Osho - Thiền - Con đường nghịch lý (Tập 1)
Chương 4: Từ điệu múa của loài công
Norman O. Brown (1) đã từng nói: "Cần nên báo cho thế
hệ sắp tới biết rằng cuộc đấu tranh thật sự không phải là một cuộc đấu tranh
chính trị mà là để loại bỏ chính trị. Chính trị phải được thay thế bằng siêu
chính trị. Chính trị phải được thay thế bằng thi ca." Bằng cách nào thi ca
làm cách mạng?
Thi ca không làm cách mạng, thi
ca là cách mạng -bởi vì thi ca có một cái nhìn hoàn toàn khác biệt về đời sống.
Thi ca là một sự hoá thân. Thi ca có nghĩa là nhìn đời sống bằng đôi mắt ngạc
nhiên, nhìn đời sống như một điều huyền nhiệm, nhìn thẳng vào đời sống và chúc
tụng cuộc đời. Thi ca không hẵn chỉ là thi ca mà là một sự tiếp cận hiện hữu
với tất cả yêu thương. Khoa học là một sự hiếp dâm bởi vì trên căn bản, lý trí
là một sự hiếp dâm -trong khi thi ca là một thể hiện yêu thương. Lý trí mang
tính gây hấn, bạo động; trong khi thi ca là bất bạo động. Lý trí là suy nghĩ,
thi ca là cảm xúc.
Chúng ta đã xây dựng lên thế giới
này chung quanh suy nghĩ và đã thất bại, hoàn toàn thất bại. Trong thế giới
dung tục, thế giới của luận lý và lý trí, nhà chính trị bỗng trở nên vô cùng
quan trọng. Trong thế giới của cảm xúc, thế giới của thi ca, thế giới của yêu
thương, sự huyền nhiệm sẽ thay thế chính trị.
Lý trí ẩn chứa khát vọng, nó chỉ
muốn chiếm lĩnh quyền lực. Tại sao nó lại muốn chiếm lĩnh quyền lực? Tại sao nó
lại muốn có quyền lực ở trong tay? Bởi vì trong tận cùng sâu thẳm nó cảm thấy
bất lực, một mặc cảm tự ti ghê gớm hiện hữu ở tận đáy tầng . Ðể bao che, lý trí
đã cố gắng để trở nên quyền lực. Lý trí sẵn sàng làm bất cứ điều gì mà nó xét
thấy cần phải làm -không cần biết tốt hay xấu. Cần phải đạt đến quyền lực với
bất cứ giá nào bởi vì không quyền lực con người cảm thấy mình không là cái gì
cả, chỉ là một kẻ vô danh. Lý trí là một cuôc phiêu lưu của bản ngã. Hãy để cho
sự dung tục là một biểu hiệu của lý trí.
Thi ca là một biểu hiệu của cảm
tính. Tự thân nó đã có sức mạnh cho nên không cần phải có một quyền lực nào thế
vào. Nó không hề bị thương tổn vì mặc cảm tự ti. Một con người cảm tính là một
con người vô cầu. Ðó là con người có lòng thương yêu vô bờ nhưng không phải là
một kẻ tích lũy. Y có một sinh mệnh nhưng không hề kiếm tìm để thu góp thật
nhiều cho mình mà không bao giờ cảm thấy đủ. Y là một con người vô tranh -khi
đã vô cầu thì đâu còn tranh đua để làm gì? Là một con người vô cầu và vô tranh,
y thân thiện với mọi hiện hữu. Ðó là điều mà Ðức Phật gọi là lòng từ bi.
Vâng, thi ca là cách mạng, tuy
nhiên tôi không biết Norman có hiểu một cách đúng đắn thi ca là gì hay không,
bởi vì bản chất của ông ta vẫn là một nhà luận lý. Tôi không biết là ông đã
từng bao giờ thể nghiệm thi ca hay chưa. Khi ông ta nói về thi ca thì cũng đang
làm công việc luận bàn về nó. Bạn có thể luận bàn về thi ca nhưng sự thực những
điều bạn nói cũng chỉ là chuyện dung tục. Trước tiên chính bạn phải là thi ca,
phải là một huyền nhiệm. Luận bàn về chủ nghĩa thần bí sẽ chẳng giúp đỡ bạn
được gì -cũng vẫn vậy thôi, chẳng có gì thay đổi. Chỉ là một căn bệnh cũ với
cái tên mới. Ðó là điều mà người ta gọi là bình mới, rượu cũ. Ðó là lý do tại
sao ông ta lạc hướng.
Hãy nhìn lại lời phát biểu của
ông ta: "Cần nên báo cho thế hệ sắp tới biết rằng ...". Cái giọng
điệu "báo cho thế hệ sắp tới" vẫn là giọng điệu của một chính trị
gia. Thế hệ sắp tới không cần được báo cho biết mà cần được chỉ cho thấy. Con
người phải trở nên một huyền nhiệm, đó là lời phát biểu duy nhất cần được nói
lên. Thế hệ sắp tới không cần phải 'được báo cho biết' bởi vì khi nói như thế
bạn trở thành một nhà lãnh đạo chứ không còn là một vị Thầy. Có gì khác nhau
giữa một nhà lãnh đạo và một vị Thầy? Nhà lãnh đạo luôn bảo ngưòi ta phải làm
cái này cái nọ, một vị Thầy thì không. Ông ta sống và chỉ cho bạn sống như thế
nào.
Brown cho rằng: "Cần nên báo
cho thế hệ sắp tới biết rằng cuộc đấu tranh thật sự không phải là một cuộc đấu
tranh chính trị..." Nhưng đó cũng vẫn chỉ là một cuộc chiến. Ngôn ngữ vẫn
mang đầy tính chất gây hấn; đây là ngôn ngữ của sự hiếp dâm, không phải là ngôn
ngữ của tình yêu. Những điều này đã cho thấy như thế. Cũng lại quay trong cái
vòng lẩn quẩn. Người ta cần phải đọc giữa hai hàng chữ, có như thế bạn mới hiểu
được vấn đề. Lại đấu tranh? Cái chữ "đấu tranh" nghe nó tệ lậu thế
nào!
Và ông ta nói: "Cuộc đấu
tranh thật sự không phải là một cuộc đấu tranh chính trị...". Thế nhưng
bất cứ cuộc đấu tranh nào cũng sẽ biến thành chính trị; đấu tranh là chính trị.
Không có gì khác nhau khi bạn đấu tranh chống lại bất cứ cái gì, bạn vẫn sẽ trở
thành một nhà chính trị. Người huyền nhiệm không cần phải đấu tranh, huyền
nhiệm là xả bỏ -nên nhớ như thế. Y không là một chiến sĩ, y là người xả bỏ hoàn
toàn. Trông thấy sự phi lý của mọi chuyện, y làm người ngoại cuộc, y nhảy ra
khỏi cái vòng quay lẩn quẩn. Nếu bạn đấu tranh, bạn vẫn ở trong cái vòng quay
đó, bạn là một bộ phận của nó. Ngay cả bạn đối lập với nó bạn cũng vẫn ở trong
đó. Khi còn phải đối lập với bất cứ cái gì, bạn không thể vượt ra ngoài, bạn
không hề được chuyển hóa, thăng hoa. Ðây chỉ là một hành động chính trị
chống-chính-trị mà thôi, chẳng ra làm sao cả.
Hãy nhớ cho một điều, khi hai kẻ
đang đánh nhau, họ đều giống nhau. Con người thường giống với kẻ thù hơn là với
bằng hữu -bạn có thấy như thế không ? Khi bạn phải đánh nhau với ai đó, bạn trở
nên giống họ; bạn phải lựa chọn cùng chiến lược, chiến thuật, vũ khí, và những
phương cách như kẻ thù. Churchill đánh nhau với Hitler ông ta trở thành một
Hitler, ngược lại, ông ta khó mà thắng Hitler nổi. Churchill thắng Hitler bởi
vì ông ta đã chứng tỏ cho thấy là mình còn Hitler hơn cả chính Hitler nữa.
Kẻ thù đã biến đổi bạn hoàn toàn
trở thành giống y như họ -đó là lý do tại sao tôi hay nói rằng bạn có thể chọn
bằng hữu một cách xuẩn ngốc nhưng không bao giờ nên chọn kẻ thù một cách thiếu
trí tuệ. Bằng hữu không thay đổi bạn bao nhiêu nhưng kẻ thù lại có tác động sâu
xa, sự thù hằn thấm sâu vào bạn. Tình yêu có vẻ như chỉ kéo dài trong khoảnh
khắc; hận thù thì vô tận. Một mối tình chớm nở và tiếp diễn, rồi thì tuần trăng
mật kết thúc nhanh chóng, thế nhưng sự thù hận thì tiếp tục năm này qua năm
khác, hằng thế hệ và đôi khi hằng thế kỷ.
Tại sao con ngưòi lại có khả năng
thù hận hơn là yêu thương ? Mà thật ra, đôi khi bạn thấy họ đang yêu thương thì
cũng chỉ là vì thù hận. Cụ thể như, nếu cuộc chiến tranh Ấn - Hồi bộc phát, lúc
đó sẽ nảy sinh ra một tình yêu thương lớn lao giữa những người Ấn; họ cảm thấy
đoàn kết với nhau hơn, họ cảm thấy như chung cùng một mái gia đình. Lúc đó thì
người Maharashtrian sẽ không còn đánh nhau với người Gujariti, người nói tiếng
Hindi sẽ không còn chống lại những người không nói tiếng Hindi. Rồi thì họ sẽ
quên hết chuyện hận thù, họ sẽ trở thành một. Kẻ thù chung đã tạo nên một loại
tình cảm yêu thương mới. Nhưng đây là sự yêu thương do thù hận tạo nên, một khi
thù hận không còn hiện hữu thì tình cảm yêu thương này cũng biến mất -đó chỉ là
một phó sản.
Josef Stalin và Winston
Churchill, Roosevelt đã từng là những kẻ thù, nhưng rồi họ trở thành bạn vì đã
có cùng một kẻ thù chung, Hitler. Một khi nước Ðức không còn, tình bạn này cũng
tan rả theo. Tình thân hữu này không phải là một tình thân hữu thật sự mà chỉ
là con đẻ của một nhu cầu chính trị do họ có cùng chung kẻ thù. Hãy nên nhớ
rằng, tình yêu khai sanh bởi thù hận không phải là tình yêu, đó chỉ là đồng bạc
giả. Tất cả những đoàn kết chính trị đều trông cậy vào đây. Bạn không hề đoàn
kết với bất cứ ai, bạn chỉ đoàn kết với nhau để chống lại ai đó -đó là luận lý
của chính trị.
Cái gì đã xảy ra với cuộc Cách
Mạng Tháng Mười Nga? Người cộng sản đấu tranh để chống lại Sa hoàng, một trong
những kẻ thống trị chuyên chế bạo ngược chưa từng có. Nhưng đấu tranh với Sa
hoàng họ đã trở thành những ông Sa hoàng mới. Khi có quyền lực trong tay, họ đã
tỏ cho ta thấy là họ còn nguy hiểm, chuyên chế bạo ngược, độc tài hơn cả Sa
hoàng. Một Stalin còn nguy hiểm bằng cả một ngàn ông Sa hoàng. Y đã giết chết
hàng triệu người, nhân danh cách mạng. Những người bị giết có phải là kẻ giàu
có gì đâu, cũng chỉ là những người dân nghèo mạt rệp, những người vô sản. Người
vô sản bị giết để nhằm cứu vớt người vô sản -và bạo lực cứ thế tiếp tục ngự
trị.
