Nếu ông thấy linh ảnh vị phật, pháp hay bồ tát
và bầy tỏ tôn kính với họ, ông hạ tầng bản thân mình vào cõi người hữu tử. Nếu
ông tìm hiểu biết trực tiếp, đừng ôm giữ bất kì hình tướng nào, dù nó là cái
gì, và ông sẽ thành công. Ta không có lời khuyên nào khác.
Đừng níu bám lấy hình tướng, và ông sẽ cùng một
tâm trí với vị phật.
Nhưng tại sao chúng tôi không nên tôn thờ chư
phật và bồ tát?
Quỉ và ma có sức
mạnh của biểu hiện. Chúng có thể tạo ra hình tướng của bồ tát theo đủ mọi loại
trá hình. Nhưng chúng là giả. Không một ai trong chúng là chư phật cả. Phật là
tâm trí riêng của ông. Đừng hướng sai tôn thờ của ông.
Phật trong tiếng
Phạn là điều ông gọi là nhận biết, nhận biết huyền bí. Đáp ứng, cảm nhận, nhíu
trán, nháy mắt, vung tay chân, đấy tất cả là bản tính nhận biết huyền bí của
ông. Và bản tính này là tâm trí. Và tâm trí là phật. Và phật là đạo. Và đạo là
thiền. Nhưng từ thiền là từ vẫn còn thách đố. Việc thấy bản tính của ông là Thiền.
Cho dù ông có
thể giải thích hàng nghìn lời kinh và kệ, chừng nào ông chưa thấy bản tính
riêng của mình, việc giải thích của ông là giáo lí của người hữu tử, không phải
của vị phật. Đạo đúng là siêu phàm. Nó không thể được diễn đạt trong ngôn ngữ.
Kinh sách phỏng có ích gì? Nhưng ai đó thấy bản tính riêng của mình, tìm thấy Đạo,
cho dù người đó không thể đọc được một từ... Mọi thứ vị phật nói đều là diễn đạt
cho tâm trí của ông ấy. Nhưng thân thể ông ấy và cách diễn đạt về cơ bản là trống
rỗng, ông không thể tìm thấy vị phật trong lời nói.
... Đạo về cơ bản
là hoàn hảo. Nó không đòi hỏi làm hoàn hảo. Đạo không có hình dạng hay âm
thanh. Nó tinh tế và khó cảm nhận. Nó giống như khi ông uống nước. Ông biết nước
nóng hay lạnh thế nào. Nhưng ông không thể nói cho người khác được. Về điều đó
chỉ tathagata (như lai) biết, người và thần vẫn còn không nhận biết. Nhận biết
của người hữu tử không đạt tới. Chừng nào họ còn bị gắn bó với hình tướng, họ
không nhận biết rằng tâm trí của họ là trống rỗng. Và bởi níu bám sai lầm vào
hình tướng của mọi vật, họ lạc mất Đạo.
Nếu ông biết rằng
mọi thứ tới từ tâm trí, đừng trở nên bị gắn bó. Một khi bị gắn bó, ông vô nhận
biết. Nhưng một khi ông thấy bản tính của riêng mình, toàn bộ kinh sách trở
thành bài tụng chán ngắt. Hàng nghìn lời kinh và kệ chỉ đưa tới một tâm trí rõ
ràng. Hiểu biết tới ở giữa câu. Các học thuyết có tốt gì?
Chân lí tối thượng
vượt ra ngoài lời. Học thuyết là lời. Chúng không phải là Đạo. Đạo là vô lời. Lời
là ảo tưởng.
Chúng không
khác những điều xuất hiện trong giấc mơ của ông ban đêm, dù chúng là lâu đài
hay xe ngựa... Đừng tưởng tượng bất kì vui thích nào cho những điều như vậy.
Chúng tất cả đều là cái nôi của tái sinh. Nhớ điều này trong tâm trí khi ông tiến
tới cái chết. Đừng níu bám vào hình tướng, và ông sẽ phá vỡ mọi rào chắn. Một
khoảnh khắc ngần ngại và ông sẽ ở dưới bùa mê của ma quỉ. Thân thể thực của ông
là thuần khiết và không thể bị hư hỏng. Nhưng bởi vì ảo tưởng, ông không nhận
biết về điều đó. Và bởi vì điều này, ông chịu nghiệp một cách vô ích. Bất kì chỗ
nào ông thấy vui mừng, ông thấy tù túng. Nhưng một khi ông đánh thức thân thể
và tâm trí nguyên thuỷ của ông, ông không còn bị dính với gắn bó.
Hiểu biết của Bồ
đề đạt ma và sự sáng suốt của ông ấy trong bí mật về tâm thức con người là sâu
sắc đến mức chắc chắn có thể nói nó là hoàn hảo. Không cái gì có thể được thêm
vào cho nó và không cái gì có thể được sửa đổi từ nó. Ông ấy nói theo kiểu điện
báo, chỉ dùng những lời tinh tuý nhất.
Bạn sẽ thấy
cách thức con người có thể diễn đạt điều gì đó vượt qua việc diễn đạt, cái gì
đó bao giờ cũng được biết như là không thể diễn đạt nổi. Nhưng Bồ đề đạt ma tới
rất gần với việc diễn đạt nó. Nếu bạn không hiểu, đấy là lỗi ở bạn.
Ngoài ra rất
khó tìm thấy một thầy với tầm cỡ của Bồ đề đạt ma. Trong toàn bộ quá khứ truyền
thuyết về các thầy, Bồ đề đạt ma đứng rất tách rời, rất một mình; cách sống của
ông ấy, cách giảng của ông ấy, mọi thứ đều là của riêng của ông ấy. Trước đây
chưa bao giờ có bất kì ai giống như Bồ đề đạt ma, và chưa bao
giờ sau ông ấy có ai có thể được gọi đích xác là ngang bằng về sáng suốt, về hiểu
biết, về uyên thâm. Và vậy mà ông ấy không dùng lời khó hiểu nào; ông ấy không
phải là triết gia, không phải là nhà thượng đế học. Ông ấy là người rất đơn giản.
Ông ấy dùng những lời trực tiếp đi như mũi tên cắm vào tim bạn. Mọi điều cần
thiết về phần bạn là để mở cánh cửa trái tim mình. Ông ấy sẽ không tới mà không
được mời vào trong bạn, nhưng được mời ông ấy chắc chắn sẽ đạt tới trái tim bạn.
Cảm nhận của bạn chung cuộc sẽ là nhân tố quyết định.
Trong những lời
kinh này tối nay, ngoại trừ vài sai lầm của đệ tử người đã ghi lại bản ghi chép
này, gần như mọi thứ dường như đích thực là của Bồ đề đạt ma.
Nếu ông thấy
linh ảnh vị phật, pháp hay bồ tát và bầy tỏ tôn kính với họ, ông gạt bản thân
mình vào cõi người hữu tử.
Theo Bồ đề đạt
ma, mọi người về bản chất đều là vị phật. Nhưng nếu bạn bắt đầu tưởng tượng chư
phật và tôn thờ họ, thế thì bạn đang làm điều cực kì tai hại cho bản thân mình.
