Osho
– Bồ Đề Đạt Ma: Thiền sư vĩ đại nhất
Chương
1: Tìm kiếm cái không là phúc lạc
Osho kính yêu,
Đại cương của Bồ đề đạt ma về thực hành
Nhiều con đường dẫn tới Đạo, về cơ bản chỉ có hai con đường: lí
luận và thực hành. Đi vào bằng lí luận có nghĩa là nhận ra điều tinh tuý qua hướng
dẫn và tin rằng mọi vật sống đều có chung cùng bản tính đúng đắn, điều không rõ
ràng bởi vì nó bị che khuất bởi cảm giác và ảo tưởng. Những người từ ảo tưởng
quay về với thực tại, người thiền với bức tường, thấy vắng bóng cái ta và người
khác, thấy cái một của người hữu tử và hiền nhân, và những người đó vẫn còn thản
nhiên, ngay cả với kinh sách, là trong tán thành đầy đủ và không nói lên lời với
lí luận. Không di chuyển, không nỗ lực, họ đi vào, chúng ta nói, bằng lí luận.
Đi vào bằng thực hành nói tới
bốn thực hành bao hàm toàn bộ: chịu đựng bất công, thích ứng với hoàn cảnh, tìm
cái không và thực hành Pháp.
Thứ nhất, chịu đựng bất công.
Khi những người tìn kiếm Đạo gặp phải vận rủi, họ nên nghĩ về bản thân mình,
"Trong vô lượng năm trôi qua, mình đã đi từ điều tinh tuý tới cái tầm thường
và vẩn vơ qua đủ mọi cách thức của sự tồn tại, thường giận dữ chẳng nguyên nhân
và mặc cảm về vô số tội lỗi. Bây giờ, mặc dầu mình không làm điều sai trái,
mình đang bị trừng phạt bởi quá khứ của mình. Không thần thánh cũng không người
nào có thể thấy trước được khi nào hành vi ác sẽ mang lại
quả của nó. Mình chấp nhận nó bằng trái tim cởi mở và không phàn nàn về bất
công." Kinh nói, "Khi ông gặp vận rủi, đừng nổi giận. Bởi vì điều đó
có ý nghĩa." Với hiểu biết như vậy, ông trong hài hoà với lí luận. Và bằng
việc chịu đựng bất công, ông đi vào Đạo.
Thứ hai, thích ứng với hoàn cảnh.
Là người hữu tử, chúng ta bị cai trị bởi hoàn cảnh, không bởi chúng ta. Tất cả
đau khổ và vui sướng chúng ta kinh nghiệm phụ thuộc vào hoàn cảnh. Nếu chúng ta
được ân huệ bởi một phần thưởng lớn lao nào đó, như danh vọng hay của cải, đấy
là kết quả của hạt mầm do chúng ta đã gieo trong quá khứ. Khi hoàn cảnh thay đổi,
nó chấm dứt. Tại sao thích thú trong sự tồn tại của nó? Nhưng khi thành công và
thất bại phụ thuộc vào hoàn cảnh, tâm trí không tròn không khuyết. Những người
vẫn còn thản nhiên trước làn gió vui vẻ im lặng đi theo Đạo.
Thứ ba, tìm cái không. Mọi người
của thế gian này đều ảo tưởng. Họ bao giờ cũng khao khát cái gì đó, nói cách
khác, bao giờ cũng trong tìm kiếm. Nhưng người trí huệ thức dậy. Họ chọn lí luận
thay cho thói quen. Họ tập trung tâm trí mình vào cái siêu phàm và để cho thân
thể họ thay đổi theo mùa. Mọi hiện tượng đều trống rỗng. Họ không chứa cái gì
đáng ham muốn. Tai hoạ mãi mãi thay đổi cùng thịnh vượng. Cư ngụ trong ba cõi
giới là cư ngụ trong nhà cháy. Có thân thể là khổ. Bất kì ai có thân thể có biết
tới an bình không?
Thứ tư, thực hành Pháp. Pháp
là chân lí rằng mọi bản tính đều thuần khiết. Theo chân lí này, mọi hình tướng
là trống rỗng. Ô uế và gắn bó, chủ thể và khách thể không tồn tại. Kinh nói,
"Pháp không chứa hiện hữu nào bởi vì nó là tự do khỏi cái không thuần khiết
của hiện hữu. Và Pháp không chứa cái ta, bởi vì nó là tự do khỏi cái không thuần
khiết của cái ta." Những người đủ trí huệ để tin và hiểu chân lí này nhất
định thực hành theo Pháp. Vì hiện thân của Pháp không chứa cái gì đáng thèm muốn,
họ đem thân thể, cuộc sống và tài sản của mình cho việc từ thiện, không tiếc nuối,
không kiêu căng tụ phụ là người cho, cái cho và người nhận, và không thiên vị
hay gắn bó. Và họ tiếp tục biến đổi người khác để xoá bỏ cái không thuần khiết
nhưng không trở nên bị gắn bó với hình dạng. Vậy, qua việc thực hành riêng của
mình, họ có khả năng giúp cho người khác và làm vinh quang Con đường của Chứng
ngộ. Và như với việc thiện, họ cũng thực hành các đức hạnh khác. Nhưng trong
khi thực hành sáu đức hạnh để xoá bỏ ảo tưởng, họ thực hành chỉ mỗi cái không.
Đây là điều được ngụ ý bởi thực hành Pháp. Những người hiểu điều này tách bản
thân mình khỏi tất cả những cái đang tồn tại và chấm dứt tưởng tượng hay tìm kiếm
bất kì cái gì. Kinh nói, "Tìm kiếm là khổ. Tìm cái không là phúc lạc."
Khi ông tìm cái không, ông đang trong Đạo."