Cái gì đã xảy ra? Cái gì là động
cơ? Tại sao Josef Stalin đã biến thành một kẻ phản cách mạng? Sau khi trở thành
một trong những nhà cách mạng vĩ đại nhất, bằng cách nào mà ông ta đã biến
thành một kẻ phản cách mạng? Có gì lạ đâu, khi bạn đấu tranh với một Sa hoàng,
không sớm thì muộn, bạn cũng giống y như một Sa hoàng ; lần hồi bạn cũng sẽ nói
chung một thứ ngôn ngữ. Và rồi khi bạn nắm được quyền lực, thì đó cũng chỉ là
một vị Sa hoàng khác lên ngôi. Vị Sa hoàng được thay thế, nhưng «tinh thần Sa
hoàng» vẫn được tiếp tục kế thừa.
Ðó là điều luôn luôn xảy ra. Bạn
không cần phải thông minh lắm mới hiểu được chuyện này. Cách mạng luôn thoái
trào bởi vì nhà cách mạng biến thái thành kẻ phản cách mạng khi y nắm quyền lực
trong tay. Ðó là điều tất nhiên, y không còn một chọn lựa nào khác.
Cuộc đấu tranh thật sự không hề
là một cuộc đấu tranh, cuộc đấu tranh thật sự không thể là một cuộc đấu tranh.
Con người cần phải biết buông bỏ. Nhà cách mạng thật sự không hề phải đấu tranh
với bất cứ ai, y nhìn thấy được sự phi lý của mọi chuyện và buông bỏ. Y cho mọi
người thấy rằng y sẽ không bao giờ là một thành phần của cái phi lý đó, cách
này hay cách khác -không ủng hộ mà cũng không chống. Chống lại cũng là một
chuyện hết sức xuẩn động. Chúng ta có rất ít những nhà cách mạng thật sự -Ðức
Phật, Bồ Ðề Ðạt Ma, những Thiền sư huyền nhiệm mà tôi thường đề cập đến là
những nhà cách mạng thật sự. Thế nhưng người ta không bao giờ nghĩ rằng họ là
những nhà cách mạng, người ta cho họ là những kẻ trốn chạy cuộc đời. Ngay cả
Brown cũng có thể đã suy nghĩ như thế -chỉ khi nào họ đánh nhau một trận tuyệt
đẹp với các chính trị gia, lúc đó họ mới là những nhà cách mạng. Thế nhưng khi
bạn đánh nhau một trận để đời với nhà chính trị thì bạn cũng trở thành một
chính trị gia -một chính trị gia này bị đánh bại và một chính trị gia khác lên
nắm quyền. Và, một điều khá tự nhiên, kẻ mới nắm quyền trở nên nhiều quyền lực
hơn là kẻ vừa bị đánh ngã. Quyền lực tiếp tục được chuyển vào những bàn tay xảo
quyệt, nguy hiểm hơn.
Tôi đang nói cái gì đây ? Tôi nói
rằng cuộc đấu tranh thực sự không hề là một cuộc đấu tranh. Phải là người rất
can đảm mới có thể buông bỏ. Nếu chúng ta có thật nhiều người biết buông bỏ,
thế giới này sẽ đổi thay -không còn một con đường nào khác. Tôi hoàn toàn ủng
hộ sự buông bỏ. Chúng ta đã chán ngấy cách mạng và những nhà cách mạng ! Họ làm
một công việc khá đơn giản là đi ban phát hy vọng. Chẳng khác gì những củ cà
rốt treo lủng lẳng trước mắt bạn. Bạn chẳng bao giờ ăn được những củ cà rốt
này, nó tiếp tục lùi ra khỏi tầm tay bạn. Cũng giống như sự lùi lại của đường
chân trời -bạn cứ việc tiếp tục tiến tới và nó thì cứ lùi dần, khoảng cách
không bao giờ thay đổi.
Brown cho rằng: «Chính trị phải
được thay thế bằng siêu chính trị.» Thì có gì thay đổi đâu, cũng vẫn là chính
trị. Ông ta gọi đó là siêu chính trị nhưng thực ra vẫn chỉ là chuyện thay tên
đổi họ, chẳng có gì thay đổi. Nếu bạn hỏi tôi về chuyện này, tôi sẽ nói rằng:
«Chính trị phải được thay thế bằng vô-chính-trị » chứ không phải là siêu chính
trị. Từ chính trị tiến đến vô-chính-trị -chỉ lúc đó bạn mới có thể chuyển từ
chính trị đến thi ca.
Thi ca là một ân sủng. Thi ca
không bao giờ quan hệ với bất cứ loại hình cấu trúc nào -xã hội, chính trị,
kinh tế. Thi ca được gắn liền với hiện hữu, với thị kiến trong sáng, với tình
trạng thiền quán của tâm thức. Với thi ca, bạn phải đi vào quán tưởng, bạn phải
biết chúc tụng cuộc đời, bạn phải học thêm hát ca và nhảy múa, bạn phải học
ngôn ngữ của òa vỡ niềm vui, bạn phải trở nên vô cùng nhạy cảm. Những giác quan
của bạn phải trở nên vô cùng tinh tế sống động -đôi mắt của bạn nên nhìn thấy
nhiều hơn, đôi tai nên nghe nhiều hơn, và đôi tay nên đụng chạm nhiều hơn. Một
lần nữa, bạn cần thêm một chút hoang dã. Bạn nên học lại từ loài công về điệu
múa, học lại từ loài chim không ngừng ca hót say mê, bạn nên học từ những ngọn
núi, những dòng sông, từ những bải cát mịn màng.
Ðể sống nên thơ con người cần trở
về nguyên thủy ; chính trị chỉ là giả tạo. Thi ca vì thế cũng có nghĩa là quay
trở lại với thiên nhiên, lắng chìm vào thiên nhiên một cách an hòa thư thái.
Thi ca đang hoà nhập con người bạn vào một cái gì đó bao la, rộng lớn vô cùng.
Vâng, thi ca là cách mạng -và đó
là điều mà tôi đang giảng dạy cho các bạn nghe đây. Hãy là những nhà thơ. Ðiều
này không có nghĩa là bạn phải là những Shakespeare hay Kalidas (2) hay Rabindranath...(3)
Không, tôi không muốn nói như vậy. Khi tôi nói «Hãy là những nhà thơ» có nghĩa
là hãy trở thành một vị Phật -bởi vì bất cứ những gì mà bạn gọi là thi ca chẳng
qua chỉ là một nét chấm phá của một bài thơ vĩ đại mà tôi đang nói đến, chỉ là
một cái nhìn thoáng qua, một mảnh nhỏ. Những gì mà một người như nhà thơ
Rabindranath trông thấy chỉ là một thoáng nhìn lờ mờ, nó xa xăm như những đỉnh
núi của dãy Hy Mã Lạp Sơn, rất xa, xa đến hàng ngàn dặm. Nhà thơ chỉ thoáng
thấy chúng lờ mờ ẩn hiện trong khi Ðức Phật thì đang ở ngay tại đó.
Rabindranath sản xuất ra thi ca,
Ðức Phật là một nhà thơ. Sự khác biệt này vô cùng lớn lao. Có thể là Ðức Phật
không sản xuất ra thi ca -khi bạn đã là nhà thơ thì cái gì mà chẳng là thơ ?
Rabindranath sáng tạo thi ca. Ông ta có những khoảnh khắc thật tuyệt vời, những
khoảnh khắc xuất thần, chan hoà ánh sáng, đến độ khi ông quay về với thực tại
nó như còn lảng vảng đâu đó -như một nỗi nhớ nhà, một kỹ niệm ngọt ngào, một
mùi hương thoang thoảng. Và rồi ông ta muốn biến chúng thành lời nếu không ông
sợ rằng mình sẽ quên đi mất. Những khoảnh khắc đó rất là hiếm hoi, thỉnh thoảng
mới xuất hiện -nếu không, nhà thơ cũng chỉ là những người bình thường như các
bạn, cũng chính trị như các bạn thôi. Những khoảnh khắc đó rất ít oi, năm khi
mười họa mới xuất hiện ; rất hiếm khi được chuyển tải đi trong thị kiến của con
người . Thế nhưng Ðức Phật an trú ở trong đó, Bồ Ðề Ðạt Ma tồn tại ở trong đó.
Ðối với Rabindranath, thi ca là một hoạt động, đối với Phật, tự nó là đời sống.
Rabindranath làm thơ, với Ðức Phật, một hơi thở là một lời thơ.
Thế nên khi tôi nói « Hãy là một
nhà thơ » có nghĩa rằng tôi muốn nói hãy trở thành những vị Phật, bắt đầu sống
trong một cảnh giới hoàn toàn khác biệt. Hãy lắng nghe nhịp đập của trái tim
mình nhiều hơn, bớt nghe tiếng nói của cái đầu. Chính từ trong cái đầu này đã
đẻ ra những Josef Stalin, Adolf Hitler. Trong trái tim của bạn, có bóng dáng
của Ðức Phật ở đó, trong tận cùng sâu thẳm của trái tim bạn. Hãy đi đến đó. Hãy
hướng nội bằng những bước chân tĩnh lặng.
Nếu chúng ta có thật nhiều những
nhà thơ như Ðức Phật, thế giới này hẵn nhiên sẽ thay đổi -không cần phải kinh
qua một nỗ lực trực tiếp, một hành động trực tiếp nào cả. Hành động trực tiếp
là chính trị, hành động gián tiếp là thi ca. Bạn không cần phải hành động trực
tiếp, một cách đơn giản, nó sẽ bắt đầu xảy đến. Bởi vì bạn đang chuyển hoá, bạn
tạo ra những làn sóng rung động của đổi thay. Bởi vì bạn đang sống ở một cung
bậc khác nên những ai đến tiếp xúc với bạn họ bắt đầu nghe một loại thanh âm
khác, họ bắt đầu nghe điệu nhạc của một thế giới khác, và rồi họ sẽ bắt đầu
khuếch tán ra, bắt đầu mang theo mùi hương của bạn.
Một nhà thơ như Ðức Phật hay Bồ
Ðề Ðạt Ma sáng tác ra muôn ngàn bài thơ trong thế giới này. Các Ngài đã trở
thành chất xúc tác. Sự hiện hữu của các Ngài cũng đủ để gây cảm hứng cho bao
người. Ðấy là lý do tại sao tại Ðông phương chúng ta hay cầu nguyện satsanga.
Satsanga có nghĩa là hiện hữu trong sự có mặt của một nhà thơ, hiện hữu trong
sự có mặt của một vị Thầy, hiện hữu với một vị Thầy vừa đến với ta -trong bóng
mát của một vị Thầy, chỉ vậy thôi là đủ. Nếu bạn đi ngang qua một vườn hoa, có
thể là bạn đã không đụng tới một đoá hoa nào cả, nhưng khi về đến nhà, bỗng
dưng bạn thấy một mùi hương thoang thoảng trên áo quần đang mặc.