Điều đó có nghĩa là bạn đã không hiểu giáo huấn cơ bản. Không có người để được
tôn thờ cả, không có người được nhìn thẳng vào, bởi vì bạn là bản thân vị phật.
Chính bởi vì điểm
này mà Phật Gautam phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế. Việc phủ nhận của ông ấy
vĩ đại tới mức ý nghĩa của nó đã không được hiểu ra. Ông ấy phủ nhận Thượng đế,
không phải bởi vì ông ấy là kẻ vô thần; ông ấy phủ nhận Thượng đế bởi vì ông ấy
kính trọng mọi sinh linh như thượng đế. Có nhiều thượng đế cũng như có các sinh
linh vậy. Vài người đã đạt tới việc nhận ra mình là ai, còn phần lớn mọi người
trong số các sinh linh vẫn còn ngủ. Họ không biết họ
là ai, nhưng dốt nát của họ không thay đổi bản tính của họ.
Cho nên lời
kinh thứ nhất là: Nếu ông thấy linh ảnh vị phật, ông gạt bản thân mình vào cõi
người hữu tử. Mọi kẻ tôn thờ trong mọi đền chùa, trong mọi giáo đường Do Thái,
trong mọi nhà thờ, đều đang làm nhục bản thân mình và làm nhục thượng đế bên
trong. Thượng đế bên trong không cần thượng đế khác để tôn thờ. Mọi điều cần là
việc thức tỉnh, nhận biết, ý thức về bản thể riêng của mình.
Khoảnh khắc một
người trở nên ý thức về bản thân mình, người đó không còn là người hữu tử nữa;
người đó trở thành bất tử. Người đó bao giờ cũng là bất tử nhưng bởi vì việc hiểu
lầm của mình, người đó đã làm thoái hoá bản thân mình thành người hữu tử, thành
ai đó sắp chết. Mặc dầu cuộc sống bên trong bạn và tâm thức bên trong bạn là
vĩnh hằng và bất tử, vậy mà bạn vẫn cứ sợ chết bởi vì bạn thấy ai đó chết đi
hàng ngày. Và cái chết của mọi người nhắc bạn về cái chết của chính mình.
Nhà thơ này
đang nói, “Đừng bao giờ hỏi chuông điểm cho ai, chuông điểm cho ba người.”
Trong các làng Ki tô giáo, một tục lệ cổ là khi ai đó chết, chuông nhà thờ bắt
đầu điểm, báo cho cả làng, những người ra đồng, hay những người ra vườn, hay những
người đi ép rượu, quay về; ai đó đã chết.
Nhà thơ này
đang nói: “Đừng bao giờ hỏi chuông điểm cho ai, nó bao giờ cũng điểm cho ba người.”
Ông ấy có chân lí nào đó để truyền đạt cho bạn. Mọi cái chết đều là biểu tượng.
Nó chỉ ra rằng bạn đang đứng trong cùng hàng đợi và hàng đợi này đang trở nên
ngày một ngắn hơn. Mọi ngày bạn đang tới gần cái chết hơn. Thực ra ngày bạn được
sinh ra không phải là ngày sinh của bạn; đó là ngày bạn bắt đầu chết.
Và từ đó trở đi bạn cứ chết dần hàng ngày. Mọi sinh nhật, cái chết của bạn lại
tới gần hơn.
Một sự kiện tuyệt
đối chắc chắn là mọi người đều chết, con vật chết, cây cối chết, chim chóc chết.
Làm sao bạn tránh được sự kiện rằng bạn cũng sẽ chết đi - có thể ngày mai, có
thể ngày kia? Đấy chỉ là vấn đề thời gian thôi.
Nhưng dầu vậy,
những người nhận biết về bản thể của họ biết rằng không ai chết cả.
Cái chết là ảo
tưởng.
Bạn đã thấy mọi
người chết; bạn đã bao giờ thấy bản thân mình chết chưa? Và khi bạn thấy ai đó
chết, bạn có thực sự thấy ai đó chết không? Tất cả những điều bạn thấy, và tất
cả những điều y học của bạn có thể thấy là ở chỗ người này đã ngừng thở, rằng mạch
của người đó đã mất, rằng tim người đó không còn đập nữa, và họ tuyên bố rằng
người đó chết.
Mới vài ngày
trước đây, một người ở phần của Kashmir bị Pakistan chiếm, lần thứ ba đã lừa bạn
mình, đồng nghiệp mình, gia đình mình. Vào độ tuổi một trăm ba mươi nhăm, người
đó đã chết lần thứ ba. Mọi người đều rất hồ nghi bởi vì hai lần trước người đó
đã giở trò mẹo; người đó chết. Các chẩn đoán của bác sĩ là chết, xác nhận là chết,
người đó thức dậy, mở mắt ra và bắt đầu cười. Cho nên khi người đó chết lần
này, mọi người rất thận trọng. Các bác sĩ đều rất thận trọng, nhưng có mọi sự
chắc chắn về cái chết của người đó; không có vấn đề.
Họ nói, “Có lẽ
trước kia người đó có thể đã lừa dối bạn, nhưng lần này người đó chắc chắn chết.
Như y học có thể biết được, người đó hoàn thành mọi yêu cầu của người chết.” Và
khoảnh khắc mà việc xác nhận này được ba bác sĩ kí vào, người
đó mở mắt ra, bắt đầu cười và nói, “Nghe đây, lần sau khi ta sắp chết, ta sẽ chết
thật đấy. Ta chỉ nghĩ tới một lần nữa thôi...”
Phần đó của
Kashmir bị Pakistan chiếm có những người sống lâu nhất ở Ấn Độ và Pakistan... Một
trăm hai mươi tuổi là rất thường, bình thường. Một trăm năm mươi tuổi bạn có thể
tìm thấy; nó không thông thường thế, nhưng vẫn có hàng trăm người vượt qua một
trăm năm mươi tuổi. Và có vài trường hợp hiếm hoi có người đã đạt tới một trăm
tám mươi tuổi và họ vẫn còn trẻ; họ vẫn làm việc trên cánh đồng.
Và người này đã
được các báo chí, phóng viên trên khắp thế giới tới phỏng vấn, bởi vì người đó
là một người hiếm hoi; ba lần chết đã được xác nhận và ba lần người đó đã bất
chấp mọi tri thức ngành y, cả y học. Và họ đã hỏi, “Ông đã làm gì vậy? Chuyện
gì đã xảy ra?”
Ông ấy nói,
“Không cái gì cả - bởi vì tôi không phải là thân thể tôi, tôi biết điều đó; và
tôi không phải là hơi thở mình, tôi biết điều đó; và tôi không phải là tim
mình, tôi biết điều đó - tôi ở ngoài tất cả những cái này. Tôi đơn giản trượt
vào cõi bên kia. Tim dừng lại, mạch dừng lại, hơi thở dừng lại, và các ông tất
cả đều bị lừa. Thế rồi tôi trượt lại vào thân thể, máu bắt đầu chạy lại, mạch bắt
đầu làm việc trở lại và tim bắt đầu đập lại.”