Tôi có một góc rất dịu dàng
trong tim dành cho Bồ đề đạt ma. Điều đó làm cho nó thành cơ hội rất đặc biệt để
nói về ông ấy. Có lẽ ông ấy là người duy nhất tôi đã yêu mến sâu đậm đến mức
nói về ông ấy, tôi sẽ gần như nói về bản thân mình. Điều đó cũng tạo ra phức tạp
lớn, bởi vì ông ấy chưa bao giờ viết ra bất kì điều gì trong đời mình. Không
người chứng ngộ nào đã từng viết ra. Bồ đề đạt ma không phải là ngoại lệ, nhưng
theo truyền thống ba cuốn sách này mà chúng ta sẽ thảo luận tới đều được cho là
của Bồ đề đạt ma.
Các học giả lí luận rằng bởi
vì không có bằng chứng trái ngược - và trong gần một nghìn năm, những sách này
đã được cho là của Bồ đề đạt ma - chẳng có lí do gì tại sao chúng ta không chấp
nhận chúng. Tôi không phải là học giả, và chắc chắn có những đoạn phải được Bồ
đề đạt ma nói ra, nhưng đây không phải là sách do ông ấy viết ra. Đây là các
ghi chép của đệ tử ông ấy. Chính truyền thống cổ đại là khi một đệ tử ghi chép
từ thầy, người đó không đưa tên riêng của mình vào những ghi chép đó, bởi vì chẳng
có cái gì thuộc vào người đó cả; nó đã tới từ thầy.
Nhưng biết Bồ đề đạt ma thân
thiết như tôi biết ông ấy... Có biết bao nhiêu nguỵ biện trở thành có thể chỉ nếu
ai đó khác đã ghi chép và tâm trí riêng của người đó len vào; người đó đã diễn
giải Bồ đề đạt ma - và không mấy hiểu biết.
Trước khi chúng ta đi vào
trong những lời kinh này, biết thêm đôi điều về Bồ đề đạt ma cũng là tốt. Điều
đó sẽ cho bạn hương vị của con người này và cách thức để hiểu điều gì thuộc về
ông ấy trong những cuốn sách này và điều gì không thuộc về ông ấy. Đấy sẽ là việc
bình luận rất kì lạ.
Bồ đề đạt ma được sinh ra từ
mười bốn thế kỉ trước đây, là con của một ông vua ở miền nam Ấn Độ. Đã có một đế
quốc vĩ đại, đế quốc Pallavas. Ông ấy là con thứ ba, nhưng thấy mọi điều - ông ấy
là con người cực kì thông minh - ông ấy đã từ bỏ vương quốc. Ông ấy không chống
lại thế giới này, nhưng ông ấy đã không sẵn sàng bỏ phí thời gian của mình
trong những việc vặt vãnh, tầm thường. Toàn bộ mối quan tâm của ông ấy là để biết
tự tính mình, bởi vì không biết điều đó bạn phải chấp nhận cái chết là kết
thúc.
Mọi người tìm kiếm đúng đắn thực
ra đã từng tranh đấu chống lại cái chết. Bertrand Russell đã đưa ra câu phát biểu
rằng nếu không có cái chết, sẽ không có tôn giáo. Có chân lí nào đó trong nó.
Tôi sẽ không đồng ý toàn bộ, bởi vì tôn giáo là lục địa mênh mông. Nó không chỉ
là cái chết, nó cũng là tìm kiếm phúc lạc, nó cũng là tìm kiếm chân lí, nó cũng
còn là việc tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời; nó là nhiều thứ hơn. Nhưng chắc chắn
Bertrand Bussell là đúng: nếu như không có cái chết, rất ít, rất hiếm người sẽ
quan tâm tới tôn giáo. Cái chết là động cơ lớn lao.
Bồ đề đạt ma đã từ bỏ vương quốc
khi nói với bố mình, "Nếu bố không thể cứu con khỏi cái chết, thế thì xin
đừng ngăn cản con. Để con đi tìm cái gì đó ở bên ngoài cái chết." Đấy đã
là những ngày rất đẹp, đặc biệt ở phương Đông. Người bố nghĩ một lúc rồi ông ấy
nói, "Bố sẽ không ngăn cản con, bởi vì bố không thể ngăn cản được cái chết
của con. Con cứ đi tìm với mọi ân huệ của bố. Bố buồn nhưng đấy là vấn đề của bố;
đấy là gắn bó của bố. Bố đã hi vọng con là người kế tục, là hoàng đế của đế quốc
Pallavas vĩ đại, nhưng con đã chọn cái gì đó còn cao hơn điều đó. Bố là bố của
con cho nên làm sao bố có thể ngăn cản con được?
"Và con đã đặt ra một câu
hỏi theo cách đơn giản thế mà bố chưa bao giờ trông đợi. Con nói, 'Nếu bố có thể
ngăn cản được cái chết của con thế thì con sẽ không rời khỏi cung điện, nhưng nếu
bố không thể ngăn cản được cái chết của con, thế thì xin đừng ngăn cản
con.'" Bạn có thể thấy tầm vóc của Bồ đề đạt ma như một người thông minh
vĩ đại.
Và điều thứ hai tôi muốn bạn
nhớ tới là ở chỗ mặc dù ông ấy là tín đồ của Phật Gautam, trong hoàn cảnh nào
đó ông ấy biểu lộ tầm bay cao hơn bản thân Phật Gautam. Chẳng hạn, Phật Gautam
sợ điểm đạo cho đàn bà công xã các sannyasin của mình nhưng Bồ đề đạt ma đã nhận
điểm đạo từ một người đàn bà đã chứng ngộ. Tên của bà ấy là Pragyatara. Có lẽ mọi
người chắc sẽ quên mất tên bà ấy; chỉ bởi vì Bồ đề đạt ma mà tên của bà ấy còn
lại, nhưng chỉ cái tên - chúng ta không biết gì khác về bà ấy. Chính bà ấy đã
ra lệnh cho Bồ đề đạt ma sang Trung Quốc. Phật giáo đã tới Trung Quốc từ sáu
trăm năm trước Bồ đề đạt ma. Đấy là điều gì đó thần kì; điều chưa bao giờ đã xảy
ra ở bất kì đâu, vào bất kì thời đại nào - thông điệp của Phật lập tức được
toàn thể người Trung Quốc bắt giữ.