Khi bạn đến với một vị Thầy, có
một cái gì đó đang bắt đầu lảng vảng, quanh quẩn chung quanh bạn. Trong giây
phút đầu tiên nó mỏng manh như sương khói, trong giây phút đầu tiên bạn không
thể xác quyết được nó là cái gì, nhưng một điều chắc chắn là : đang có một cái
gì đó. Theo thời gian, nó bắt đầu trở nên rõ ràng hơn, sáng sủa hơn, trong suốt
hơn. Và rồi ngay lúc đó bạn thấy mình đang an trú trong một chiều kích hoàn
toàn khác biệt với dòng sinh mệnh.
Câu hỏi thứ hai :
Tôi vẫn không thể hiểu được sự kỳ
quặc của những gì ông nói. Có phải ông nói rằng ông đã không thốt ra một lời
nào, Bhagwan, làm sao mà như vậy được ?
Hãy nghe một bài thơ về Thiền :
Cái bóng tre
Quét qua lại trên chiếc cầu thang
Suốt đêm dài
Nhưng không một hạt bụi nào bị
khuấy động.
Ánh trăng
Chiếu xuyên qua tận đáy hồ
Nhưng không để lại một dấu vết
nào
Trên mặt nước.
Câu hỏi thứ ba :
Thế nào là giác ngộ ?
Giác ngộ là đi đến chỗ nhận thức
rằng chẳng có gì để tìm kiếm. Giác ngộ là đi đến chỗ hiểu rằng chẳng có nơi nào
để đến. Giác ngộ là hiểu biết rằng chỉ có đây là tất cả, là viên mãn, là như
thị. Giác ngộ không phải là sự đạt đến, mà hiểu được rằng chẳng có cái gì để
vươn tới và chẳng có nơi chốn nào để đi tới. Bởi vì bạn đã ở ngay ở đó rồi -bạn
có rời xa nó bao giờ đâu, bạn không thể nào tách lìa nó ra được. Không bao giờ
bạn có thể đánh mất Thượng Ðế. Trong một giây phút nào đó, có thể là bạn đã
quên bẳng đi mất, thế thôi. Cũng có thể là bạn đang say ngủ và rồi bạn lạc lối
vào những giấc mơ, rất nhiều giấc mơ, thế thôi -nhưng mà bạn luôn ở đó. Thượng
Ðế là chính sự hiện hữu của bạn.
Thế nên điều quan trọng đầu tiên:
Ðừng bao giờ nghĩ rằng giác ngộ là một mục tiêu, không bao giờ. Ðó không phải
là một mục tiêu, đó cũng không phải là một cái gì để bạn khao khát tìm cầu. Nếu
bạn khao khát tìm cầu, bạn sẽ chẳng bao giờ đạt đến. Ham muốn một ngàn lẻ một
thứ, ngày qua ngày bạn sẽ thấy rằng tất cả những ham muốn đều chỉ là phù phiếm.
Mỗi khát vọng cứ đưa bạn đến thất vọng, mỗi khát vọng cứ lần lượt quẳng bạn
xuống hố sâu.
Chuyện này đã xảy ra hàng triệu
năm rồi thế mà bây giờ bạn vẫn cứ bắt đầu nuôi hy vọng, bạn lại bắt đầu suy
nghĩ rằng niềm khát vọng mới vừa nảy sinh, đâm chồi trong lòng bạn có thể sẽ
mang bạn đến một thiên đường, sẽ cho bạn, sẽ thỏa mãn tất cả những gì mà bạn đã
từng mơ ước. Niềm hy vọng cứ thế không ngừng vươn lên. Giác ngộ chỉ đến với bạn
khi tất cả mọi hy vọng biến mất. Giác ngộ là sự tan biến của hy vọng.
Chớ vội khó chịu khi nghe tôi nói
rằng giác ngộ là trạng thái của vô vọng -đây không phải là chuyện tiêu cực. Khi
hy vọng không còn dấy lên, khát vọng không còn sinh ra, là lúc tương lai biến
mất. Ðã không còn khát vọng thì đâu còn cần tương lai làm gì? Cái khung vải cho
bức tranh tương lai chỉ cần thiết cho khát vọng. Bạn tô vẽ những khát vọng của
bạn trên khung vải của tương lai. Một khi đã không có gì để tô vẽ thì bạn mang
theo khung vải để làm gì? Bạn sẽ quẳng nó đi. Một khi đã không còn gì để tô vẽ,
bạn cũng đâu cần phải mang theo cây cọ hay ống màu? Tất cả đều thuộc về quá
khứ. Khung vải đến từ tương lai và cây cọ, ống màu, kỹ thuật,... đại loại như
thế đều đến từ quá khứ. Một khi bạn không còn vẽ nữa, bạn quẳng tất cả chúng đi
-và thế là đột nhiên bạn đang ở đây, ngay bây giờ.
Ðây là điều mà tôi đã nói đến
trong ngày hôm trước -chittakshana, sát na tỉnh thức. Ðiều mà Ðức Phật gọi là
chittakshana, sát na tỉnh thức -phút giây của giác ngộ, phút giây của tỉnh
thức. Cái khoảnh khắc tỉnh thức này có thể xảy ra bất cứ lúc nào, không nhất
thiết phải ở một thời điểm đặc biệt nào, một tình huống đặc biệt nào, hay một
nơi chốn đặc biệt nào -nó có thể xảy ra trong mọi tình huống, nó đã và đang xảy
ra trong mọi tình huống. Tất cả chỉ cần một khoảnh khắc đơn thuần vô niệm, vô
cầu, vô hy vọng. Trong cái khoảnh khắc đơn thuần đó, ánh chớp bùng lên...
Một hôm Thiền sư Chikan đang làm cỏ
chung quanh một ngôi chùa đổ nát. Khi ông ta quẳng đi một mảnh ngói bể, nó chạm
vào một cây tre và gây lên một tiếng động. Thế là ông ta hoát nhiên đạt ngộ.
Cảm hứng việc này, ông hát lên :
Từ tiếng vang của mảnh ngói bể
chạm vào cành tre
Lập tức, tôi quên hết tất cả
những gì đã học.
Việc cải đổi bản tánh mình trở
nên không cần thiết.
Tôi đi làm những công việc đời
thường
Và bước đi trên con đường người
xưa đã bước.
Không chút nãn lòng trong trạng
thái không tâm.
Từ đây, đi bất cứ nơi đâu
Tôi sẽ chẳng còn lưu lại dấu chân
Vì đã không còn ở trong vòng âm
thanh, sắc tướng.
Có phải những bậc giác ngộ
Ðã từng nói ở một nơi nào đó :
« Như thế đấy mới gọi là đạt ngộ
»
Ông thiền sư khốn khổ này,
Chikan, đã tu tập không ngừng trong vòng ba mươi năm. Ông ta là một người kiên
trì cầu đạo, một người rất thánh thiện, rất chân thành, thiết thiết tha tha.
Ông ta thực tập đủ mọi phương cách đã được chỉ dạy, đã viếng thăm không biết
bao nhiêu vị Ðại sư, đã sống qua không biết bao nhiêu tu viện. Ông ta đã làm
tất cả những gì mà trong khả năng của một con người có thể làm được. Ông ta
thực hành yoga, tọa thiền, thử đủ mọi thứ -nhưng tất cả chẳng mang lại một kết
quả nào. Chẳng có chuyện gì xảy ra ; mà ngược lại, càng ngày ông càng cảm thấy
phiền não bực bội hơn. Thêm một phương thức thất bại, mối phiền não bực bội lại
càng dày thêm.
Ông đã đọc hầu hết các kinh điển
Phật giáo -hàng ngàn cuốn như thế. Người ta nói rằng ông Chikan này có đủ tất
cả các loại kinh điển chất đầy trong phòng và ông ta đọc ngấu nghiến suốt ngày
lẫn đêm không lúc nào ngừng. Ông ta lại có một trí nhớ thật tuyệt vời, nên tất
cả những kinh sách đọc qua một lần ông đều thuộc nằm lòng -nhưng mà vẫn chẳng
có gì xảy ra cả.
Thế rồi một hôm ông ta đốt cháy
hết toàn bộ cái thư viện chất chứa kinh sách của mình. Thấy kinh sách bốc cháy
trong ngọn lửa, ông cười lên sảng khoái. Rồi ông rời tu viện, rời Thầy, tìm đến
trú ngụ trong một ngôi chùa đổ nát. Chẳng còn ngó ngàng gì đến thiền định,
chẳng còn ngó ngàng gì đến yoga, ông quên luôn tất cả pháp môn này nọ, những gì
được gọi là giới đức, v.v.. kể cả việc vào trong chùa lễ Phật.
Nhưng rồi chuyện đó đã xảy ra
trong lúc ông ta trú ngụ trong ngôi chùa hoang phế này. Thiền sư Chikan đang
làm cỏ chung quanh chùa -một công việc chẳng có gì là tôn giáo, chẳng có gì là
đặc biệt, chỉ là nhổ cỏ thôi. Khi ông ta quẳng đi một mảnh ngói bể, nó chạm vào
một cây tre và gây lên một tiếng động -trong khoảnh khắc đó là chittakshana, là
khoảnh khắc của giác ngộ xảy ra. Ngay khi tiếng động của viên ngói chạm vào
cành tre, một cú 'sốc', một cú đập mạnh thình lình xảy đến, tâm của ông ta
ngưng đọng lại trong khoảnh khắc này, và ông ta hoát nhiên đạt ngộ.
Làm thế nào mà người ta lại có
thể đạt đến giác ngộ được trong một khoảnh khắc ngắn ngủi như vậy ? Vâng, đó là
điều có thể xảy ra, bởi vì để được giác ngộ -một người chỉ cần nhận ra được sự
thật. Ðây không phải là một cái gì xảy ra ở bên ngoài mà là phát khởi từ bên
trong. Nó luôn hiện hữu ở đó nhưng bởi vì bạn đã bị bao phủ bởi những đám mây
mù, bạn đã bị tràn ngập bởi những tạp niệm.
Thiền sư Chikan đã đốt toàn bộ
kinh điển. Ðây chỉ là một hình ảnh tượng trưng. Bây giờ thì ông ta không còn
nhớ bất cứ điều gì, đã quên đi tất cả việc tìm cầu, đã không còn tha thiết đến
mọi chuyện. Không còn vướng mắc Chikan trở lại sống như một người bình thường
-ngay cả không còn xem mình là một tăng sĩ. Ông đã không còn nuôi bất cứ kỳ
vọng nào, không còn mục tiêu nào của bản ngã để theo đuổi. Hãy nhớ rằng, có hai
loại mục tiêu của bản ngã: thứ nhất, mục tiêu thế tục và thứ hai là mục tiêu
phi-thế-tục. Một số người chạy đi săn tìm tiền bạc; một số khác chạy theo quyền
lực, danh vọng, thế lực; cũng có những người đi thì tìm cầu Thượng Ðế, niết
bàn, giác ngộ -nhưng nói chung, sự kiếm tìm không bao giờ ngưng nghỉ. Và ai
đang đi tìm cầu? Thì cũng là chung một cái bản ngã đó. Khoảnh khắc mà bạn buông
bỏ sự tìm cầu cũng chính là khoảnh khắc mà bạn buông bỏ cái bản ngã. Trong cái
khoảnh khắc vô cầu đó, người tìm cầu đã không còn hiện hữu.