Ông ấy là một
người đơn giản, một nông dân. Ông ấy không phải là nhà yoga; ông ấy chưa bao giờ
công phu điều gì. Nhưng khi ông ấy còn là đứa trẻ rất trẻ, không hơn bẩy hay
tám tuổi, ông ấy đã tiếp xúc với một nhà huyền môn Sufi, người bảo ông ấy rằng
chết là ảo tưởng. Và ông ấy hồn nhiên đến mức là ông ấy chấp nhận điều đó.
Nhà huyền môn
Sufi đã bảo ông ấy, “Có một phương pháp rất đơn giản để trượt ra khỏi thân thể
con. Quan sát nó từ bên trong; quan sát thân thể và bỗng nhiên sẽ có một khoảng
cách ngày càng lớn giữa con và thân thể con. Không mấy chốc thân thể sẽ ở xa
hàng dặm đường. Quan sát tâm trí và cùng điều đó sẽ xảy ra với tâm trí.
“Con đơn giản vẫn
còn là người quan sát và con sẽ có khả năng trượt ra ngoài thân thể, ra ngoài
tâm trí, ra ngoài toàn bộ cá tính này. Và việc quay trở lại cũng là ở bên trong
kiểm soát của con. Bởi vì con đã trượt ra, con biết cách con trượt ra. Cho nên
con biết cách đi vào trở lại. Và cách thức là ở chỗ bằng quan sát, con đã trượt
ra - bây giờ chấm dứt quan sát. Trở nên được đồng nhất với thân thể. Nói, ‘Mình
là thân thể, mình là tâm trí, mình là hơi thở, mình là nhịp tim.’ Ngay lập tức
khoảng cách sẽ biến mất. Con sẽ tới ngày một gần hơn rồi không mấy chốc con sẽ
trượt trở lại vào thân thể.”
Đồng nhất bản
thân mình với thân thể, bạn trở thành thân thể. Thế thì bạn là người hữu tử. Thế
thì có sợ chết. Không đồng nhất với thân thể, bạn chỉ là người quan sát, bạn chỉ
là tâm thức thuần khiết, vô trí. Và không có cái chết và không có bệnh tật và
không có tuổi già. Chừng nào có liên quan tới việc chứng kiến của bạn, nó là
vĩnh hằng và nó bao giờ cũng tươi tắn và trẻ trung và là một.
Tôn giáo đích
thực không dạy bạn tôn thờ. Tôn giáo đích thực dạy bạn khám phá cái bất tử của
bạn, khám phá thượng đế bên trong bạn. Và đó là điều Bồ đề đạt ma đang nói.
Nếu ông tìm hiểu
biết trực tiếp, đừng ôm giữ bất kì hình tướng nào, dù nó là cái gì, và ông sẽ
thành công. Ta không có lời khuyên nào khác.
Lời khuyên của
ông ấy rất đơn giản, nhưng nó chưa bao giờ sai. Ông ấy đang khuyên đừng bị đồng
nhất với bất kì hình tướng nào: thân thể là một hình tướng, tâm trí là một hình
tướng, thế giới là một hình tướng. Điều duy nhất tuyệt đối
thực là tâm thức của bạn. Mọi thứ khác cứ thay đổi. Cái mà cứ thay đổi là hình
tướng - đừng bị đồng nhất với nó. Bạn là điều thiêng liêng không thay đổi, bạn
là tính thượng đế không thay đổi. Và Bồ đề đạt ma nói: Ta không có lời khuyên
nào khác.
Đừng níu bám lấy
hình tướng, và ông sẽ là một tâm trí với vị phật.
Lời kinh nói:
ông sẽ là một tâm trí với vị phật. Đó là hiểu lầm của người đã ghi lại phát biểu
của Bồ đề đạt ma. Tôi phải sửa lại từ “tâm trí” sang “vô trí”.
Như tâm trí, bạn
có thể không bao giờ có thể là một với vị phật. Cố hiểu xem, bởi vì điều đó có
ý nghĩa vô biên. Tại đây, nếu tất cả các bạn là tâm trí, thế thì có nhiều người
như có bằng ấy tâm trí. Nhưng nếu tất cả các bạn trở thành im lặng, không ý
nghĩ, thế thì chỉ có một vô trí - thế thì mọi phân biệt biến mất. Dù bạn là đàn
ông hay đàn bà, trẻ con hay ông già, có học hay vô học, giầu hay nghèo, điều đó
không thành vấn đề.
Mọi phân biệt
biến mất vào khoảnh khắc tâm trí được siêu việt lên. Mọi phân biệt đều được tạo
ra bởi tâm trí. Bên ngoài tâm trí chỉ là bầu trời im lặng, không gian thuần khiết.
Trong không gian thuần khiết đó với vị phật, bạn tất cả là một với sự tồn tại.
Bạn là một với
cái toàn thể.
Tôi gọi cái một
này với cái toàn thể là cái thiêng liêng duy nhất.
Đệ tử này hỏi Bồ
đề đạt ma: Nhưng tại sao chúng tôi không nên tôn thờ chư phật và bồ tát?
Đệ tử này dường
như là người có tâm trí rất xoàng, bởi vì Bồ đề đạt ma đã trả lời rồi. Và bây
giờ điều anh ta đưa ra như câu trả lời của Bồ đề đạt ma, tôi phủ nhận tuyệt đối
rằng đấy không thể nào là câu trả lời của Bồ đề đạt ma được. Nó ngu xuẩn đến mức
Bồ đề đạt ma không thể nào nói điều đó. Cho nên trước hết tôi sẽ đọc điều đệ tử
này viết, thế rồi tôi sẽ bảo bạn đích xác cái gì Bồ đề đạt ma phải đã nói.
Quỉ và ma sở hữu
sức mạnh của biểu hiện. Chúng có thể tạo ra hình tướng của bồ tát theo đủ mọi
loại trá hình. Nhưng chúng là giả. Không một ai trong chúng là chư phật cả. Phật
là tâm trí riêng của ông. Đừng hướng sai tôn thờ của ông.
Đệ tử này đang
nói rằng việc tôn thờ vị phật bị phủ nhận bởi vì ma quỉ có thể giả làm chư phật.
Nếu bạn tôn thờ, hình tướng sẽ là phật, và thực ra có quỉ ẩn đằng sau hình tướng
này. Đây không thể là câu trả lời của Bồ đề đạt ma được.
Một người không
tin vào Thượng đế không thể tin vào ma quỉ được. Một người có khả năng phủ nhận
Thượng đế chắc chắn có khả năng phủ nhận mọi ma quỉ. Và câu trả lời duy nhất của
ông ấy có thể là câu trả lời mà ông ấy đã đưa ra trong lời kinh cơ sở. Không
hoài nghi gì câu trả lời của ông ấy sẽ là, “Ông không nên tôn thờ bất kì chư phật
nào bởi vì ông là vị phật. Điều đơn giản lố bịch là việc vị phật này tôn thờ vị
phật khác.”