Tình huống là ở chỗ
Trung Quốc đã sống dưới ảnh hưởng
của Khổng Tử và đã mệt mỏi về nó. Bởi vì Khổng Tử chỉ là nhà đạo đức, khắt khe
về đạo đức, ông ấy chẳng biết gì về những bí ẩn bên trong của cuộc sống. Thực
ra, ông ấy phủ nhận rằng có cái gì đó bên trong. Mọi thứ đều ở bên ngoài; làm
tinh tế nó lên, đánh bóng nó, trau chuốt nó, làm cho nó đẹp nhất có thể được.
Đã có những người như Lão Tử,
Trang Tử, Liệt Tử, đương đại với Khổng Tử, nhưng họ là các nhà huyền môn chứ
không phải là thầy. Họ không thể tạo ra phong trào chống lại Khổng Tử ngay
trong trái tim của người Trung Quốc. Cho nên đã có chân không. Không ai có thể
sống mà không có linh hồn, và một khi bạn bắt đầu nghĩ rằng không có linh hồn,
cuộc sống của bạn bắt đầu mất đi mọi nghĩa. Linh hồn là chính khái niệm hoà hợp
của bạn; không có nó bạn bị cắt rời khỏi sự tồn tại và cuộc sống vĩnh hằng.
Cũng giống như cành bị chặt khỏi cây nhất định chết - nó đã mất cội nguồn nuôi
dưỡng - chính ý tưởng rằng không có linh hồn bên trong bạn, không tâm thức, đã
cắt rời bạn ra khỏi sự tồn tại. Người ta bắt đầu co lại, người ta bắt đầu cảm
thấy ngột ngạt.
Nhưng Khổng Tử là một người
duy lí rất vĩ đại. Những nhà huyền môn này, Lão Tử, Trang Tử, Liệt Tử, đều biết
rằng điều Khổng Tử đang làm là sai, nhưng họ không phải là thầy. Họ vẫn còn
trong tu viện của mình với vài đệ tử.
Khi Phật giáo vươn tới Trung
Quốc, nó lập tức đi vào chính linh hồn của mọi người... dường như họ đã từng
khát nước hàng thế kỉ, và Phật giáo đã tới như đám mây mưa. Nó làm dịu đi cơn
khát của họ, mênh mang đến mức cái gì đó không thể nào tưởng tượng nổi đã xảy
ra.
Ki tô giáo đã cải đạo nhiều
người, nhưng việc cải đạo đó không đáng gọi là tôn giáo. Nó cải đạo người
nghèo, người đói, kẻ ăn xin, con côi, không phải bởi bất kì ảnh hưởng tâm linh
nào lên họ mà chỉ bởi việc cho họ đồ ăn, quần áo, chỗ ở, giáo dục. Nhưng những
điều này chẳng liên quan gì tới tâm linh cả. Mô ha mét giáo đã cải đạo rất nhiều
người, nhưng trên đầu lưỡi kiếm: hoặc là bạn là người Mô ha mét giáo, hoặc bạn
không thể sống được. Chọn lựa là phần bạn.
Chuyển đổi đã xảy ra ở Trung
Quốc là chuyển đổi tôn giáo duy nhất trong toàn bộ lịch sử loài người. Phật
giáo đơn giản tự giải thích mình, và cái đẹp của thông điệp đó đã được mọi người
hiểu. Họ đã khát khao về nó, họ đã chờ đợi cái gì đó giống nó. Toàn bộ đất nước
này, nước lớn nhất trên thế giới, quay sang Phật giáo. Khi Bồ đề đạt ma tới đó
sáu trăm năm sau, đã có tới ba mươi nghìn ngôi chùa, tu viện Phật giáo và hai
triệu sư Phật giáo ở Trung Quốc. Và hai triệu nhà sư Phật giáo này không phải
là con số nhỏ đâu; nó chiếm năm phần trăm toàn thể dân số của Trung Quốc.
Pragyatara, thầy của Bồ đề đạt
ma, đã bảo ông ấy đi sang Trung Quốc bởi vì những người đã tới đó trước ông ấy
đã tạo nên tác động lớn, mặc dầu không người nào trong số họ đã chứng ngộ. Họ
là những học giả lớn, những người rất kỉ luật, rất đáng yêu và an bình và từ bi,
nhưng không người nào trong số họ đã chứng ngộ. Và bây giờ Trung Quốc cần một
Phật Gautam khác. Mảnh đất đã sẵn sàng.
Bồ đề đạt ma là người chứng ngộ
đầu tiên tới Trung Quốc. Điểm tôi muốn làm rõ ràng là ở chỗ trong khi Phật
Gautam sợ điểm đạo cho đàn bà vào công xã của mình, Bồ đề đạt ma đã đủ dũng cảm
để được điểm đạo bởi một đàn bà trên con đường của Phật Gautam. Đã có những người
chứng ngộ khác, nhưng ông ấy đã chọn một đàn bà với một mục đích nào đó. Và mục
đích đó là để chỉ ra rằng đàn bà có thể được chứng ngộ. Không chỉ có thế, đệ tử
của bà ấy có thể được chứng ngộ. Tên của Bồ đề đạt ma đứng thứ hai trong tất cả
những người đã chứng ngộ Phật giáo chỉ sau Phật Gautam.
Có nhiều truyền thuyết về con
người này; chúng tất cả đều có ý nghĩa nào đó. Truyền thuyết thứ nhất là: Khi tới
Trung Quốc - ông ấy đi mất ba năm - hoàng đế Vũ ra đón ông ấy. Danh tiếng của
ông ấy đã vang xa trước ông ấy. Lương Vũ Đế đã làm rất nhiều công quả theo triết
lí của Phật Gautam. Hàng nghìn học giả đã dịch kinh Phật từ tiếng Pali sang tiếng
Trung Quốc và hoàng đế là người bảo trợ cho tất cả công trình dịch thuật lớn
lao đó. Ông ấy đã làm hàng nghìn ngôi đền chùa và tu viện, và ông ấy đã nuôi dưỡng
hàng nghìn sư. Ông ấy đã đổ toàn thể kho báu của mình ra cho việc phụng sự Phật
Gautam, và một cách tự nhiên các sư Phật giáo, những người đã tới trước Bồ đề đạt
ma, đều đã nói với ông ấy rằng ông ấy thu được công đức lớn lao; rằng ông ấy sẽ
được sinh ra làm thần trên trời.