Bây giờ ta hãy hình dung ra cái
ông sư khốn khổ -bây giờ không còn là một nhà sư nữa- đang trú ngụ trong ngôi
chùa hoang phế này. Ông ta không còn bất cứ nơi chốn nào khác để đi đến, ngày
ngày chỉ biết dọn đất làm vườn -có thể là để gieo trồng cây trái hoa màu, đại
loại như thế. Rồi ông gặp phải một mảnh ngói bể, ông ta liệng nó đi một cách vô
ý thức. Mảnh ngói chạm vào cành tre vang lên một tiếng "cách" bất
ngờ, một tiếng động đột nhiên, và bỗng nhiên ông đạt ngộ.
Và ông nói:
Từ tiếng vang của mảnh ngói bể
chạm vào cành tre
Lập tức, tôi quên hết tất cả
những gì đã học.
Giác ngộ là một tiến trình giải
trừ học vấn. Trở thành hoàn toàn ngu dốt. Nhưng cái dốt này thì vô cùng rực rỡ
trong khi cái tri kiến của bạn lại thật ảm đạm, tối tăm. Cái dốt này rất là
sống động và rực sáng trong khi cái kiến thức của bạn thì lại u tối và bay mùi
tử khí.
Ông ta nói: Lập tức, tôi quên hết
tất cả những gì đã học. Trong khoảnh khắc đó đã không còn tri kiến, trong
khoảnh khắc đó đã không còn người nhận biết, người quan sát, mà chỉ là một
tiếng động vang lên. Từ đó một người tỉnh thức sau một cơn mê ngủ dài.
Và ông tiếp: Việc cải đổi bản
tánh mình trở nên không cần thiết. Ngay hôm đó ông cảm nhận được rằng mình đã
nỗ lực một cách không cần thiết. Việc cải đổi bản tánh mình trở nên không cần
thiết. Bạn không cần phải tu sửa, bạn không cần phải cải thiện bạn -tất cả chỉ
là những chuyện vớ vẩn.
Nên cảnh giác đối với tất cả
những ai đến bảo bạn hãy tu tâm sửa tánh, hãy thế này thế nọ, hãy trở nên đức
hạnh; những người không ngừng bảo bạn rằng cái này sai, không nên làm, cái này
đúng, hãy làm theo, cái này sẽ dẫn bạn đến thiên đàng, cái kia sẽ đưa bạn xuống
địa ngục. Tất cả những ai không ngừng bảo bạn hãy sửa đổi tâm tánh, hãy tự cải
thiện mình đều là những kẻ cực kỳ nguy hiểm. Họ là một trong những nguyên nhân
căn bản cản trở bạn đi đến giác ngộ. Bản tánh không thể nào được sửa đổi mà
phải được chấp nhận y như thế. Không có một con đường nào khác. Bất cứ bạn là
ai, bất cứ bạn là cái gì cũng có nghĩa là bạn là thế đó, bạn là như vậy. Một sự
chấp nhận hoàn toàn -Ðức Phật gọi đó là tathata -như như-, một sự chấp nhận
hoàn toàn y như vậy. Chẳng có gì ở đó để thay đổi.
Làm sao bạn có thể thay đổi được
nó và ai là người thay đổi nó? Ðó chính là tự tánh của bạn và bạn lại cố gắng
để thay đổi nó! Chẳng khác gì một con chó chạy đuổi theo cái đuôi của mình. Con
chó sẽ nổi khùng lên. Nhưng những con chó còn chưa xuẩn động bằng con người.
Con người cứ mãi chạy đuổi theo cái đuôi của mình, càng thấy khó khăn chừng nào
họ lại càng nhảy cẩng lên, và càng cố gắng bao nhiêu họ càng trở nên quái đản
bấy nhiêu.
Không có gì để thay đổi bởi vì
tất cả đều tuyệt vời. Ðó gọi là giác ngộ. Tất cả đều là như thị, tất cả đều
viên mãn, đây là cái thế giới hoàn chỉnh nhất, khoảnh khắc này là tròn đầy
-thực chứng điều này được gọi là giác ngộ.
Câu hỏi thứ năm :
Ngài vừa nói rằng cái đó ở ngay
trước mắt của qúy vị. Nó thực sự xa xôi đến như vậy sao ?
Thực sự không hẵn như vậy. Tôi
nói thế không ngoài mục đích thuyết phục bạn.
Như vầy tôi nghe...
Mulla Nasruddin (4) đang kể
chuyện cho con trai mình và một lần nữa ông ta bảo cậu con trai rằng -ông ta đã
kể chuyện này không biết bao nhiêu lần trước đây- hồi mà ông ta đi săn ở Nam
Phi, ông ta đã giết được mười con sư tử.
Cậu con ngạc nhiên: «Này bố, mới
năm rồi bố nói là năm con, bây giờ bố lại thay đổi. Bố bảo là đến mười con!»
Mulla trả lời: «Vâng, bố biết mà.
Năm rồi bố bảo chỉ có năm con là vì con chưa đủ khôn lớn để tin một con số lớn
hơn. Năm tới bố sẽ bảo là bố đã giết mười lăm con sư tử bởi vì bố chỉ nói với
con tới một mức độ nào đó mà con có thể tin được.»
Vâng, tôi đã nói với bạn rằng cái
đó ở ngay trước mắt qúy vị chỉ vì nói hơn thế có thể là rất khó khăn để cho bạn
tin.
Thật ra, nó không phải ở trước
mắt bạn, nó ở đằng sau. Thực ra bạn không thể nhìn thấy nó bởi vì chính nó là
kẻ nhìn. Thượng Ðế không thể được nhìn. Thượng Ðế là cái nhìn ở trong bạn,
Thượng Ðế là kẻ đang nhìn thông qua bạn -làm sao bạn có thể nhìn thấy được
Thượng Ðế? Thượng Ðế không ở trước mắt bạn mà là đang ở đàng sau.
Tuy nhiên nói như vậy sẽ vô cùng
khó khăn cho bạn trong lúc này nên tôi cố gắng đi chậm lại một tí, tôi thuyết
phục bạn bằng cách nói rằng Thượng Ðế đang hiện hữu trước mắt bạn. Không, nó
không đến nỗi xa xôi quá như vật đâu. Không có một khoảng cách nào cả giữa bạn
và nó. Tattwamasi - nó là ngươi.
Câu hỏi thứ sáu :
Tại sao Thiền là nghịch lý?
-bởi vì cuộc đời là nghịch lý và
Thiền là tấm gương phản chiếu cuộc đời một cách đơn giản. Thiền không là Triết
học.
Triết học không hề nghịch lý,
Triết học rất luận lý -bởi vì triết học là những cấu trúc của tâm. Con người
tạo nên chúng. Chúng được sản xuất bởi con người. Chúng là thành phẩm của con
người được cắt đo, sắp xếp một cách rất tự nhiên, và luận lý để tạo khả năng
thuyết phục. Tất cả những bộ phận nào có nội dung đi ngược lại cái cấu trúc đó
đều bị cắt xén, loại trừ, bỏ đi. Triết học vì thế không hề phản ảnh thực tại
đời sống; chúng đã được chọn lựa ra từ đời sống. Chúng không tinh ròng mà chỉ
là những sản phẩm văn hóa.
Thiền là nghịch lý bởi vì Thiền
không phải là Triết học. Thiền không hề quan tâm đến chuyện đời sống là cái gì,
điều mà nó quan tâm là thực tại hiện hữu như thế nào thì nên được phản chiếu
lại đúng y như vậy. Ta không nên chọn lựa, bởi vì ngay lúc bạn làm công việc
đó, cái được chọn lựa đã không còn là nó nữa. Chọn lựa mang đến điều giả dối.
Tốt hơn là đừng bao giờ chọn lựa,
ở trong trạng thái không lựa chọn -và như thế bạn luôn ở trong chân lý.
Nhưng thực tế thì không như vậy:
Bạn yêu một người đàn bà và rồi bạn bắt đầu chọn lựa. Bạn sẽ rơi vào chuyện
phiền nhiễu ngay. Bạn không còn nhìn người đàn bà như thực sự là nàng, bạn chỉ
nhìn những nết tốt ở nàng và không hề nhìn thấy những gì được xem là không tốt.
Có cả một ngàn lẻ một thứ ở trong nàng -có cái tốt, có cái xấu, con người mà,
có ai hoàn toàn đâu. Thượng Ðế không bao giờ tạo ra những anh chàng lên mặt đạo
đức -những sinh vật đần độn như là những xác chết, những con người không xương
sống, không máu huyết. Thượng Ðế tạo ra những con người sống động. Và mỗi một
con người có thể có những điểm mà bạn thích và những điểm bạn không thích -vì
Ngài đâu có cắt đo ra một mẫu người đặc biệt cho riêng bạn đâu, con người đó
không phải chỉ dành cho bạn, không phải là thành phẩm của một đường dây sản
xuất dây chuyền trong một cơ xưởng. Y vô cùng độc đáo. Chàng là chàng và nàng
là nàng.
Khi bạn yêu một người đàn bà, bạn
bắt đầu lựa chọn. Bạn không hề nhìn thấy rất nhiều chuyện. Vâng, thỉnh thoảng
bạn cũng cảm thấy nàng nổi giận nhưng mà bạn bỏ qua, bạn không hề chú ý đến.
Bạn chỉ thấy khía cạnh thần thánh ở nàng mà không hề thấy cái mặt phù thủy. Phù
thủy vẫn hiện diện ở đó. Thần thánh sẽ không thể hiện hữu nếu không có phù
thủy, bằng không thần thánh cũng chẳng có giá trị gì. Nàng quá tuyệt vời để
được vui sống, quá tuyệt vời để được yêu. Và bạn thì đâu có muốn thờ phượng một
người đàn bà, bạn chỉ muốn yêu họ. Bạn muốn người đàn bà là một con người,
không phải là một vị thần thánh.
Nhưng thực tế thì không như vậy.
Bạn đang giả bộ, bạn không nhìn thấy bất kỳ khía cạnh tiêu cực nào. Bạn bắt đầu
chọn lựa. Bạn vẽ vời ra hình ảnh một người đàn bà hoàn toàn sai lầm, không đúng
sự thực. Và rồi không sớm thì muộn bạn sẽ bắt đầu cảm thấy phiền não bực bội
bởi vì không sớm thì muộn con người thực của nàng sẽ không bao giờ giống với
hình ảnh mà bạn đã vẽ vời ra trong trí tưởng. Bạn sẽ có cảm tưởng như là bị
lường gạt, lừa dối và chính nàng là người đã lừa dối bạn một cách có chủ tâm.
Sự thực không phải như vậy, không ai lừa dối bạn cả. Chính bạn là tác giả của
vở bi kịch. Bạn đã tìm cách để lừa dối chính mình từ khi bạn bắt đầu lựa chọn.
Bạn đã không hề nhìn người đàn bà đúng như là con người thực của nàng, như là
một tấm gương phản chiếu trung thực. Vâng, có những cái thật tuyệt vời nhưng
không phải là không có những cái tồi tệ -bởi vì tuyệt vời không bao giờ hiện
hữu mà không có tồi tệ, và ngược lại. Chúng hiện hữu cùng nhau. Chúng là hai
mặt của một đồng tiền.