Tôi nhớ tới một
Thiền sư khác. Ông ấy phải là con người có phẩm chất tương tự nào đó với Bồ đề
đạt ma; ông ấy là đệ tử theo cùng dòng truyền thừa. Ông ấy ngụ trong một ngôi
chùa Phật giáo vào đêm đông - vị tu sĩ, biết rằng ông ấy là một thầy lớn, đã
cho phép ông ấy ngụ lại trong chùa. Nhưng vào giữa đêm tu sĩ này thức dậy. Bỗng
nhiên có nhiều ánh sáng thế. Ông ta nhìn vào trong chùa... bởi vì phòng ông ta ở bên
ngoài chùa. Thầy mà anh ta đã cho phép ngụ lại trong chùa đang tận hưởng đốt một
bức tượng đẹp, bức tượng gỗ của Phật Gautam.
Tu sĩ này đơn
giản phát điên lên. Ông ta nói, “Ông điên hay làm sao không đấy? Ông đã đốt tượng
Phật Gautam rồi.” Thầy lấy cây thiền trượng của mình và bắt đầu tìm cái gì đó
trong đống tro của bức tượng đã cháy. Tu sĩ nói, “Ông tìm gì vậy?” Thầy nói,
“Ta đang tìm xương đây.”
Ngay cả tu sĩ
này cũng phải bật cười, mặc dầu ông ta giận lắm và bức tượng đẹp nhất của ông
ta đã bị đốt cháy. Nhưng ông ta nói, “Ông thực sự mất trí rồi. Nhưng làm sao tượng
gỗ có thể có xương được?”
Thầy nói, “Đó
là điều ta đang chỉ cho ông; rằng nếu không có xương bên trong nó, nó không phải
là tượng của Phật. Nó không phải là Phật; nó chỉ là gỗ đẽo gọt thành hình dáng
nào đó. Đừng bị lừa bởi nó. Đêm dài và trời quá lạnh còn ta mệt mỏi thế về cuộc
hành trình dài này. Nếu ông có thể giúp đỡ cách nào đó... ông vẫn còn ba tượng
nữa. Một tượng là đủ cho việc tôn thờ, ông có thể cho ta hai tượng. Đêm nay thực
là lạnh. Hơn nữa ta là phật sống. Với vị phật sống điều tuyệt đối đúng là đốt
phật gỗ đi để có chút ít hơi ấm. Trời quá lạnh trong ngôi chùa này.”
Tu sĩ trở nên rất
sợ rằng con người này dường như tuyệt đối nguy hiểm và nghĩ, “Nếu mình đi ngủ,
ông ta sẽ đốt hết tượng của mình.” Vào giữa đêm ông ta tống thầy ra khỏi ngôi
chùa. Thầy cứ khăng khăng, “Điều này là không đúng. Nghe đây, ông sẽ hối hận về
điều đó. Ông đang tống phật sống vào trong bóng tối của ban đêm, vào trong đêm
đông lạnh lẽo. Và ông bảo vệ cho phật gỗ. Ông điên hay là làm sao không?”
Tu sĩ nói, “Tôi
không muốn thảo luận điều đó với ông.
Tôi biết ai
điên. Ông ra khỏi đây đi.”
Đến sáng tu sĩ
mở cửa ra để xem điều gì xảy ra cho thầy. Ông ấy đang ngồi ngay bên đường. Ông ấy
đã hái vài bông hoa dại và ông ấy đặt những bông hoa dại này lên cột mốc cây số.
Ông ấy đang tôn thờ, “Buddham sharanam, gachchhami. Sangham sharanam
gachchhami. Dhammam sharanam gachchhami.”
Tu sĩ không thể
tin nổi vào điều đó, “Ông ta điên thật. Đêm qua ông ta đã đốt mất một vị phật,
đắt thế.” - nó được làm bằng gỗ đàn hương - “và bây giờ kẻ điên này đang tôn thờ
cột cây số như vị phật.” Tu sĩ tới gần ông ấy và nói, “Ông làm gì thế này?”
Thầy nói, ‘Lời
cầu nguyện buổi sáng của ta.” Tu sĩ nói, “Nhưng ông có vẻ lạ đời. Đêm qua ông
đã phá huỷ phật của ta còn bây giờ ông tôn thờ cột cây số.”
Ông ấy nói,
“Ông không hiểu. Đấy chỉ là hình dung của ông thôi. Nếu ông quán tưởng rằng đây
là vị phật, đây là vị phật. Ông đã quán tưởng vị phật trong bức tượng gỗ - nó
trở thành vị phật. Đấy tất cả đều là trò chơi tâm trí. Ta không tin vào lời cầu
nguyện. Chỉ vì ông mà ta đợi và tôn thờ cột cây số này - chỉ để chỉ cho ông rằng
bất kì cái gì ông tôn thờ, ông đang tôn thờ cái gì đó sai, bởi vì ông là phật.
Người tôn thờ là phật, không phải cái được tôn thờ. Ta có thể vào lại chùa đêm
nay được không?”
Tu sĩ nói,
“Không, mặc dầu ông có vẻ như là đúng và có lẽ tôi sai, tôi không thể nào theo
được hiểu biết lớn lao của ông - nó là nguy hiểm. Tốt hơn cả là ông đi khỏi chỗ
này và làm hành động của ông ở một chùa khác nào đó. Tôi là một tu sĩ nghèo,
ông đã phá huỷ một trong những vị phật đẹp nhất của tôi; bây giờ tôi không thể
nào - cho dù ông có thuyết phục tôi - tôi không thể nào cho
phép ông vào bên trong chùa được.”
Thầy nói,
“Không thành vấn đề... nhưng ta có thể thấy rằng ông đã hiểu đúng, và một ngày
nào đó ông sẽ tới tìm ta. Ta có thể thấy trong mắt ông ánh sáng của hiểu biết,
tia sáng của hiểu biết. Không cho ta vào... nhưng ta đã vào bên trong ông rồi.”
Và sau đó hai
năm tu sĩ này phải tới thầy để xin lỗi, và ông ta mang ba bức tượng còn lại tới,
nói, “Thầy có thể đốt chúng bất kì khi nào thầy cần. Tôi đã hiểu ra. Từ đêm đó,
tôi đã không thể nào có lấy một khoảnh khắc quên thầy - cái đẹp của thầy, duyên
dáng của thầy, an bình của thầy, im lặng của thầy và nỗ lực lớn lao của thầy để
làm cho tôi hiểu rằng điều tôi đã làm là ngu xuẩn. Và tôi đã xử tệ với thầy;
tôi đã tống thầy vào trong đêm tối, vào đêm lạnh lẽo. Dầu vậy thầy vẫn đợi tôi
tới sáng hôm sau, để cho tôi một cơ hội khác để hiểu. Và tôi đã ngu đến mức tôi
bỏ lỡ cả cơ hội đó nữa.
"Nhưng hai
năm là đủ. Thầy đã ám ảnh tôi. Bây giờ tôi đã tới, hoàn toàn biết rõ rằng vị phật
là ở bên trong; ông ấy không ở trong các bức tượng của chùa, và tượng của chùa
và cột mốc cây số là không khác.”