Một cách tự nhiên, câu hỏi đầu
tiên của ông ấy với Bồ đề đạt ma là, "Trẫm đã làm nhiều tu viện, trẫm đã
nuôi hàng nghìn học giả, trẫm đã mở cả trường đại học cho việc học tập về Phật Gautam,
trẫm đã để toàn bộ vương quốc của mình và kho báu của nó và việc phụng sự Phật
Gautam. Phần thưởng cho trẫm sẽ là gì?"
Hoàng đế có chút ít lúng túng
khi thấy Bồ đề đạt ma, không nghĩ rằng con người đó sẽ giống thế này. Ông ấy
trông rất dữ tợn. Ông ấy có đôi mắt rất to, nhưng ông ấy có trái tim rất dịu
dàng - hoa sen trong tim ông ấy. Nhưng khuôn mặt ông ấy thì dữ dằn như bạn có
thể hình dung. Chỉ thiếu kính râm; bằng không ông ấy đích thị là một tên mafia!
Với sợ hãi lớn lao, Lương Vũ Đế
hỏi câu hỏi ấy, và Bồ đề đạt ma nói, "Chẳng có gì cả, không có phần thưởng
đâu. Ngược lại là đằng khác, sẵn sàng xuống địa ngục thứ bẩy đi."
Hoàng đế nói, "Nhưng trẫm
có làm điều gì sai trái đâu - sao xuống địa ngục tầng thứ bẩy? Trẫm đã làm mọi
điều mà các sư Phật giáo đã bảo trẫm cơ mà."
Bồ đề đạt ma nói, "Chừng
nào ông còn chưa nghe thấy tiếng nói riêng của mình, không ai có thể giúp được
cho ông, dù là Phật tử hay không Phật tử. Và ông chưa nghe thấy tiếng nói bên
trong của mình rồi. Nếu ông đã nghe thấy nó, ông đã không hỏi câu hỏi ngu xuẩn
đến thế.
"Trên con đường của Phật
Gautam không có phần thưởng bởi vì chính ham muốn được phần thưởng tới từ tâm
trí tham lam. Toàn bộ giáo huấn của Phật Gautam là vô ham muốn và nếu ông đang
làm tất cả những cái gọi hành động đức hạnh này, dựng đền chùa và tu viện và
nuôi hàng nghìn sư, với một ham muốn trong tâm trí mình, ông đang chuẩn bị con
đường của mình xuống địa ngục rồi đó. Nếu ông làm những điều này từ niềm vui, để
chia sẻ niềm vui của ông với toàn bộ vương quốc, và thậm chí không có đến một
thoáng ham muốn ở bất kì đâu về bất kì phần thưởng gì, chính hành động đó là phần
thưởng lên chính nó. Bằng không ông đã bỏ lỡ toàn bộ vấn đề."
Lương Vũ Đế nói, "Tâm trí
trẫm đầy những ý nghĩ. Trẫm đã cố gắng tạo ra sự an bình nào đó của tâm trí,
nhưng trẫm đã không làm được và bởi vì những ý nghĩ này và sự ầm ĩ của chúng,
trẫm không thể nào hiểu được điều ông nói về tiếng nói bên trong. Trẫm không biết
gì về nó cả."
Bồ đề đạt ma nói, "Thế
thì, đến bốn giờ sáng, một mình không lính hộ vệ nào, đi tới ngôi đền trên núi
nơi ta đang ngụ ở đó. Và ta sẽ làm cho tâm trí ông an bình, mãi mãi."
Hoàng đế nghĩ con người này quả
thực kì dị, kì quái quá. Ông ta đã gặp nhiều sư; họ lễ phép thế; nhưng người
này thậm chí chẳng bận tâm rằng ông ta là hoàng đế của một nước lớn. Và đi tới
con người này trong bóng tối của sáng sớm vào lúc bốn giờ, một mình... Và người
này dường như dữ tợn - ông ta bao giờ cũng mang theo một cây thiền trượng lớn.
Cả đêm hoàng đế không thể nào
ngủ được, "Đi hay không đi? Vì người kia có thể làm bất kì điều gì. Ông ta
dường như tuyệt đối không đáng tin." Và mặt khác, hoàng đế cảm thấy sâu
trong tim mình sự chân thành của người này, rằng người đó không phải là kẻ đạo
đức giả. Ông ta chẳng để ý chút nào rằng mình là hoàng đế và ông ta là kẻ ăn
xin. Ông ta hành xử như một hoàng đế, và ngay trước ông ta mình hệt như kẻ ăn
xin. Và cách ông ta nói, "Ta sẽ làm cho tâm trí ông an bình mãi mãi."
"Kì lạ thật, bởi vì ta đã
hỏi," hoàng đế nghĩ, "biết bao nhiêu người trí huệ đã tới từ Ấn Độ,
và tất cả họ đều cho ta phương pháp, kĩ thuật, mà ta đã thực hành, nhưng chẳng
cái gì xảy ra cả - và anh chàng kì lạ này, người trông như điên khùng, hay say
khướt, và có khuôn mặt kì lạ với đôi mắt to thế tạo ra nỗi sợ... Nhưng ông ta
dường như chân thành nữa - ông ta là một hiện tượng hoang dại. Và cũng đáng để
mạo hiểm đấy. Ông ta có thể làm được gì - nhiều nhất thì ông ta có thể giết
mình." Cuối cùng, hoàng đế không cưỡng nổi cám dỗ bởi vì người này đã hứa.
"Ta sẽ làm cho tâm trí ông an bình mãi mãi."