Thỉnh thoảng người đàn bà rất
ngọt ngào nhưng thỉnh thoảng nàng cũng rất chanh chua. Có thể là một điều khó
khăn cho bạn khi nhìn suốt hai mặt của vấn đề, vì chúng có vẻ nghịch lý, không
phù hợp với kiểu cách luận lý Aristote của bạn -nó có vẻ như phi luận lý, làm thế
nào mà một người đàn bà có hai mặt như thế ? Có lúc nàng yêu bạn những cũng có
lúc nàng thù ghét bạn; thực ra, càng yêu nhau lắm càng cắn nhau đau. Có lúc
nàng như sẵn sàng để chết vì bạn nhưng cũng có lắm lúc nàng sẵn sàng để giết
bạn bất cứ lúc nào. Người đàn bà là một nguồn năng lượng rất dữ dội, cũng giống
như người đàn ông vậy.
Nhưng lỗi là ở bạn, bạn đã tạo
nên một câu chuyện thần tiên. Bạn chọn lựa cái này, bạn loại bỏ cái kia và cuối
cùng bạn vẽ ra một hình ảnh. Nhưng cái hình ảnh này sẽ không tồn tại lâu dài.
Một khi tuần trăng mật qua đi, thực tại lên tiếng nói. Thực tại không hề bị
đánh ngã bởi óc tưởng tượng, bởi những mộng mơ của bạn, sớm hay muộn bạn phải
quan tâm đến nó thôi. Vâng, bạn có thể tìm cách trì hoãn trong lúc này, nhưng
sẽ không bao giờ kéo dài vĩnh viễn. Và khi thực tại cất tiếng nói...
Nó lên tiếng nói trong đời sống
hằng ngày. Khi bạn hẹn hò với một người đàn bà mỗi ngày một lần trên bải biển,
nàng là một sinh vật hoàn toàn khác biệt. Và bạn cũng thế, cũng là một loại
sinh vật khác biệt. Ðể gặp gỡ trong một giờ, nàng đã phải chuẩn bị rất chu đáo,
mọi thứ đều được sửa soạn, nàng đã đứng hàng giờ trước tấm gương soi, đã bao
lần diễn tập. Nhưng người đàn bà này sẽ không bao giờ giống với người đàn bà sẽ
sống chung với bạn hai mươi bốn giờ trong ngày ; nàng sẽ không có thì giờ để
sửa soạn và diễn tập! Ngày qua ngày, nàng sẽ bắt đầu quên bẵng bạn. Vâng, có
thể nàng chỉ sửa soạn khi nào cùng bạn đi xem hát, còn không, chẳng có gì để
cho nàng phải bận tâm.
Và rồi bạn sẽ thấy những chuyện
chưa từng xảy ra trước đó. Những mảnh vụn của cuộc sống, của đời thường, lên
tiếng nói. Nàng bắt đầu cãi cọ vì những chuyện không đâu -và bạn cũng trở nên
như thế. Chỉ cần một chuyện nhỏ cũng đủ gây nên giận dữ, rầy rà, tranh chấp -dĩ
nhiên những chuyện như thế chưa từng xảy ra lần nào trong cái thuở hai người
hẹn hò nhau trên bải biển. Ở đó chỉ có trăng thanh và sóng biển. Ở đó nàng
không hề tranh cãi với bạn ; bất cứ nàng nói ra điều gì bạn đều thuận ý, bất cứ
điều gì bạn nói ra nàng cũng thuận tình. Bạn sẵn sàng để nói vâng, trong phút
giây này tiếng không hầu như không bao giờ có mặt.
Thế nhưng tiếng không đó đã không
phải chờ đợi lâu. Nó sẽ xuất hiện, nó sẽ nổi lên. Và một khi nó nổi lên rồi,
cái hình ảnh đẹp đẽ trong trí tưởng của bạn bắt đầu vỡ tan thành từng mảnh vụn.
Thế rồi bạn cho rằng nàng đã làm điều gì đó không phải đối với bạn.
Cái thí dụ này không hẵn chỉ là
chuyện xảy ra giữa một người nam và một người nữ, đây cũng là cái truyện dài
triết học. Mỗi triết thuyết đều giống y như thế. Mỗi triết thuyết đều chọn lựa
ra một vài mảng của thực tại và cố ý loại bỏ đi những cái khác. Bởi vậy, mỗi
triết thuyết đều có những kẻ hở, những đường nứt, rất dễ bị phê phán -và dĩ
nhiên, rất cần được phê phán. Bất cứ ai tin tưởng vào những triết thuyết này
đều giả bộ như không nhìn thấy những kẻ hở đó, ngược lại những ai không tin thì
đều chỉ thấy toàn là những khe hở -họ chọn những vị trí đối nghịch. Mỗi triết
thuyết cần được phê phán và chẳng có gì là sai quấy khi ta phê phán chúng. Nó
cũng chân thực như ý tưởng của người đề xuất ra chúng.
Mà điều này cũng không phải chỉ
xảy ra đối với Triết học, cả Khoa học cũng thế. Chúng ta tạo ra một học thuyết
nào đó và kéo dài thời gian trăng mật với nó một thời gian. Trong một vài năm,
mọi chuyện đều có vẻ như xuôi chảy tốt đẹp. Nhưng rồi thực tại lên tiếng. Thực
tại mang đến một vài dữ kiện đẩy học thuyết vào chỗ lúng túng khi phải giải
thích chúng. Những dữ kiện này tự nó lên tiếng nói và sẽ là những phản chứng
làm sụp đổ học thuyết. Trong thế kỷ thứ mười tám, khoa học được xem như là
tuyệt đối chắc chắn, bây giờ thì sự chắc chắn không còn nữa. Bây giờ một học
thuyết mới ra đời : học thuyết về tính dễ biến đổi.
Hơn một trăm năm mươi năm trước
đây, Immmanuel Kant (5), một triết gia người Ðức đã nhận ra điều này. Ông cho
rằng lý trí vô cùng hạn chế ; nó chỉ nhìn thấy được một phần nhỏ nào đó của
thực tại và tin rằng đó là toàn thể. Ðiều này mang lại khổ nạn. Không sớm thì
muộn ta lại khám phá ra những thực tại khác và cái được xem như là toàn thể
trước đây lại đối nghịch với thị kiến mới. Immanuel Kant đã cố gắng chỉ ra cho
mọi người thấy những giới hạn không thể tránh khỏi của lý trí, rằng lý trí vô
cùng hạn chế. Nhưng xem chừng chẳng ai nghe, chẳng ai hề quan tâm đến Kant.
Chẳng ai thèm để ý đến những triết gia.
Thế nhưng khoa học trong thế kỷ
này cuối cùng đã đồng tình với Kant. Với Heinsenberg (6) trong Vật lý, và Godel
(7) trong Toán học đã chỉ ra những mặt giới hạn không tránh khỏi của lý trí con
người. Họ đã mở ra cho chúng ta một cái nhìn phớt qua về bản thể vốn dĩ đã vô
lý, nghịch lý ngay từ cốt lõi. Hết thảy những gì mà chúng ta đã từng nói về bản
thể đều sai lầm. Tất cả mọi nguyên lý đều sai lầm vì bản thể không hề đồng
nghĩa với lý trí, bản thể lớn hơn lí trí.
Và Thiền không phải là Triết lý ;
Thiền là một tấm gương soi phản chiếu sự vật đúng y như vậy. Sự vật như thế
nào, Thiền nói lên đúng như thế. Nó không hề mang vào những sản phẩm triết lý
do con người tạo ra. Trong Thiền không có sự chọn lựa, không thêm, không bớt.
Ðó là lý do tại sao Thiền là nghịch lý -bởi vì đời sống là nghịch lý. Bạn hãy
nhìn kỹ đi và rồi bạn sẽ hiểu.
Bạn yêu một người đàn ông và đồng
thời bạn cũng hận người đó. Bây giờ, cái tâm của ta bảo rằng như vậy là không
tốt, ta không nên làm như thế. Và rồi bạn giả bộ như là bạn không làm. Nhưng
điều này không thể nào xảy ra. Nếu bạn thực tình muốn bỏ cái hận, bạn đồng thời
cũng phải bỏ luôn cái yêu -đến lúc đó thì cả hai đều biến mất, khởi dậy tình
trạng vô phân biệt.
Tính nghịch lý này có mặt ngay tự
trong bản thể của vạn pháp -ngày và đêm, đông và hè, Thượng Ðế và Sa Tăng đều
hiện hữu cùng nhau. Thiền cho rằng nếu bạn nói Thượng Ðế chỉ gồm toàn những gì
tốt đẹp, thì cũng là lúc vấn nạn nổi lên : như vậy, những cái xấu xa từ đâu mà
đến, điều ác từ đâu mà xuất hiện? Ðó là những gì mà tôn giáo đã và đang làm -Cơ
Ðốc, Hồi Giáo, Do Thái giáo đã phân cách Thượng Ðế với Sa Tăng. Những gì xấu xa
tội lỗi đều đến từ Sa Tăng, những gì tốt lành thì đến từ Thượng Ðế. Thượng Ðế
có nghĩa là những gì tốt đẹp nhất. Nhưng như vậy thì Sa Tăng từ đâu mà đến?
Cuối cùng họ đều bối rối và cuối cùng thú nhận rằng chính Thượng Ðế đã tạo ra
Sa Tăng -nhưng như vậy thì trọng điểm của vấn đề là cái gì để họ phải đi lòng
vòng như vậy? Nếu Qủy Sa Tăng cũng chính do Thượng Ðế tạo ra thì Thượng Ðế là
tác giả của mọi chuyện, tất cả mọi hiện hữu đều có bàn tay của Thượng Ðế. Thế
thì bất cứ chuyện gì xảy ra đều xảy ra thông qua Thượng Ðế -ông ta cũng là một
nghịch lý. Ðó là điều mà Thiền muốn nói. Thượng Ðế là nghịch lý, nghịch lý như
tự thân của chính hiện hữu. Thượng Ðế chẳng là cái gì cả mà thật ra chỉ là một
cái tên gọi khác của hiện hữu, cái toàn bộ của hiện hữu.
Một khi bạn đã hiểu được cái tính
chất nghịch lý này, một niềm tĩnh lặng vô biên lớn dậy trong bạn. Chẳng còn gì
để lựa chọn -không còn trọng điểm- mọi chuyện hòa quyện vào nhau. Bạn không thể
trở thành một vị thánh bởi vì nếu bạn muốn trở thành một vị thánh bạn sẽ phải
loại bỏ đi cái phần ma qủy ở trong bạn, bạn sẽ phải tự cắt chính mình ra làm
đôi. Bạn sẽ phải đem nhốt cái phần ma qủy này ở một chỗ nào đó trong bụng bạn
và rồi cái mặt ma qủy này sẽ tồn tại ở đó, sẽ không ngừng quấy phá cái mặt
thánh thiện của bạn.
Thiền mang lại sự lành mạnh lớn
lao cho nhân loại. Nó bảo rằng bạn có hai mặt. Phải chấp nhận cả hai mặt đó.
Ðừng chối bỏ, đừng chọn lựa ; mà chấp nhận cả hai. Trong sự chấp nhận đó ẩn
chứa sự thăng hoa, bạn sẽ không còn là một vị thánh hay là một con qủy. Môt con
người thánh thiện là như thế, không xấu, không tốt, mà là cả hai. Và khi một
con người có đủ hai mặt, hiểu thấu đáo chúng, các cực đối nghịch sẽ tự động loại
bỏ lẫn nhau.