Điều đó làm tôi
nhớ: khi lần đầu tiên ở Ấn Độ, chính phủ Anh tạo ra đường sá và đặt cột mốc
lên, họ đã sơn các cột mốc đó bằng mầu đỏ, bởi vì mầu đỏ là mầu rất rực rỡ và bạn
có thể thấy nó từ xa. Đặc biệt trong tương phản với mầu xanh của cánh đồng và rừng
thẳm, nó trông tách biệt. Bất kì mầu nào khác cũng có thể gây trộn lẫn, nhưng mầu
đỏ đứng tuyệt đối tách biệt.
Các kĩ sư Anh,
người làm việc trên đường, cũng ngạc nhiên rằng dân làng bắt đầu tôn thờ chúng!
Họ nghĩ rằng đây là những bức tượng của Hanuman (thần khỉ). Đấy là cả một vấn
đề lớn cho các kĩ sư để bảo với các dân làng ấy rằng chúng chỉ là cột cây số.
Nhưng dân làng cứ khăng khăng, “Chúng có thể là cột mốc cây số cho các ông,
nhưng với chúng tôi, nó hoàn toàn tốt. Chúng trông đẹp thế, và chúng tôi không
làm hại gì cho các ông cả. Chúng tôi chỉ tôn thờ chúng.”
Tôi đã đọc câu
chuyện này... khi đường sá lần đầu tiên được làm ở Ấn Độ, các kĩ sư người Anh
đã bị sốc. Họ không thể nào ngăn cản được dân làng, người đã nói, “Các ông có
thể coi chúng là cột mốc, nhưng có hại gì nếu chúng tôi tôn thờ chúng? Với
chúng tôi, chúng chỉ là bức tượng của Hanuman.”
Câu trả lời của
Bồ đề đạt ma không thể là điều đệ tử này đã ghi ra ở đây. Câu trả lời của ông ấy
chỉ có thể là: Nhớ lấy phật tính riêng của ông, đánh thức phật tính riêng của
ông, và việc đánh thức này sẽ làm cho vô trí của ông là một với vị phật. Đừng
hướng sai tôn thờ của ông. Ông phải tôn thờ tâm thức bên trong nhất riêng của
ông. Ông là ngôi đền, ông là người tôn thờ, và ông là cái được tôn thờ.
Phật là từ tiếng
Phạn cho điều ông gọi là nhận biết, nhận biết huyền bí. Đáp ứng, cảm nhận, nhíu
trán, nháy mắt, vung tay và chân, đấy tất cả là bản tính nhận biết huyền bí của
ông. Và bản tính này là vô trí. Và vô trí là phật. Và phật là Đạo. Và Đạo là
Thiền. Nhưng từ thiền là một từ vẫn còn thách đố. Việc thấy bản tính của ông là
Thiền.
Từ zen vẫn còn
là một câu đố bởi vì nó tới từ một gốc tiếng Sanskrit (Phạn); nó bắt nguồn từ từ
dhyan - thiền. Phật dùng ngôn ngữ đương đại của mọi người thời ông ấy - đấy là
một bước cách mạng, bởi vì tiếng Phạn bao giờ cũng là ngôn ngữ của học giả. Phật
đã mang tới cuộc cách mạng bằng việc dùng ngôn ngữ của mọi người, không dùng
ngôn ngữ của học giả. Ông ấy dùng tiếng Pali cho nên mọi dân làng đều có
thể hiểu được. Trong tiếng Pali, dhyan bị đổi một chút thành dạng khác; nó trở
thành zh’an.
Và khi Bồ đề đạt
ma tới Trung Quốc, ông ấy đã nói về zh’an. Nhưng trong tiếng Trung Quốc, nó lại
lấy một dạng khác; nó trở thành ch’an. Và rồi từ Trung Quốc, nó tới Nhật Bản; từ
ch’an nó trở thành zen. Đi xa nó mất gốc nguyên thuỷ. Bây giờ ở Nhật Bản không
có gốc cho zen; từ này là từ ngoại đối với tiếng Nhật. Với ch’an không có gốc rễ
trong tiếng Trung Quốc; từ này là từ ngoại.
Đó là lí do tại
sao nó thành điều khó hiểu; Zen là gì? Nhưng nếu bạn có thể quay về gốc rễ, mọi
sự trở nên đơn giản; câu đố biến mất. Dhyan có nghĩa là vượt ra ngoài tâm trí,
đi ra ngoài quá trình ý nghĩ, vào trong im lặng, hoàn toàn im lặng nơi không
cái gì chuyển động, nơi không cái gì quấy rối, nơi mọi thứ vắng bóng - chỉ trống
rỗng thuần khiết. Không gian này là zen, không gian này là thiền. Không có gì
khó hiểu về nó cả.
Nhưng chỉ trong
đất nước này mới có thể tìm thấy gốc rễ của zen. Zen được sinh ra ở đây, trong
đất nước này; nó nở hoa ở Nhật Bản. Hoa tới ở Nhật Bản và chúng là điều khó hiểu,
bởi vì họ không thể nào tìm thấy gốc rễ ở đâu, cây ở đâu. Họ chỉ có thể thấy
hoa và hương thơm. Gốc rễ ở xa xôi trên đất nước này, và một điều không may thế
là dhyan đã nở hoa tới điều tối thượng của nó tại Nhật Bản, còn tại Ấn Độ nó biến
mất gần như hoàn toàn.
Các sứ quán Ấn
Độ đã được chính phủ Ấn Độ thông báo rằng bất kì ai từ bất kì nước nào trên thế
giới mà muốn tới Ấn Độ để học thiền, không nên được cấp bất kì vi sa du lịch
nào.
Chính phủ không
biết gì về thiền cả. Các chính khách không thể đảm đương được là thiền nhân, bởi
vì nền tảng của thiền là vô tham vọng, vô ham muốn, vô thành đạt. Chính khách
không thể đảm đương được là một thiền nhân. Do đó, trong các đại học Ấn Độ
không có điều khoản về thiền, một đóng góp lớn nhất của Ấn Độ cho thế giới. Và
mọi người muốn tới Ấn Độ để học thiền bị các sứ quán Ấn Độ trên khắp thế giới
ngăn cản. Họ được cấp vi sa tới nếu họ chỉ muốn xem Taj Mahal, các ngôi đền
Khajuraho, đi tuần trăng mật ở Kashmir, hay bởi bất kì lí do ngớ ngẩn nào,
nhưng không vì thiền.
Đó là một trong
những sự cố không may đã xảy ra ở Ấn Độ. Ấn Độ đã tạo ra những thiền nhân vĩ đại
nhất trên thế giới, và từ Ấn Độ toàn bộ châu Á đã học thiền. Nó vẫn sống động
trong các tu viện của Nhật Bản; nhưng ở Ấn Độ không có sự hỗ trợ từ bất kì nguồn
nào cho đóng góp vĩ đại nhất của riêng Ấn Độ cho tiến bộ con người. Nhưng lí do
là rõ ràng: những người đang nắm quyền lực không hiểu ngay cả ABC của việc im lặng.