Lương Vũ Đế tới ngôi đền lúc bốn
giờ, sớm trong buổi sáng khi trời vẫn tối, một mình, và Bồ đề đạt ma đã đứng đó
với cây thiền trượng của mình, ngay trên bậc, và ông ấy nói, "Ta biết ông
sẽ tới, mặc dầu cả đêm ông cứ tranh cãi liệu có đi hay không đi. Ông là loại
hoàng đế gì vậy - hèn nhát thế, sợ cả một sư nghèo, kẻ ăn xin nghèo chẳng có gì
trên thế giới này ngoại trừ cây thiền trượng. Và với cây thiền trượng này ta sẽ
làm cho tâm trí ông im lặng."
Hoàng đế nghĩ bụng, "Trời,
ai đã bao giờ nghe nói rằng bằng cây thiền trượng mà ông ta có thể làm cho tâm
trí ai đó thành im lặng được! Ông ta có thể kết thúc người đó, nện một cú mạnh
vào đầu người đó - thế thì cả con người này sẽ im lặng, không chỉ tâm trí.
Nhưng bây giờ quá trễ không quay lại được rồi."
Và Bồ đề đạt ma nói, "Ông
ngồi xuống đây trong sân đền này." Không có người nào ở quanh cả. "Nhắm
mắt lại, ta đang ngồi ngay trước ông với cây thiền trượng. Công việc của ông là
bắt giữ lại tâm trí. Nhắm mắt lại và đi vào trong tìm nó - chỗ nó ở. Khoảnh khắc
ông bắt giữ được nó, bảo cho ta, 'Nó đây rồi.' Và cây thiền trượng của ta sẽ
làm việc còn lại."
Đó là kinh nghiệm kì lạ nhất
mà bất kì người nào tìm kiếm chân lí hay an bình có thể đã có - nhưng bây giờ
không còn cách nào khác. Lương Vũ Đế ngồi đó với đôi mắt nhắm, hoàn toàn biết
rõ rằng Bồ đề đạt ma dường như ngụ ý mọi điều ông ấy nói. Hoàng đế nhìn khắp
xung quanh - không có tâm trí. Cây thiền trượng kia đã làm công việc của nó. Lần
đầu tiên hoàng đế trong tình huống như vậy. Chọn lựa... nếu bạn tìm thấy tâm
trí, người ta chẳng bao giờ biết con người này định làm gì với cây thiền trượng
cả. Và ở chỗ núi non im lặng đó, trong sự hiện diện của Bồ đề đạt ma, người có
duyên dáng của riêng mình... Đã có nhiều người chứng ngộ, nhưng Bồ đề đạt ma đứng
tách rời, một mình, như đỉnh Everest. Mọi hành động của ông ấy là duy nhất và độc
đáo. Mọi cử chỉ của ông ấy đều có chữ kí riêng của ông ấy; nó không được vay mượn.
Hoàng đế đã cố gắng vất vả để
tìm tâm trí, và lần đầu tiên ông ta không thể tìn thấy tâm trí. Đó là một chiến
lược nhỏ. Tâm trí tồn tại chỉ bởi vì bạn chưa bao giờ tìm nó; nó tồn tại chỉ bởi
vì bạn chưa bao giờ nhận biết về nó. Khi bạn tìm nó bạn nhận biết về nó, và nhận
biết chắc chắn giết chết nó hoàn toàn. Hàng giờ trôi qua và mặt trời đã lên
trong vùng núi non im lặng với làn gió mát. Bồ đề đạt ma có thể thấy trên khuôn
mặt của Lương Vũ Đế an bình thế, im lặng thế, tĩnh lặng thế cứ dường như hoàng
đế là pho tượng vậy. Ông ấy lay hoàng đế và hỏi, "Đã khá lâu rồi. Ông đã
tìm thấy tâm trí chưa?"
Lương Vũ Đế nói, "Chẳng cần
cây thiền trượng của ông, ông đã yên bình tâm trí ta hoàn toàn. Ta không có tâm
trí nào cả và ta đã nghe thấy tiếng nói bên trong về điều ông nói. Bây giờ ta
biết bất kì điều gì ông nói đều đúng. Ông đã làm biến đổi ta mà chẳng làm gì cả.
Bây giờ ta biết rằng từng hành động phải là phần thưởng cho chính nó; nếu
không, đừng làm nó. Ai có đó để trao cho ta phần thưởng? Đây là ý tưởng trẻ
con. Ai có đó trao cho ta trừng phạt? Hành động của ta là sự trừng phạt và hành
động của ta là phần thưởng của ta. Ta là chủ của định mệnh mình."
Bồ đề đạt ma nói, "Ông là
một đệ tử hiếm hoi. Ta yêu ông, ta kính trọng ông, không phải như một hoàng đế
mà như một người có dũng cảm chỉ trong mỗi việc ngồi để mang tới nhiều nhận biết,
nhiều ánh sáng đến mức mọi bóng tối của tâm trí biến mất."
Vũ cố gắng thuyết phục ông ấy
tới cung điện. Ông ấy nói, "Đấy không phải là cung điện của ta; ông có thể
thấy ta hoang dã, ta làm mọi thứ mà bản thân ta không biết trước. Ta sống từ
khoảnh khắc nọ sang khoảnh khắc kia một cách tự phát, ta là rất không dự đoán
được. Ta có thể tạo ra rắc rối không cần thiết cho ông, triều đình của ông, thần
dân của ông; ta không được ngụ ý dành cho cung điện, cứ để ta sống nơi hoang dã
của mình."
Ông ấy sống trên núi này, có
tên là Tai... Truyền thuyết thứ hai là ở chỗ Bồ đề đạt ma là người đầu tiên đã
tạo ra trà - tên 'trà' bắt ngồn từ tên tai, vì nó đã được tạo ra trên núi Tai.