Hãy cố gắng để hiểu rõ điều này;
đây là một trong những chìa khóa cơ bản nhất. Khi bạn chấp nhận cả cái xấu lẫn
cái tốt và bạn không lựa chọn, cái xấu và cái tốt, cái tiêu cực và tích cực sẽ
tự động loại bỏ lẫn nhau. Bỗng dưng ta rơi vào tĩnh lặng, thiện và ác đã không
còn có mặt; chỉ còn một hiện hữu duy nhất, không có sự phán xét. Thiền là không
phán xét, không lên án, không đánh giá. Nó cho bạn hiện hữu hoàn toàn tự do.
Câu hỏi thứ sáu :
Tôi là một kẻ đần. Tôi nên làm gì
đây?
Bạn có thể làm gì ? Người ta có
thể làm gì đây ? Hãy cứ là một kẻ đần, một tên đần siêu đẳng. Chấp nhận nó. Tại
sao bạn lại hỏi là phải nên làm cái gì? Là một tên đần thì có gì sai quấy đâu ?
Cứ thư giãn và vui sống. Cứ khắng khít vững bền trong đó.
William Blake (8) đã có lần phát
biểu: Kẻ đần luôn khắng khít với sự ngu dại của mình sẽ trở thành một kẻ trí.
Cho nên hãy cứ khắng khít vững bền trong đó. Không cần phải làm bất cứ chuyện
gì khác bởi vì một khi kẻ đần cố gắng để làm bất cứ chuyện gì, nó sẽ trở nên
điên rồ vụng dại, cũng chỉ là hậu quả của sự xuẩn ngốc mà thôi, nó sẽ đưa đến
điều sái quấy. Cho nên tốt nhất vẫn là im lặng. Ðó là lý do tại sao Thiền
khuyên ta nên « tĩnh tọa ».
Xin làm ơn đừng nên làm gì cả bởi
vì bạn làm bất cứ chuyện gì cũng sẽ dẫn đến sai lầm. Mà bạn có thể làm được gì
với sự xuẩn ngốc của mình ? Kẻ đần cố gắng để trở thành người trí -được chăng ?
Làm sao có thể xảy ra chuyện như vậy được? Kẻ đần cố gắng để trở thành người
trí -nếu còn một chút khôn ngoan nào đó thì y nên vẫn là một kẻ đần.
Không thiếu gì những kẻ đần như
thế trong thế giới này, ở Ấn Ðộ lại càng có nhiều hơn nữa. Ở đây không thiếu gì
những đại học giả, những bậc đại thông thái người Ấn, và nếu bạn chịu khó nhìn
sâu vào một tí bạn sẽ thấy đây chỉ là những kẻ đần đã hoang phí đời mình vào
những kiến thức vô bổ, đã hoang phí năng lực lớn lao của họ vào những luận lý
chẻ sợi tóc ra làm tư, vào ngôn ngữ, vào văn phạm, vào cái này cái nọ. Ở họ
toát ra mùi dầu hôi, vì thức khuya đọc sách. Ðó cũng là mùi tử khí ; sự sống
không hề hiện hữu. Những con mọt sách này đã hoàn toàn cắt đứt mình ra khỏi
mạch sống của cuộc đời. Họ là những kẻ xuẩn ngốc hạng nặng được bổ sung thêm
một điều ngu dại mới : Họ luôn tưởng rằng mình là những kẻ trí.
Không, điều tôi muốn nói với bạn
là không nên làm gì cả. Ðừng làm bất cứ chuyện gì. Nếu bạn là một kẻ đần -thì
hãy cứ là một kẻ đần. Nếu Thượng Ðế muốn bạn là một kẻ đần -hãy vui sống với
nó. Hãy lấy cái xuẩn ngốc của bạn dâng tặng Thượng Ðế, đó chính là món quà của
bạn. Ngoài ra đâu còn cái gì khác để bạn tạ ơn ? -bất cứ những gì mà Thượng Ðế
đã ban ta đều có thể trả lại cho người. Hãy vô cùng thư giãn trong chính cái
xuẩn ngốc của bạn. Lời khuyên của tôi có vẻ khác thường nhưng đó là con đường
duy nhất mà một ngày kia trí tuệ sẽ bừng dậy.
Vâng, William Blake hoàn toàn
đúng khi nói: "Kẻ đần luôn khắng khít với sự ngu dại của mình sẽ trở thành
một kẻ trí. »
Thế thì tại sao bạn lại cứ muốn
mình trở thành một người khác? Tại sao? Cái tinh thần tranh đua này, cái lòng
khát vọng này sẽ mang cái ngã vào. Cái sự so sánh này cũng là một biểu lộ của
bản ngã. « Người ta khôn quá thế nên tôi cũng cần khôn lên». Tại sao ? Ai khôn
cứ việc để cho họ khôn, đó là số phần của họ. Bạn như thế nào thì cứ việc như
thế, có gì là sai quấy đâu? Ðời sống là thiên hình vạn trạng và đời sống trở
nên phong phú vì tính đa dạng đó.
Trong khu vườn của mùa xuân
Không có gì tuyệt vời cũng không
có gì tệ lắm.
Những cành hoa lớn dậy tự nhiên
Những cái dài chen lẫn cùng cái
ngắn.
Ðó là quan điểm của Thiền. Bạn
hãy nhìn chung quanh mình: có những cây cao, những cây thấp, có những cây là
cây nhưng có những cây chỉ là bụi rậm. Nhưng không hề có sự tranh đua ở bất cứ
nơi đâu. Cây ashoka không hề cố gắng để trở thành cây bách, cây bách cũng không
cần phải lo lắng đến anh láng giềng ashoka. Cây bách không hề mang mặc cảm tự
ti vì anh ashoka có chiếc lá to hơn, cũng không hề phải lo nghĩ đến chuyện chị
gulmoha sao nở hoa nhiều thế. Không có ai lo lắng cả, cũng không có ai lo nghĩ
đến chuyện người khác, mọi người đều rất chân thật trong sinh thể của chính
mình -ashoka là ashoka, bách là bách, và gulmoha là gulmoha.
Bạn hãy là chính bạn, bất cứ lúc
nào, bất cứ nơi đâu. Thư giãn ngay tại đó. Lấy đó làm nơi thiền quán của bạn.
Và rồi trí tuệ sẽ khởi phát. Trí
tuệ đến từ chấp nhận. Trí tuệ không phải là những gì bạn thu thập được, nó
không phải là kiến thức, không là những nguồn thông tin, trí tuệ chính là phẩm
chất của sự chấp nhận lớn lao -và rồi bạn hạnh phúc, bạn thỏa mãn, hài lòng.
Hãy tưỏng tượng đến hình ảnh đẹp
đẽ của một người đang hạnh phúc, đang hài lòng với ngay cả sự ngu xuẩn của
chính mình. Y đã trở thành kẻ khôn ngoan. Bạn đâu còn cần một thứ trí tuệ nào
khác hơn ? Một người sống bằng lòng với sự xuẩn ngốc của mình -bạn đâu cần một
thứ khôn ngoan nào khác hơn và trí tuệ đâu có thể làm gì khác hơn?
Ðừng cố gắng kéo mình lên cao với
những sợi dây giày của bạn. Hãy cứ là như thế. Cái khoảnh khắc bạn bắt đầu nói
lên một điều gì đó -rằng tôi muốn là cái này, tôi muốn là cái kia- cũng có
nghĩa là bạn bắt đầu lên tiếng than phiền,bạn đang chống báng Thượng Ðế. Bạn
than phiền rằng, « Tại sao lại tạo ra tôi như thế này ? Ðây có phải là cái mà
tôi muốn đâu. Tại sao tôi bị bắt buộc phải là như vậy ? Hãy làm cho tôi đẹp đẽ
hơn, mạnh mẽ hơn, giàu có hơn, khôn ngoan hơn. Hãy làm cho tôi cái này, hãy làm
cho tôi cái nọ. » Thiền giả cho rằng tất cả những nỗ lực này chẳng khác gì muổi
chích trâu sắt. Một con muổi đang cố gắng để chích một con trâu sắt ? Sẽ chẳng
có gì xảy ra cả !
Tuy nhiên tôi vẫn nói rằng trí
tuệ sẽ đến với bạn -không qua một cố gắng nào mà là bằng sự chấp nhận một cách
thụ động. Không thông qua bạn mà chỉ khi nào bạn không còn là bạn nữa thì nó
mới xảy ra. Trí tuệ không hề là một cái gì đó để bạn chiếm hữu, trí tuệ chỉ
hiện hữu khi bạn không có mặt.
Hãy dùng sự xuẩn ngốc như là một
trạng huống thư giãn. Khi một người thô kệch hoàn toàn thư giãn và chấp nhận sự
thô kệch của mình, một nét đẹp vi tế xuất hiện -vẻ đẹp của chấp nhận, và rồi
nét duyên dáng sẽ đến một cách rất tự nhiên. Và đây cũng là trường hợp của sự
xuẩn ngốc, và cũng là trường hợp chung cho tất cả mọi vấn nạn.
Sau khi đạt ngộ, một môn đồ tát
vào mặt thầy mình, Thiền sư Ubako, và la lên : « Cuối cùng rồi cũng chẳng có gì
đặc biệt trong sự chứng ngộ cả.»
Thiền sư Ubako sướng quá, ông
nhảy múa loạn lên.
Người môn sinh tát thầy mình !
Nên nhớ rằng những vị Ðại Thiền sư và môn đồ của họ, khi đã tát là họ tát rất
cật lực ! Nhưng mà ông Thầy thì sướng điên lên và nhảy múa. Ông ta nhảy múa vì
biết rằng người học trò của mình đã chứng ngộ.
Vâng, chẳng có gì đặc biệt trong
sự chứng ngộ cả, chỉ là sự chấp nhận mọi vật đúng như nguyên trạng, là sự buông
xã hoàn toàn trong thực tại. Không có gì đặc biệt, không có gì để khoa trương,
không có gì để phải nói đến. Người môn sinh đã phát biểu hoàn toàn đúng, «Cuối
cùng rồi cũng chẳng có gì đặc biệt trong sự chứng ngộ cả.» Y đã trở về nhà và
nhận chân được rằng y chẳng hề rời xa nó một phút giây nào cả. Cái trí tuệ này
luôn có mặt ở đó nhưng y đã đánh mất bởi vì suốt đời y chỉ mãi làm người chạy
đi tìm kiếm. Cái nguồn sáng này vẫn luôn ở đó thôi nhưng vì y quá đổi lo nghĩ
về ánh sáng nên tầm nhìn bị thu hẹp lại, hẹp đến độ y không còn có thể trông
thấy nó được nữa. Y là người đã tạo ra khổ nạn cho chính mình. Suối nguồn hạnh
phúc vẫn luôn tuôn chảy, mật ngọt cuộc đời vẫn luôn tuôn chảy, thế nhưng y lại
đang chết khát một cách không cần thiết. Trở nên giác ngộ chỉ là chuyện rất đổi
tự nhiên. Ðó không hề là một sự đạt thành, một quả vị.
Và rồi Thiền sư Ubako hỏi người
môn đệ : « Ngươi có ngửi thấy mùi hương nguyệt quế của ngọn núi kia không ? »
« Vâng. Bạch Thầy. »
« Ðấy. Thấy chưa. Ta đâu có gì để
dấu ngươi đâu. » Thiền sư trả lời.