Họ chỉ biết một tâm trí căng thẳng, lo âu và lo nghĩ, tham vọng, tinh ranh, kéo
chân người khác, phá hoại quyền lực của nhau. Toàn thể mối quan tâm là tham vọng
cực kì để ở trong quyền lực.
Thiền là khác
toàn bộ; không chỉ khác, mà còn là chiều đối lập ngược hẳn lại. Đó là cách thức
của con người khiêm tốn, đó là cách thức của trái tim giản dị. Đó là cách thức
của những người muốn hân hoan trong việc biến mất hệt như giọt sương biến mất
trong đại dương.
Cho dù ông giải
thích hàng nghìn lời kinh và kệ, chừng nào ông chưa thấy bản tính riêng của
mình, việc giải thích của ông là giáo lí của người hữu tử.
Bạn có thể hiểu
các kinh sách linh thiêng, bạn có thể biết Vedas, bạn có thể biết Upanishads, bạn
có thể biết Kinh thánh linh thiêng, bạn có thể biết Koran linh thiêng, hay Gita
linh thiêng, nhưng nếu bạn không biết tới bản thân mình, giáo huấn của bạn chỉ
là lặp lại, lặp lại máy móc như vẹt. Và có lẽ vẹt cũng còn thông minh hơn là
các kẻ sĩ của bạn.
Tôi đã nghe nói
về một ông giám mục có hai con vẹt, và trong nhiều năm ông ấy đã huấn luyện
chúng trích đọc lời cầu nguyện Ki tô giáo chính thức. Ông ấy làm những hạt vàng
cho vẹt; chúng đeo những hạt này và đọc lời cầu nguyện, và bất kì khách nào hay
tới đều đơn giản ngạc nhiên. Việc tụng của chũng hoàn hảo thế và chúng trông gần
như thánh, với các hạt trong cánh.
Cuối cùng, bởi
vì ông ấy đã được ca ngợi quá nhiều về điều ông ấy đã làm trong việc dạy vẹt,
ông giám mục nghĩ mình sẽ mua một con vẹt nữa và huấn luyện cả nó nữa. Cho nên
ông ấy mua một con vẹt khác và đặt con vẹt mới đó vào giữa hai hiền giả này, tụng
lời cầu nguyện với những hạt của chúng. Khi giám mục đi vào, con vẹt nọ nói với
con vẹt kia, “George, bây giờ vứt hạt đi. Lời cầu nguyện của chúng ta đã được
nghe rồi; người yêu của chúng ta đã tới với chúng ta.”
Đó là con vẹt
cái. Thậm chí vẹt cũng dường như thông minh hơn...
Một người không
biết tới bản thân mình nên cảm thấy xấu hổ khi dạy cho người khác chỉ bởi vì
người đó biết kinh sách. Học thức không có ý nghĩa chút nào trong thế giới đích
thực của tôn giáo. Nó là thế giới của kinh nghiệm, không phải của giải thích.
Người dạy theo kinh sách là:
... người hữu tử,
không phải vị phật. Đạo đúng là siêu phàm. Nó không thể được diễn đạt trong
ngôn ngữ. Kinh sách phỏng có ích gì? Nhưng ai đó thấy bản tính riêng của
mình, tìm thấy Đạo, cho dù người đó không thể đọc được một từ... Mọi thứ vị phật
nói đều là diễn đạt cho vô trí của ông ấy. Nhưng vì thân thể ông ấy và cách diễn
đạt về cơ bản là trống rỗng, ông không thể nào tìm thấy vị phật trong lời nói.
... Đạo về cơ bản
hoàn hảo. Nó không đòi hỏi làm hoàn hảo. Đạo không có hình tướng hay âm thanh.
Nó tinh tế và khó cảm nhận. Nó giống như khi ông uống nước. Ông biết nước nóng
hay lạnh thế nào, nhưng ông không thể nói cho người khác được. Về điều đó chỉ
tathagata (như lai) biết, người và thần vẫn còn không nhận biết. Nhận biết của
người hữu tử không đạt tới.
Bạn có ít nhận
biết - nhưng rất ít. Nếu toàn thể bản thể bạn có thể được tính tới, thế thì
chín phần của nó là trong bóng tối và vô ý thức. Chỉ một phần trong mười là có
ý thức, chỉ một tầng rất nông có thể dễ dàng bị khuấy động. Ai đó xúc phạm bạn
và bạn quên tất cả về khiêm tốn, bạn quên tất cả về tử tế, bạn lập tức trở nên
phát rồ. Bỗng nhiên cái man rợ của bạn trào lên. Chỉ cào chút ít và con vật bắt
đầu biểu lộ thực tại của nó trong chính con người bạn.
Văn minh của bạn
hời hợt thế. Nó giống hệt quần áo của bạn vậy; bạn có thể vứt bỏ chúng vào bất
kì lúc nào. Và tất cả các bạn đều biết rằng có những khoảnh khắc khi bạn vứt bỏ
mọi văn minh của mình đi, mọi văn hoá của mình, mọi tôn giáo, mọi phẩm chất vĩ
đại của mình mà bạn nói tới, trong một giây, chúng biến mất. Tâm thức bạn nhỏ
bé thế.
Nhận biết của
người hữu tử không đạt tới. Nó không thể đạt tới những đỉnh cao của con người
đã thức tỉnh đầy đủ. Đó là lí do tại sao vị phật nhất định bị hiểu lầm. Bất kì
điều gì ông ấy làm đều xa xôi với bạn thế - ông ấy gần như trên đỉnh đầy ánh nắng
của Himalaya còn bạn thì trong thung lũng tăm tối.
Thậm chí những điều ông ấy nói đạt tới bạn, nó không còn là nó nữa. Bạn nghe chỉ
tiếng thung lũng vang vọng. Cái gì đó của nó đạt tới bạn và bạn diễn giải nó
theo tâm trí riêng của mình.
Một đêm chuyện
xảy ra: Phật Gautam hay nói với các đệ tử của mình vào mọi đêm, sau bài nói của
ông ấy, “Bây giờ đến lúc rồi; đi và làm điều cuối cùng. Đừng quên trước khi các
ông đi ngủ.” Hướng dẫn của ông ấy là về việc thiền cuối cùng trước khi bạn đi
ngủ. Nhưng một đêm chuyện đã xảy ra, có một tên trộm trong hội chúng và có cả một
gái mãi dâm nữa. Khi Phật nói, “Bây giờ đến lúc rồi, các ông hãy đi và làm điều
cuối cùng trước khi các ông đi ngủ,” gái mãi dâm nghĩ, “Lạy trời, ông ấy biết rằng
mình ở đây, và rằng đây là lúc hành nghề của mình. Mình phải đi thôi, nhanh
lên.”
Tên trộm nói,
“Mình đang ẩn mình trong bóng tối, bởi vì không ai biết cả... Người này, ông ta
có thể nhận ra rằng mình là kẻ trộm, và ông ấy đã nhận ra. Ông ấy đang nói với
mình, ‘Bây giờ đi đi, và làm điều cuối cùng, trước khi ông đi ngủ. Đây là lúc rồi.’