Và mọi từ cho trà trong bất kì ngôn ngữ nào, đều được dẫn ra từ cùng nguồn gốc,
tai. Trong tiếng Anh nó là tea, trong tiếng Hindu nó là chai. Từ Trung quốc tai
cũng có thể được phát âm là cha. Từ Marathi đích xác là cha.
Cách thức Bồ đề đạt ma tạo ra
trà không thể có tính lịch sử được nhưng có ý nghĩa. Ông ấy đã thiền gần như mọi
lúc, và đôi khi trong đêm ông ấy bắt đầu rơi vào giấc ngủ. Cho nên, để không
rơi vào giấc ngủ, để dạy một bài học cho đôi mắt mình, ông ấy cắt tất cả lông
mày và ném chúng xuống đất đền. Chuyện kể rằng từ những lông mày đó, bụi trà mọc
lên. Đấy là những bụi trà đầu tiên. Đó là lí do tại sao khi bạn uống trà, bạn
không thể ngủ được. Và trong Phật giáo đã thành thường lệ là để thiền, trà có
ích mênh mông. Cho nên toàn bộ giới Phật tử uống trà như một phần của thiền, bởi
vì nó giữ cho bạn tỉnh táo và thức tỉnh.
Mặc dầu đã có hai triệu sư Phật
giáo ở Trung Quốc, Bồ đề đạt ma chỉ có thể tìm được bốn người xứng đáng được nhận
làm đệ tử của ông ấy. Ông ấy thực sự rất chọn lựa. Ông ấy phải mất gần chín năm
mới tìm ra đệ tử đầu tiên của mình, Huệ Khả (Hui Ko).
Trong chín năm - và đó là sự
kiện lịch sử, bởi vì có những tham khảo cổ đại nhất, gần như đương đại với Bồ đề
đạt ma mà tất cả đều nói tới sự kiện đó mặc dầu các tham khảo khác có thể không
được nhắc tới - trong chín năm, sau khi để Lương Vũ Đế về cung điện, ông ấy đã
ngồi đó trước bức tường ngôi đền, quay mặt vào tường. Ông ấy đã làm điều đó là
việc thiền vĩ đại. Ông ấy chỉ đơn giản cứ nhìn vào tường. Bây giờ, nhìn vào tường
trong thời gian dài, bạn không thể nghĩ được. Dần dần, cũng giống như bức tường,
màn ảnh tâm trí bạn cũng trở thành trống rỗng.
Và có lí do thứ hai. Ông ấy đã
tuyên bố, "Chừng nào chưa có ai đó xứng đáng là đệ tử của ta tới, ta sẽ
không nhìn vào người nghe."
Mọi người hay tới và họ sẽ ngồi
đằng sau ông ấy. Đó là tình huống kì lạ. Chẳng ai đã nói theo cách này; ông ấy
sẽ nói với bức tường. Mọi người sẽ ngồi sau ông ấy nhưng ông ấy không quay mặt
ra với người nghe, bởi vì ông ấy nói, "Người nghe làm ta bị tổn thương nhiều,
bởi vì họ giống như bức tường thôi. Chẳng ai hiểu cả, và nhìn vào con người
trong trạng thái dốt nát đó gây tổn thương sâu sắc. Nhưng nhìn vào bức tường,
chẳng có vấn đề gì cả; bức tường, sau hết chỉ là bức tường. Nó không thể nghe
thấy, cho nên không cần bị tổn thương. Ta sẽ quay mặt ra người nghe chỉ nếu ai
đó chứng tỏ bằng hành động của mình rằng người đó sẵn sàng là đệ tử của
ta."
Chín năm trôi qua. Mọi người
không thể tìm được cái gì phải làm - hành động nào sẽ thoả mãn ông ấy. Họ không
thể nào hình dung ra được điều đó. Thế rồi người thanh niên này tới, Huệ Khả.
Anh ta dùng kiếm chặt đứt một bàn tay mình, và ném bàn tay đó xuống trước Bồ đề
đạt ma và nói, "Đây mới là bắt đầu. Hoặc là thầy quay lại, hoặc là đầu con
sẽ rơi trước thầy. Con sắp chặt cả đầu mình nữa."
Bồ đề đạt ma quay lại và nói,
"Ông thực sự là người xứng đáng của ta. Không cần phải chặt đầu, chúng ta
phải dùng nó." Con người này, Huệ Khả, là đệ tử đầu tiên của ông ấy.
Cuối cùng, khi ông ấy rời khỏi
Trung Quốc, hay dự định rời khỏi Trung Quốc, ông ấy đã gọi bốn đệ tử của mình lại
- ba người nữa ông ấy đã thu nhận sau Huệ Khả. Ông ấy hỏi họ, "Bằng lời
đơn giản, trong câu ngắn ngủi, vắn tắt, nói lại cho ta tinh hoa trong giáo huấn
của ta. Ta dự định ra đi vào sáng mai để trở lại Himalayas, và ta muốn chọn
trong số các ông, một người làm người kế tục của ta."
Người thứ nhất nói, "Giáo
huấn của thầy vượt ra ngoài tâm trí, về tuyệt đối im lặng, và thế rồi mọi thứ bắt
đầu xảy ra theo cách riêng của nó."
Bồ đề đạt ma nói, "Ông
không sai, nhưng ông không thoả mãn ta. Ông có được da của ta."
Người thứ hai nói, "Biết
rằng mình không hiện hữu, và chỉ sự tồn tại hiện hữu, là giáo huấn cơ bản của
thầy."
Bồ đề đạt ma nói, "Có tốt
hơn chút ít, nhưng chưa tới chuẩn của ta. Ông được xương của ta, ngồi xuống."
Và người thứ ba nói, "Chẳng
cái gì có thể được nói về nó cả. Không lời nào có khả năng nói gì về nó được."
Bồ đề đạt ma nói, "Tốt,
nhưng ông đã nói điều gì đó về nó rồi. Ông đã tự mâu thuẫn. Ngồi xuống; ông được
tuỷ của ta."