Thật là quá đổi đơn giản. Bạn có
nghe chim chóc đang tưng bừng ca hót? Bạn có thấy chung quanh đây cây cối tràn
ngập một màu xanh ? Vâng, nó cũng giống như thế đấy, rất đổi đơn giản.
Và rồi vị Thầy hỏi, « Ngươi có
ngửi thấy mùi hương nguyệt quế của ngọn núi kia không ? »
« Vâng. Bạch Thầy. »
« Ðấy. Thấy chưa. Ta đâu có gì để
dấu ngươi đâu. » Thiền sư trả lời.
Ông Thầy đã trao tặng cho người
học trò tất cả những gì mà ông có được. Mà thật ra ông ta cũng chẳng có gì để
cho. Thực sự là bạn chỉ được đánh thức về những gì mà bạn đã có. Người ta chỉ
làm cho bạn tỉnh thức.
Câu hỏi thứ bảy :
«Có một 'năng lực thứ tư' khá mới
mẻ trong Tâm lý học -Tâm lý học về siêu nhân cách- đi sâu vào việc khám phá
những nhu cầu, khát vọng vượt ra ngoài khả năng thực hiện của con người, tâm lý
về con người », Assagioli đã nói như thế. Như vậy, cái 'Tâm lý học về siêu nhân
cách' này và cái 'Tâm lý học về những vị Phật' của ông phải chăng có cùng chung
ý nghĩa ?
Không hề có chuyện như thế.
'Tâm lý học về siêu nhân cách'
vẫn là một thứ Tâm lý học, vẫn quan tâm đến những cái gì khách quan, ngược lại
'Tâm lý học về những vị Phật' không hẵn là một khoa tâm lý bởi vì một vị Phật
ra đời, khi Tâm lý học, và cái tâm hoàn toàn biến mất.
Hơn thế nữa, 'Tâm lý học về những
vị Phật' không khách quan mà hoàn toàn chủ quan. Nó có thể xảy đến với bạn
nhưng mà bạn không thể nào quan sát nó xảy ra đối với người khác, vô phương.
Bạn có thể thành Phật nhưng bạn không thể nào hiểu được một vị Phật. Ngay cả
nếu Assagioli sống bên cạnh một vị Phật hàng ngàn năm đi nữa, ông ta cũng sẽ
không hiểu gì cả trừ phi ông ta trở thành một vị Phật. Bạn không thể nào nhìn
ngắm, quan sát nó từ bên ngoài bởi vì đây là một hiện tượng thuộc về nội giới,
ở tận cùng sâu thẳm bên trong của một sinh thể. Tất cả những gì mà bạn trông
thấy được chẳng là cái gì cả ngoài hình tướng phong cách biểu lộ bên ngoài.
Vâng, bạn có thể trông thấy Ðức Phật đang lặng yên, rằng Ngài có vẽ rất hiền từ
dịu dàng; bạn có thể thấy là Ngài ít khi giận dữ hoặc là không bao giờ giận dữ;
bạn có thể trông thấy một ngàn lẻ một thứ đại loại như thế -nhưng bạn sẽ vẫn
không bao giờ trông thấy được Phật quả là gì.
Khi tôi nói về Tâm lý học về chư
Phật, một điều xin nhớ cho, rằng thực ra đây không phải là một khoa Tâm lý học.
Tôi đã phải dùng đến ngôn từ. Không có một lời nào đủ để có thể diễn tả được
khái niệm này thế nhưng tôi bắt buộc phải dùng đến ngôn ngữ -dĩ nhiên cũng phải
luôn luôn mang theo một bát muối. Vâng, thực ra nó không thể được gọi là Tâm lý
học. Tâm lý học là môn học đưa ra những giả định về tâm, mà một vị Phật thì lại
không-tâm. Tâm lý học giả định rằng tâm đang thực hiện chức năng của nó, đang
suy nghĩ, hoạch định, lo lắng, tưởng tượng, mơ mộng... -trong khi một vị Phật thì
không hề mơ mộng, cũng không lo toan, hoạch định, suy nghĩ gì cả. Ngài chỉ hiện
hữu, một cách đơn giản thế thôi. Ngài hiện hữu chẳng khác gì một hòn đá, một
cái cây, một giòng sông -ngoại trừ một khác biệt duy nhất, một khác biệt rất
lớn lao. Sự khác biệt đó là Ngài hiện hữu với không tâm nhưng tràn đầy tuệ
giác, tĩnh thức.
Cái tuệ giác này không thể được
hiểu từ bên ngoài. Nếu bạn càng cố gắng để hiểu bạn sẽ chỉ đi đến chỗ hiểu lầm
thôi. Không có bất cứ dụng cụ nào có thể được dùng để kiểm tra nó. Nó không hề
hiện ra bất cứ trên loại biểu đồ nào. Những gì còn có thể hiện ra trên biểu đồ
là còn thuộc về tâm, chưa thể vượt ra ngoài. Cái vượt ra ngoài không thể nắm
bắt được. Người đó phải trở thành một vị Phật, người đó phải có một tâm hồn
tĩnh thức, và chính người đó phải đạt đến tình trạng tuệ giác này.
Tâm lý học về chư Phật là du già,
là giới, là hành trình tâm linh, là khoa học -là bất cứ cái gì mà bạn gọi- về
sự nhận thức được rằng có một cái gì đó ở trong bạn mà bạn chỉ có thể nhận biết
khi nào đi được đến đó, ở ngay tại đó. Ngoài ra không còn một con đường nào
khác, không có một phương thức tiếp cận nào khác.
Assagioli tiếp tục giảng giải...
Dù sao ông ta cũng còn khá hơn Freud bởi vì tối thiểu ông ta cũng trình bày một
vài thị kiến về tổng hợp trong Tâm lý học. Freud mang tính phân tích, phương
pháp của ông ta là phân tích. Assagioli mang đến sự tổng hợp. Nhưng cái tổng
hợp này cũng không phải là cái tổng hợp mà Phật nói đến. Cái tổng hợp này chỉ
là một tổng thể được lắp ráp lại cùng nhau. Hãy lấy một thí dụ... Tôi đưa cho
bạn một đóa hồng. Bạn tách nó ra thành từng phần. Ðể xem nó vận hành như thế
nào, bạn tách rời từng cánh hoa. Ðó là công việc mà Freud đã làm với tâm thức
con người -ông ta tách rời nó ra từng bộ phận. Ông ta muốn đặt tên cho mọi sự việc,
xếp hạng, phân loại chúng; ông ta muốn xếp vào trong hộc tủ mọi thứ chuyện.
Dĩ nhiên, khi bạn tháo rời bất cứ
cái gì, bạn đã làm cái đó biến mất, bởi vì có một cái gì đó chỉ hiện hữu khi nó
còn nguyên trạng -vẻ đẹp của đóa hồng chẳng hạn- khi nó còn là một tổng thể.
Khi bạn tách rời đóa hoa ra thành từng phần, cái huyền nhiệm của nó biến mất.
Ðóa hoa đã tan biến đi bởi vì đóa hoa không phải chỉ là một tổng hợp của từng
bộ phận, của cánh hoa, của đài hoa, mà là một cái gì đó còn hơn là một sự tổng
hợp. Cái "còn hơn" này hiện hữu trong tôn giáo, trong thi ca và bạn
không thể nào tháo rời cái "còn hơn" này ra thành từng bộ phận được.
Một khi bạn tháo rời ra thành từng phần, một cái gì đó đã biến mất, đã không
còn hiện hữu, không còn biểu tướng.
Bây giờ ta hãy xem Assagioli đã
làm được những gì? Ông ta đi làm công việc ghép lại đóa hồng vừa bị tách ra.
Cái đóa hồng đã bị Freud tháo rời nay được Assagioli đem ghép lại -và ông ta
gọi đó là tâm-lý-tổng-hợp. Thế nhưng đóa hoa hồng này đã chết, nó không còn là
đoá hoa trước khi được Freud phân tích. Assagioli đi làm công việc giả định về
Freud -nếu không có Freud thì đã không có Assagioli, xin các bạn nhớ như vậy.
Nếu Freud không hiện hữu, Assagioli cũng sẽ không hiện hữu. Freud làm một nửa
công việc và Assagioli làm nửa phần còn lại. Freud tháo ra, Assagioli ráp lại.
Thế nhưng khi phân ra từng mảnh,
cái nguyên vẹn ban sơ đã hoàn toàn biến mất. Bây giờ khi bạn ráp chúng lại cùng
nhau nó sẽ không bao giờ còn giống với cái ban đầu. Cái đóa hoa đó không thể
sống lại. Khi bạn ráp chúng lại với nhau -cho dù bạn ráp một cách tài tình như
thế nào, bằng bất cứ loại keo nào tốt nhất, kể cả thứ keo vô hình- nó cũng vẫn
sẽ không bao giờ là đóa hoa nguyên thủy. Sẽ không bao giờ bạn có thể tái tạo
lại được vẻ đẹp trước đây.
Ðó là lý do tại sao Thiền bảo
rằng hãy đi và nhìn lại khuôn mặt của bạn trước khi bạn được sinh ra đời, nhìn
lại cái uyên nguyên toàn vẹn đó. Hãy đi vào bên trong bạn, đến tận cùng cái
hiện hữu hoang sơ khi bạn chưa được ráp lại hình hài, khi bạn còn là một linh
hồn thuần khiết, trước khi người cha và người mẹ tạo dựng ra bạn, trước khi bạn
có một thân xác. Hãy đi đến đó. Trút bỏ cái hiện thân bạn đang mang. Hãy đi đến
đó. Hãy có một thị kiến về nó. Hay là bạn hãy đi và nhìn kỹ khuôn mặt mình khi
bạn qua đời, khi thân xác bạn đang nằm chờ để hỏa táng. Cái khuôn mặt uyên
nguyên này là một cái gì đó vốn chưa bao giờ được phân tích.
Tâm lý học về chư Phật không phải
là một sự tổng hợp, đó là sự không-phân-tích. Ðể tôi nhấn mạnh điểm này cho rõ
ràng hơn. Assagioli là tổng hợp, Freud là phân tích, tâm lý học về chư Phật là
không-phân-tích -không cắt ra thành từng mảnh vụn. Nếu không hiểu được điều
này, cho dù cứ tiếp tục thay đổi đề tài tranh cãi, chúng ta vẫn sẽ mãi là những
kẻ đồng hội đồng thuyền.
Chuyện xảy ra như thế này...
Một bệnh nhân mới được đưa vào
bệnh viện tâm thần đã tuyên bố một cách dõng dạc rằng anh ta nguyên là Tổng
thống Ford. Kẹt một cái là trong viện tâm thần này hiện đã có một ông Tổng
thống Ford rồi. Vị giám đốc bệnh viện cuối cùng quyết định để hai người này ở
chung một phòng với hy vọng là hai kẻ có cùng một ảo tưởng giống nhau sẽ giúp
nhau tự điều chỉnh và may ra khỏi bệnh. Hai người được giới thiệu cùng nhau và
người ta để yên cho họ ở với nhau. Suốt đêm hôm đó người ta không nghe có
chuyện cãi cọ gì xảy ra.
Sáng hôm sau vị Bác sĩ chữa trị
bắt đầu nói chuyện với người bệnh nhân mới.