Lạy trời, người này thực sự kì lạ. Mình phải chạy đi bây giờ, muộn rồi và đây
là lúc để kết thúc công việc của mình, bằng không thì mình sẽ không ngủ được tối
nay.”
Hàng nghìn
sannyasin đi vào thiền. Gái mãi dâm ra bãi chợ. Kẻ trộm bắt đầu tìm công việc
mình. Phật nói một điều, nhưng có nhiều cách diễn giải khác nhau tương ứng với
tâm trí riêng của mọi người.
Chừng nào họ
còn gắn bó với hình tướng, họ còn không nhận biết rằng vô trí của họ là trống rỗng.
Và bởi níu bám sai lầm vào hình tướng của mọi vật, họ lạc mất Đạo.
Nếu ông biết rằng
mọi thứ đều tới từ vô trí...
Mọi thứ tới từ
cái không, và biến mất lại vào trong cái không. Và bạn thấy điều đó xảy ra hàng
ngày; từ hạt mầm cây phát sinh ra. Bạn chặt hạt mầm ra và xem - bạn sẽ không thấy
cây nào, bạn sẽ không thấy cành nào, bạn sẽ không thấy bất kì tán lá nào, bạn sẽ
không thấy bất kì hương thơm nào, bất kì quả nào - không cái gì, chỉ trống rỗng.
Nhưng từ hạt mầm,
cái không là gì ngoài cái trống rỗng, một cây lớn mọc lên với tán lá vĩ đại, với
nhiều hoa, với nhiều quả và hàng triệu hạt mầm. Và từ mỗi hạt mầm, lần nữa lại
hàng triệu hạt mầm. Các nhà khoa học nghiên cứu về cây cối, rau cỏ, nói rằng một
hạt mầm có thể làm cho cả trái đất xanh rờn. Nó có nhiều tiềm năng thế, mặc dầu
bạn không thể thấy được bằng việc cắt nó ra - bạn sẽ không thấy cái gì ở đó cả.
Mọi thứ đều tới
từ cái không và quay trở lại vào trong cái không. Do đó không có nhu cầu gắn
bó, bởi vì gắn bó sẽ đem lại khổ. Chẳng mấy chốc nó sẽ trôi qua. Hoa đã nở ra
vào buổi sáng, đến tối sẽ tàn đi.
Đừng bị gắn bó;
bằng không vào buổi tối sẽ có khổ. Thế thì sẽ có nước mắt, thế thì bạn sẽ bỏ lỡ
bông hoa. Tận hưởng trong khi nó đang có đó. Nhưng nhớ, nó đã tới từ cái không,
và nó sẽ quay trở lại cái không. Và cùng điều này là đúng cho mọi thứ, ngay cả
về mọi người.
Bạn yêu người
đàn ông, bạn yêu người đàn bà; họ đã tới từ đâu? Từ chính những hạt mầm nhỏ bé
mà thậm chí mắt trần không thể thấy được. Nếu chúng được đặt ra trước bạn,
chúng sẽ không lớn hơn dấu chấm câu. Và bạn sẽ không nhận ra rằng đây là bạn,
hay rằng một ngày nào đó bạn đã giống cái này, rằng đây là tấm ảnh cũ của bạn.
Một ngày nào đó
bạn sẽ biến mất trên dàn thiêu - vào cái không, như khói. Đừng bị gắn bó với bất
kì cái gì. Gắn bó này đem bạn đi xa khỏi bản thể thực của
mình; bạn trở nên bị hội tụ vào những thứ bạn bị gắn bó. Nhận biết của bạn lạc
trong các đồ vật, trong tiền bạc, trong con người, trong quyền lực. Và có cả nghìn lẻ
một thứ, toàn bộ rừng rậm bao quanh bạn, để mà bị lạc.
Nhớ lấy, vô gắn
bó là bí mật của việc tìm ra bản thân bạn, thế thì nhận biết có thể quay vào
bên trong bởi vì bạn không có gì bên ngoài để bắt giữ. Đấy là tự do, và trong tự
do này bạn có thể biết tới tự tính của mình.
... đừng trở
nên gắn bó. Một khi bị gắn bó, ông không nhận biết. Nhưng một khi ông thấy bản
tính riêng của mình, toàn bộ kinh sách trở thành bài tụng chán ngắt.
Thế thì mọi
kinh sách đều vô dụng. Bạn đã thấy cái linh thiêng nhất của cái linh thiêng,
chính cội nguồn của Upanishad, chính cội nguồn của Veda, chính cội nguồn của tất
cả cái gọi là kinh sách linh thiêng. Khi bạn đã thấy cội nguồn, ai còn bận tâm
đến kinh sách nữa? Chúng quá tẻ nhạt, không là gì khác.
Hàng nghìn lời
kinh và kệ chỉ đưa tới vô trí rõ ràng. Hiểu biết tới ở giữa câu.
Đây là một phát
biểu hay thế. Hiểu biết không tới qua lời, mà qua lỗ hổng - trong khoảnh khắc của
im lặng.
Hiểu biết tới ở
giữa câu. Các học thuyết có ích gì?
Chân lí tối thượng
vượt ra ngoài lời. Học thuyết là lời. Chúng không phải là Đạo. Đạo là vô lời. Lời
là ảo tưởng. Chúng không khác các vật xuất hiện trong giấc mơ của ông ban đêm,
dù chúng là lâu đài hay xe ngựa... Đừng tưởng tượng bất kì vui thích nào cho những
điều như vậy. Chúng tất cả đều là cái nôi của tái sinh. Nhớ điều này trong
tâm trí khi ông tiến tới cái chết. Đừng níu bám vào hình tướng, và ông sẽ phá vỡ
mọi rào chắn.
Đây là một phát
biểu vĩ đại cần được ghi nhớ bởi vì mọi người sẽ đi qua cái cổng của cái chết một
ngày nào đó. Nếu bạn có thể nhớ rằng bạn chỉ là tâm thức thuần khiết - không phải
là thân thể, không phải là tâm trí, không phải là trái tim, không phải là tiền
của bạn, không phải uy tín của bạn, không phải quyền lực của bạn, không phải
nhà của bạn, mà chỉ là tâm thức thuần khiết - thế thì bạn có thể đi qua rào chắn
của cái chết mà không xây xước gì. Thế thì cái chết thậm chí không thể làm sứt
mẻ được bạn.
Cái chết có quyền
lực với bạn chỉ nếu bạn bị gắn bó.
Bạn không sợ
cái chết. Tâm lí cơ sở là bạn sở cái chết bởi vì nó đem bạn xa khỏi mọi gắn bó
của bạn. Nếu như có khả năng rằng bạn có thể đem cả vợ bạn và con bạn cùng nhà
cửa và tiền bạc và quyền lực và mọi thứ bạn nghĩ thuộc về bạn, đi cùng bạn khi
bạn chết, tôi cho rằng bạn không sợ chết. Bạn sẽ hân hoan; một cuộc phiêu lưu lớn
- đi cùng với toàn bộ đoàn lữ hành. Nhưng cái chết cắt đi mọi thứ khỏi bạn, để
bạn hoàn toàn trần trụi - chỉ như một tâm thức...