Và người thứ tư là đệ tử thứ
nhất của ông ấy, Huệ Khả, người đơn giản quì xuống dưới chân Bồ đề đạt ma,
không nói một lời, nước mắt lăn ròng từ đôi mắt. Bồ đề đạt ma nói, "Ông đã
nói điều đó. Ông sẽ là người kế tục của ta."
Nhưng trong đêm đó Bồ đề đạt
ma đã bị đầu độc bởi một đệ tử nào đó xem như việc trả thù, bởi vì anh ta đã
không được chọn làm người kế tục. Thế là họ đem ông ấy đi chôn, và truyền thuyết
kì lạ nhất là ở chỗ ba năm sau một viên quan đã thấy ông ấy đang bước từ Trung
Quốc về hướng Himalaya với cây thiền trượng trong tay và một chiếc dép treo
trên cây thiền trượng - và ông ấy đi chân trần.
Viên quan này đã từng biết ông
ấy, đã từng tới ông ấy nhiều lần, đã yêu mến con người này, mặc dầu ông ấy có
chút ít lập dị. Ông này hỏi, "Cây thiền trượng này có ý nghĩa gì, và một
chiếc dép treo trên đó?" Bồ đề đạt ma nói, "Chẳng mấy chốc ông sẽ hiểu.
Nếu ông gặp người của tôi cứ bảo họ rằng tôi đi vào Himalayas mãi mãi."
Viên quan này lập tức đi ngay,
thật nhanh hết sức, về tu viện trên núi nơi Bồ đề đạt ma đã từng sống. Và tại
đó ông ấy được biết rằng Bồ đề đạt ma đã bị đầu độc và đã chết... và và có nấm
mồ. Viên quan này chưa từng biết về điều đó, bởi vì ông ấy đã bị chặn lại ở
biên thuỳ của vương quốc. Ông ta nói, "Trời, nhưng tôi đã gặp ông ấy mà,
và tôi không thể nào bị lừa được bởi vì tôi đã gặp ông ấy nhiều lần trước đây.
Ông ấy vẫn là con người ấy, vẫn cùng đôi mắt dữ dằn ấy, với cùng cái nhìn dữ tợn
và hoang dã ấy, và trên đỉnh thiền trượng ông ấy mang một chiếc dép."
Các đệ tử không thể đừng được
tò mò của mình, và họ đã mở mồ ra. Mọi điều họ có thể tìm thấy chỉ là một chiếc
dép. Và thế rồi viên quan đã hiểu ra tại sao ông ấy đã nói, “Ông sẽ tìm ra
nghĩa của điều đó; chẳng mấy chốc ông sẽ biết."
Chúng ta đã nghe quá nhiều về
phục sinh của Jesus. Nhưng chẳng ai nói mấy về phục sinh của Bồ đề đạt ma cả.
Có lẽ ông ấy chỉ bị ngất đi khi họ đem ông ấy đi chôn, và thế rồi ông ấy tỉnh lại,
trườn ra khỏi nấm mồ, bỏ một chiếc dép lại đó và đặt chiếc dép kia lên trên cây
thiền trượng, và theo kế hoạch, ông ấy ra đi.
Ông ấy muốn chết trong tuyết
vĩnh cửu của Himalayas. Ông ấy muốn rằng không có mồ mả, không đền đài, không
tượng về ông ấy. Ông ấy đã không muốn để lại bất kì dấu chân nào đằng sau mình
để được tôn thờ; những người yêu ông ấy nên đi vào trong bản thể của riêng mình
- "Ta không định để được tôn thờ." Và ông ấy đã biến mất gần như
trong thinh không. Không ai nghe nói gì về ông ấy cả - điều gì đã xảy ra, nơi
ông ấy đã chết. Ông ấy phải đã được chôn vùi trong tuyết vĩnh cửu của Himalayas
ở đâu đó.
Đây là con người đó, và đây là
ba tuyển tập nhỏ mà chúng ta đang nói như cả một cuốn sách. Đây không phải là
bài viết của ông ấy, bởi vì chúng không chứng tỏ bất kì phẩm chất nào của con
người này. Chúng là các bản ghi của các đệ tử học giả; do đó chúng nhất định có
những lỗi, những hiểu lầm, diễn giải sai nền tảng và bản chất. Họ không phải là
những người của vô trí. Tâm trí họ đang lấy lời ghi lại; tâm trí họ đang chọn lời.
Bồ đề đạt ma không phải là con
người của lời nói, ông ấy là con người của hành động. Không có khả năng nào về
việc ông ấy viết sách. Một người chưa bao giờ muốn được tôn thờ, một người chưa
bao giờ muốn để lại bất kì dấu chân nào sau mình để được mọi người theo, không
định viết ra sách, bởi vì đó là để lại dấu chân cho mọi người theo.
Nhưng tôi đã chọn nói về chúng
bởi vì ba tuyển tập nhỏ này là những bài viết duy nhất mà trong hàng thế kỉ đã
được mọi người tin là của Bồ đề đạt ma. Chúng chứa ở đây đó, mặc cho những người
đã viết lại ghi chú, điều gì đó của Bồ đề đạt ma - điều gì đó đã đi vào. Phân
biệt phần nào là của Bồ đề đạt ma và phần nào là của người ghi lại là một nhiệm
vụ khó khăn cho bất kì học giả nào. Nó không thành vấn đề với tôi.
Tôi biết từ kinh nghiệm riêng
của mình cái gì có thể là Bồ đề đạt ma tinh khôi, và cái gì có thể chỉ là tâm
trí của học giả diễn giải ông ấy. Cho nên đây không phải là những bình luận
thông thường. Theo một cách nào đó đây là nỗ lực đầu tiên về Bồ đề đạt ma để lọc
ra hạt mì từ rơm.