"Bác sĩ, tôi biết là tôi
đang mắc bệnh hoang tưởng," người bệnh nhân mới thố lộ. "Nhưng bây
giờ tôi đã biết rằng mình không phải là Tổng thống Ford."
"Thật là tuyệt diệu, » vị
Bác sĩ thốt lên.
"Vâng," bệnh nhân nói
tiếp, "Tôi là bà Ford. »
Bây giờ thì lại một hoang tưởng
khác. Chúng ta cứ loay hoay đi từ hoang tưởng này đến hoang tưởng khác. Chẳng
có một chút gì thay đổi cả.
Assagioli cũng chẳng phải làm một
cuộc cách mạng. Vâng, ông ta đang tạo ra một sự điều chỉnh, nhưng vẫn chỉ là
một cái bóng của Freud. Freud vẫn hiện ra sừng sững còn Assagioli chỉ là một
cái bóng mờ không hơn không kém. Không có Freud chắc là ông ta sẽ không biết đi
đến đâu và làm cái gì.
Tâm lý học về chư Phật là một
quan điểm hoàn toàn cơ bản. Một người phải tự tìm về tâm thức của mình, không
chia cắt, không phân tích, không phán xét, không đánh giá, không lên án, cũng
không nói một lời nào về nó. Chỉ thể nhập vào trong đó mới có thể có được một
cảm giác về nó -mới thực sự biết nó là cái gì. Tâm của ta phải hoàn toàn tan
biến đi, chỉ lúc đó bạn mới có thể nhận ra được nó là cái gì -bởi vì tâm ta
luôn tạo ra những gợn sóng lăn tăn ở trên mặt, và tấm gương cứ thế bị nhiễu
loạn, cứ tiếp tục bị làm cho méo mó đi. Khi tấm gương hoàn toàn biến mất cũng
là khi cái tâm không còn hiện hữu, lúc đó tất cả còn lại chỉ là một sự tĩnh
lặng thuần khiết, kokoro, đó chính là tánh không, là đại ngộ, là tam muội -cái
tam muội này là trạng thái không-thể-phân-tích của sinh thể bạn. Ðấy là trạng
thái nguyên sơ của bạn. Ðấy cũng chính là Thượng Ðế.
Assagioli tiến đến gần với Phật
hơn là Freud -nhưng cũng không gần lắm đâu.
Một phụ nữ đi vào một quán rượu
với một con vẹt trên vai. Con vẹt không ngừng lải nhải: "Ðoán xem tôi nặng
bao nhiêu. Ðoán xem tôi nặng bao nhiêu." Một người khách hỏi bà ta về ý
nghĩa câu nói của con vẹt và được giải thích: "Hãy đoán xem con vẹt của
tôi nặng bao nhiêu, nếu đúng bạn sẽ được mời về nhà và ngủ với tôi."
Người đàn ông nhìn con vẹt nói
đùa, "Một trăm cân." Người đàn bà quàng vào tay y, kêu lên:
"Cưng ơi, thế là đoán cũng gần đúng rồi đấy. Về nhà với em đi!"
Assagioli cũng gần với Tâm lý học
về chư Phật đại khái như vậy.
Và câu hỏi cuối cùng:
Tại sao Thiền lại chống báng kinh
điển quá vậy? Tôi đã học được rất nhiều từ Kinh Thánh và vô cùng biết ơn về
chuyện này. Tại sao các Thiền giả dám nói rằng những kinh điển này nên được đốt
bỏ đi?
Lạy Chúa tôi! Tinh thần Cơ Ðốc
vẫn chưa gột rửa được!
Thiền giả không hề chống báng
kinh điển, họ chỉ chống lại cái tâm ô nhiễm của bạn. Và khi họ nói rằng,
"Hãy đốt những kinh điển đi", cũng có nghĩa là họ nói "hãy đốt
cái tâm của bạn đi". Thiền giả không hề chống báng kinh điển -tại sao họ
phải chống báng làm chi những kinh điển nghèo nàn như thế? Họ chỉ chống lại
kiến thức, sự thông thái. Họ chỉ chống lại sự không ngừng tích chứa của ký ức.
Họ muốn bạn được giải phóng khỏi ký ức. Họ muốn bạn được giải phóng khỏi kiến
thức, họ muốn giúp bạn giải trừ học vấn.
Ðốt kinh điển chỉ là một hình ảnh
tượng trưng -và Thiền giả là những người rất thực tế. Khi muốn nói một điều gì
đó họ thường phải cất cao giọng vì biết rằng đa số các bạn đều điếc đặc cả. Họ
phải la lên. Họ không nói thì thào bởi vì họ biết rằng ngay cả việc la lớn lên
cũng chưa chắc là đã lọt vào lỗ tai bạn. Ðây chỉ là chuyện la lên thôi chứ có
gì đâu. Một vị Thiền sư đốt kinh điển có nghĩa là ông ta muốn la lên để chỉ cho
bạn nên làm gì với kiến thức và kinh điển của bạn.
Và khi mà họ nói "Hãy đốt
những kinh điển" có nghĩa là họ đang hỏi bạn làm sao bạn có thể hiểu được
kinh điển, làm sao bạn có thể hiểu được Phúc Âm nếu như chính bạn không trở
thành một Giê Su? Ðó là điều khá đơn giản mà chỉ cần một chút thông minh -một
chút xíu thôi- bạn cũng có thể hiểu được. Làm sao bạn có thể hiểu được Phúc Âm?
Làm sao bạn có thể hiểu được Bài Giảng Trên Núi nếu không trở thành một Giê Su?
Không thể có chuyện như vậy. Thế nên bất cứ những gì mà bạn nghĩ rằng mình hiểu
trong kinh điển chẳng qua chỉ là sự ngộ nhận. Như vậy thà rằng không hiểu còn
tốt hơn là mang theo với mình sự hiểu lầm. Bởi vì ngay chính cái hiểu lầm này
sẽ là một cản trở rất lớn cho bạn trên hành trình tâm linh.
Bạn đã đọc Phúc Âm như thế nào?
Và rồi bạn nói rằng nhờ đó mà hưởng được nhiều lợi ích và vô cùng biết ơn
chuyện này.Bạn hưởng được lợi ích như thế nào? Và bạn đã hiểu được những gì?
Khi bạn đọc một câu nói của Chúa Giê Su, có phải là bạn sẽ tìm cách lý giải nó?
Câu nói của một người có trình độ tâm thức cao hơn được lý giải bởi một người
có trình độ thấp kém hơn, chắc chắn là sẽ bị méo mó rồi. Chẳng khác gì chuyện
Einstein đang giảng về Toán học cao cấp và bạn đi vào một trường Tiểu học hỏi
một cậu bé học trò nghĩ như thế nào về bài giảng đó. Dĩ nhiên cậu bé này cũng
sẽ nói một cái gì đó... Vấn đề không đến nỗi quá cách biệt như thế. Ta có khả
năng là cậu bé học sinh Tiểu học này cũng có thể hiểu được chút đỉnh những gì
Einstein đang nói về Toán học, bởi vì sự khác biệt là về lượng, đằng này ta khó
mà hiểu được một câu nói của Chúa Giê Su hay Ðức Phật, bởi vì sự khác biệt là
về phẩm. Ðây là những phát biểu ở một chiều kích hoàn toàn khác biệt. Cho dù là
họ nói với ngôn ngữ đời thường, bạn cũng cứ hiểu theo cách lý giải của riêng
mình.
Thôi, hãy nghe một vài mẩu chuyện
vui.
Cô giáo lớp Năm nhận thấy cậu bé
Johny có vẻ như đang sa sút tinh thần và không chịu làm bài tập ở nhà. Cô bảo
em ở lại lớp sau giờ học để tìm hiểu thêm.
"Có chuyện gì không
Johny?" Cô giáo tỏ ra thân thiện.
Cuối cùng cậu học trò nhỏ thú
thật: "Tôi yêu cô và muốn kết hôn với cô."
"Ồ, Johny," Cô giáo mĩm
cười, "Tôi cũng muốn lập gia đình một ngày nào đó thôi, nhưng không muốn
một em bé đâu."
"Ðừng có lo. Tôi sẽ cẩn thận
chuyện này mà."
Chuyện tiếp theo.
Một ứng cử viên Dân Chủ bang
Alabama sau khi vận động tranh cử thắng lợi chiếm được một cái ghế ở Hạ Viện;
để trả ơn, ông ta soạn thảo một dự luật xây một cái cầu bắc ngang qua ngọn suối
Calahassas Creek ở quê nhà.
Một dân biểu Cộng Hoà đồng viện
rất phẫn nộ về chuyện này đã lớn tiếng phản đối; "Ðâu có cần một cái cầu
để bắc qua cái suối đó. Cái suối này nhỏ xíu hà, đến độ tôi có thể đứng bên này
bờ đái một cái là văng ra đến tận giữa dòng rồi".
Vị Chủ tịch Hạ Viện gõ búa, kêu
trời: "Này, bạn hỏng mất rồi!"
"Vâng. Ông nói đúng quá. Tôi
hỏng mất rồi," Ông Dân biểu Cộng Hoà vặn lại, "Nếu cái của tôi không
bị hỏng thì tôi có thể đái một phát văng từ bờ bên này sang tới bờ bên kia cái
suối cà chớng đó!"
Chuyện tùy ở bạn thôi.
Chuyện thứ ba.
Cô bồi phòng trẻ dễ thương và
giỏi việc được vợ chồng ông Dân biểu thuê mướn, tỏ ra rất thích thú với công
việc mình làm cho đến một hôm không báo trước, cô ta xin nghỉ việc.
Bà chủ thắc mắc: "Sao lại
thôi việc? Bộ có chuyện gì không ổn hả?"
"Tôi không thể nào chịu đựng
được tình trạng hồi hộp ở trong căn nhà này thêm một phút nào nữa," cô bồi
phòng trả lời.
"Hồi hộp?" Bà chủ bối
rối hỏi, "Cô muốn nói cái gì?"
"Thì bộ bà không thấy cái
câu Thánh kinh treo ở phía trên cái giường ngủ tôi sao?" Cô bồi phòng giải
thích, "Câu ấy nói rằng, Ngươi hãy tỉnh thức, bởi vì ngươi không biết rằng
lúc nào Chủ ngươi sẽ đến với ngươi."
Và câu chuyện cuối.
Một người chào hàng quyết định
dừng chân nghỉ lại qua đêm tại một thành phố nhỏ miền Viễn Tây. Sau khi nhâm
nhi một vài ly tại quán rượu của khách sạn, cảm thấy hứng khởi anh ta bèn bắt
đầu nói chuyện chính trị.
"Này qúy vị," anh ta la
lớn, «Tổng Thống Ford giống y chang một cái lỗ đít ngựa."
Lập tức, một anh cao bồi to lớn
dềnh dàng oai vệ tiến đến bàn, bảo: "Này bạn, ở đây người ta đấu súng nhau
vì những lời nói như vậy."
"Ồ. Xin lỗi ngài,"
người chào hàng lắp bắp, "Tôi đã không biết rằng đây là xứ của ông
Ford."
"Không phải vậy." Anh
cao bồi khổng lồ gầm lên từng tiếng, "Ðây là xứ của ngựa."
Xem tiếp Chương 5 - Quay về Mục lục - Quay về Mục lục Toàn tập