Trong Upanishad
có một câu chuyện cổ mà tôi bao giờ cũng yêu mến. Một nhà vua lớn tên là Yayati
đã tới một trăm tuổi. Bây giờ thế là đủ; ông ấy đã sống một cách rất khoẻ mạnh.
Ông ấy đã tận hưởng mọi điều mà cuộc sống có thể làm có sẵn. Ông ấy là một
trong những vị vua vĩ đại nhất trong thời ông ấy. Nhưng câu chuyện này hay...
Thần Chết tới
và nói với Yayati, “Sẵn sàng đi. Đây là thời điểm cho ông rồi, và ta đã tới để
đem ông đi.” Yayati thấy Thần Chết, và ông ấy là một chiến binh vĩ đại và ông ấy
đã thắng nhiều cuộc chiến. Yayati bắt đầu run rẩy, và nói, “Nhưng thế thì quá sớm.”
Thần Chết nói, “Quá sớm à! Ông đã sống cả trăm năm nay rồi. Thậm chí
con ông cũng đã già. Con cả của ông đã tám mươi tuổi rồi. Ông còn muốn gì hơn nữa?”
Yayati có một
trăm con trai bởi vì ông ấy có một trăm vợ. Ông ấy đã yêu cầu Thần Chết, “Ngài
có thể làm một ân huệ cho ta được không? Ta biết ngài phải đem ai đó đi. Nếu ta
có thể thuyết phục một trong những đứa con của ta, liệu ngài có thể để ta sống
thêm một trăm năm nữa và đem một trong những đứa con của ta đi được không?” Thần
chết nói, “Điều đó hoàn toàn được nếu ai đó khác sẵn sàng ra đi. Nhưng ta không
nghĩ... Nếu ông không sẵn sàng, và ông là bố và ông đã sống nhiều hơn và ông đã
tận hưởng mọi thứ, tại sao con ông lại phải sẵn sàng?”
Yayati triệu một
trăm con trai lại. Những đứa con già hơn vẫn còn im lặng. Có im lặng lớn, không
ai nói điều gì cả. Chỉ một người, đứa con trai nhỏ tuổi nhất mói chỉ mười sáu
tuổi, đứng dậy và anh ta nói, “Tôi sẵn sàng”. Ngay cả Thần Chết cũng cảm thấy
buồn cho cậu bé và nói với cậu thanh niên này, “Có lẽ cậu còn quá hồn nhiên. Cậu
không thể thấy chín mươi chín anh cậu tuyệt đối im lặng đó sao? Ai đó tám mươi,
ai đó bẩy mươi nhăm, ai đó bẩy tám, ai đó bẩy mươi, ai đó sáu mươi - họ đã sống
- nhưng họ vẫn muốn sống. Và cậu thì chưa sống chút nào. Thậm chí ta cũng cảm
thấy buồn khi đem cậu đi. Cậu nghĩ lại đi.”
Cậu thanh niên
nói, “Không, thấy tình huống này cũng làm cho tôi hoàn toàn chắc chắn. Đừng cảm
thấy buồn hay tiếc; tôi đi với nhận biết hoàn toàn. Tôi có thể thấy rằng nếu bố
tôi còn chưa thoả mãn trong một trăm năm, phỏng có ích gì mà ở đây? Làm sao tôi
có thể thoả mãn được? Tôi đang thấy chín mươi chín anh tôi; không ai thoả mãn cả.
Cho nên tại sao phải phí thời gian? Ít nhất thì tôi cũng có thể làm ân huệ
này cho bố tôi. Trong tuổi già của bố, để cho bố tận hưởng thêm một trăm năm nữa.
Nhưng tôi kết thúc. Thấy tình huống là không ai thoả mãn cả, tôi có thể hoàn
toàn hiểu một điều - rằng cho dù tôi có sống một trăm năm, tôi cũng sẽ không
thoả mãn. Cho nên cũng không thành vấn đề liệu tôi đi hôm nay hay sau chín mươi
năm. Ngài cứ đem tôi đi.”
Thần Chết tóm lấy
cậu bé. Và sau một trăm năm thần quay lại. Và Yayati lại ở trong cùng tình huống
đó. Và ông ấy nói, “Một trăm năm này trôi qua chóng quá. Mọi con trai lớn của
tôi đều đã chết, nhưng tôi có một đoàn khác. Tôi có thể cho thần một người con
nào đó. Xin hãy ban đặc ân cho tôi.”
Chuyện cứ thế
tiếp diễn - câu chuyện cứ kể mãi - trong một nghìn năm. Mười lần Thần Chết tới.
Và chín lần thầm đã lấy đi người con nào đó và Yayati sống thêm một trăm năm. Lần
thứ mười Yayati nói, “Mặc dầu tôi vẫn chưa thoả mãn như tôi chưa thoả mãn khi
thần tới lần đầu tiên, nhưng bây giờ - mặc dầu không sẵn sàng, ngần ngại - tôi
sẽ đi, bởi vì tôi không thể nào cứ hỏi xin ân huệ mãi được. Như thế quá nhiều rồi.
Và một điều đã trở nên chắc chắn với tôi, là nếu một nghìn năm không thể nào
giúp gì cho tôi được bằng lòng, thế thì thậm chí mười nghìn năm cũng không làm
được.”
Đấy là gắn bó.
Bạn có thể cứ sống nhưng khi ý tưởng về cái chết điểm vào bạn, bạn sẽ bắt đầu
run rẩy. Nhưng nếu bạn không bị gắn bó với bất kì cái gì, cái chết có thể tới
chính khoảnh khắc này và bạn sẽ trong tâm trạng rất đón chào. Bạn sẽ hoàn toàn
sẵn sàng ra đi. Trước con người như vậy, cái chết bị thất bại. Cái chết bị thất
bại chỉ bởi những người đã sẵn sàng chết vào bất kì lúc nào, không ngần ngại
gì. Họ trở thành bất tử, họ trở thành chư phật.
Một khoảnh khắc
ngần ngại và ông sẽ ở dưới bùa mê của quỉ. Thân thể thực của ông, bản thể thực
của bạn là thuần khiết và không thể bị hư hỏng. Nhưng bởi vì ảo tưởng, ông
không nhận biết về điều đó. Và bởi vì điều này, ông chịu nghiệp một cách vô
ích. Bất kì chỗ nào ông thấy vui mừng, ông thấy tù túng. Nhưng một khi ông đánh
thức thân thể và vô trí nguyên thuỷ của mình, ông không còn bị dính với gắn bó.
Tự do này là mục
đích của mọi tìm kiếm tôn giáo. Tự do khỏi gắn bó là tự do khỏi cái chết.
Tự do khỏi gắn
bó là tự do khỏi bánh xe sinh tử. Tự do khỏi gắn bó làm cho bạn có khả năng đi
vào ánh sáng vũ trụ và trở thành một với nó. Và đó là phúc lành lớn nhất, cực lạc
tối thượng bên ngoài nó không cái gì khác tồn tại. Bạn đã về nhà.
Được chứ
Maneesha?
Vâng, thưa
Osho.
Xem tiếp Chương 7 - Quay về Mục lục