay
sau đó là "Căn phòng phủ đầy bóng tối". Ðó là chuyện không thể nào
chấp nhận được. Thế là bạn đã đóng khung ngôn ngữ lại. Bạn đã phải loại bỏ tính
cách nghịch lý. Mà hiện hữu là nghịch lý.
Và tôi gọi Thiền là con
đường của nghịch lý. Vâng, Thiền là nghịch lý. Trực giác là nghịch lý. Nó không
phải là một con đường thẳng, nó là một không gian nhiều chiều kích.
Ý thức với vô thức. Nhưng
xin hãy nhớ cho, khi tôi nói vô thức, đây không phải là vô thức của Freud. Ðó
là một vô thức hết sức nghèo nàn, một mảng nhỏ của vô thức, hay nói khác đi, đó
chỉ là một loại ý thức bị đè nén. Ðối với Thiền, vô thức là Thượng Ðế. Ðối với
Thiền, ý thức rất đổi nghèo nàn -đó chỉ là một mảng nhỏ, phần nổi của một băng
sơn. Phần vô thức là bao la, rộng khắp, vĩ đại, vô giới hạn. Phần ý thức phải
bị hoà tan vào vô thức, không có một cách thế nào khác -không hề có chuyện vô
thức biến thành ý thức. Và vô thức thì an trú ở cái bụng.
Hãy nhớ thêm điều này, ý
nghĩa của từ "vô thức" không được chỉnh lắm, sẽ làm cho người ta hiểu
lầm rằng vô thức là không có ý thức. Không phải như thế. Ðây là một loại ý thức
khác. Không phải là loại ý thức mà bạn đã từng biết mà là một loại ý thức đặc
biệt, hoàn toàn khác biệt -không phải tri thức trực giác; không phải phân tích
cũng không phải tổng hợp; và không thể phân chia ra được.
Bộ phận với toàn thể. Cái
đầu chỉ là một bộ phận. Cái bụng của bạn mới là cái tổng thể. Cái đầu chỉ nằm ở
trên đường tròn chu vi của bạn, cái bụng mới là trung tâm điểm.
Hành động với sự cố. Ðối
với cái đầu, mọi chuyện phải được hoàn tất, đây là một nhà làm việc giỏi. Ðối
với cái bụng, mọi chuyện chỉ là những sự cố xảy ra; vô tác.
Chết với sống. Ở trong đầu,
cái chết được tích lũy, bởi vì tất cả những ý nghĩ đều đã chết. Trong bụng là
nhịp đập của đời sống .
Và cuối cùng, của cải với
sinh thể. Cái đầu là một kẻ tích trữ, là một anh keo kiệt, luôn luôn chỉ biết
tích lũy. Tất cả mọi nỗ lực của nó là làm thế nào để có thêm, có nhiều thêm.
Kiến thức hay tiền bạc, không thành vấn đề, miễn là có càng nhiều càng tốt
-thêm bồ bịch, thêm nhà cửa, thêm tiền bạc, thêm quyền lực, thêm kiến thức,
thêm, thêm nữa.
Cái đầu tiếp tục nỗ lực sở
hữu nhiều thêm vì nó nghĩ rằng càng được thêm nhiều thì nó càng phong phú thêm.
Nhưng nó sẽ không bao giờ trở thành phong phú vì của cải không thể chuyển hoá
thành sinh thể.
Cái bụng là trung tâm của
sinh thể; nó không suy nghĩ theo cung cách chiếm đoạt, nó suy nghĩ theo hướng
của một sinh thể. Sống như là một người. Một người luôn an vui trong từng
khoảnh khắc của như thị. Trong khoảnh khắc của như thị đó đều gồm đủ tất cả mọi
chuyện - mọi ân sủng và phúc lành.
Vị Thiền sư nói rằng,
"Nó làm cái bụng ta khó chịu," ông muốn bao hàm tất cả những điều
trên. Cái đầu rất là độc hại. Hãy buông bỏ nó. Nhưng buông bỏ nó không có nghĩa
là tôi khuyên bạn không sử dụng nó. Bạn vẫn sử dụng nó nhưng không để cho nó sử
dụng bạn.
Xem tiếp Chương 4 - Quay về Mục lục - Quay về Mục lục Toàn tập