Câu thứ nhất: Nhiều con đường
dẫn tới Đạo. Điều này không thể do Bồ đề đạt ma nói ra được. Ông ấy không thể
thậm chí nói rằng ngay cả một con đường dẫn tới chân lí; toàn bộ cách tiếp cận
của ông ấy là ở chỗ bạn là chân lí rồi, bạn không phải đi đâu cả. Bạn phải dừng
việc đi, để cho bạn có thể vẫn còn ở nhà nơi chân lí hiện hữu. Vấn đề không phải
là đi theo một con đường; ngược lại vấn đề là không theo con đường nào cả,
không đi đâu cả, để cho bạn có thể ở đây - để cho bạn có thể ở bây giờ, chỉ bên
trong bản than bạn. Mọi con đường đều đẫn đi lạc lối, đó là cách tiếp cận của Bồ
đề đạt ma. Còn đây là cách tiếp cận học giả.
Nhiều con đường dẫn tới Đạo, về
cơ bản chỉ có hai con đường: lí luận và thực hành.
Không thể có chuyện Bồ đề đạt
ma nói điều đó được. Chắc chắn không phải là lí luận có thể đưa bạn tới thực tại
tối thượng của bản thể bạn. Lí luận là một phần của tâm trí. Và thậm chí còn
sai hơn nữa là con đường của thực hành. Điều đó nghĩa là nó phải được dựa trên
niềm tin và bạn phải thực hành và đặt kỉ luật lên bản thân mình theo nó. Bạn sẽ
trở thành kẻ bắt chước, nhưng bạn sẽ không có khả năng đi tới khuôn mặt nguyên
thuỷ của mình.
Không thực hành nào được cần tới.
Bạn đang thực sự ở nơi bạn cần hiện hữu. Chỉ có mỗi điều là bạn cứ đi mãi đi
mãi, lòng vòng lại lòng vòng, nhưng chẳng bao giờ lắng đọng vào bản thể riêng của
mình. Việc lắng đọng đó vào bản thể của bạn không bao giờ có nhiều con đường
hay hai con đường.
Đi vào bằng lí luận có nghĩa
là hiểu điều tinh tuý qua hướng dẫn...
Điều đó có nghĩa là thông tin
tới từ ai đó khác.
... và tin rằng mọi vật sống đều
có chung cùng bản tính đúng đắn ...
Bồ đề đạt ma không thể dùng từ
"tin" được. Ông ấy là người cuối cùng dùng từ tin, bởi vì niềm tin chỉ
tạo ra người mù quáng. Việc tin không bao giờ trở thành mắt bạn được; nó không
bao giờ đem tới ánh sáng cho bạn mà chỉ đem tới định kiến, ý kiến, ý thức hệ.
Nhưng chúng không phải là kinh nghiệm và Bồ đề đạt ma về nền tảng chỉ quan tâm
tới kinh nghiệm.
... điều không rõ ràng bởi vì
nó bị cảm giác và ảo tưởng che khuất.
Đây là những phát biểu tầm thường,
ở xa phía dưới phẩm chất phi thường của Bồ đề đạt ma.
Những người từ ảo tưởng quay về
với thực tại, người thiền với bức tường ... có lẽ đoạn nhỏ này ... Những người
từ ảo tưởng quay về với thực tại, người thiền với bức tường, thấy vắng bóng cái
ta và người khác, thấy cái một của người hữu tử và hiền nhân, và những người đó
vẫn còn thản nhiên, ngay cả với kinh sách, là trong hoà hợp đầy đủ và không nói
lên lời với lí luận.
Chỉ phần cuối của phát biểu
này là phải được thay đổi.
Thay vì "với lí luận"
nó phải là "với sự tồn tại".
Mẩu này tôi có thể nói với đảm
bảo tuyệt đối, là bắt nguồn từ Bồ đề đạt ma. Cố hiểu nó đi. Những người thiền với
bức tường có nghĩa là những người bắt đầu vứt bỏ ý nghĩ, vứt bỏ tâm trí, người
có màn ảnh của tâm trí trở thành giống như bức tường - không chuyển động, tĩnh
lặng thuần khiết. Họ đi tới hiểu thiếu vắng của cái ta, rằng không có bản ngã
bên trong bạn, rằng không có ai có thể, 'Tôi đây."
"Sự tồn tại có, tôi không
có."
Vô ngã là một trong những nền tảng
của Phật Gautam. Và Bồ đề đạt ma chắc chắn đồng ý với điều đó bởi vì điều đó là
chính nền tảng của toàn bộ cuộc cách mạng mà Phật Gautam đã tạo ra.
...cái một của người hữu tử và
hiền nhân... Điều đó thậm chí Phật Gautam cũng không thể nói được - chỉ Bồ đề đạt
ma, một người duy nhất trên toàn thế giới, trong toàn bộ lịch sử - nói rằng người
thường và hiền nhân là không khác nhau. Họ chỉ có cá tính, bề ngoài khác nhau,
nhưng trong phần bên trong nhất của tính chủ quan của của họ, họ là một. Tội
nhân và thánh nhân là một. Tội nhân đang chịu khổ một cách không cần thiết từ mặc
cảm còn thánh nhân đang chịu khổ một cách không cần thiết từ bản ngã, rằng
"Ta trong sạch hơn anh." Nhưng cả hai về cơ bản là một - vô ngã, chỉ
là cái không thuần khiết.
... và những người vẫn còn thản
nhiên, ngay cả với kinh sách... Bất kì điều gì kinh sách có thể nói đều không
thể nào thay đổi được những người này, những thiền nhân này, người đã đi tới biết cái không, người đã
đi tới biết cái vô ngã, người đã đi tới biết tâm thức thuần khiết không bị nhiễm
bẩn bởi bản ngã. Thậm chí nếu mọi kinh sách có nói điều này là không đúng, họ
cũng không bị lay động bởi điều đó. Không kinh sách nào có thể quấy rối được họ.
... là trong hoà hợp đầy đủ và
không nói lên lời với sự tồn tại, không với lí luận. Phần nhỏ của phát biểu này
không phải là từ Bồ đề đạt ma. Điều đó được người viết ra cuốn sách này thêm
vào.
Không di chuyển, không nỗ lực,
họ đi vào, chúng ta nói, bằng lí luận. Lại lần nữa, chắc chắn phát biểu này dường
như là từ Bồ đề đạt ma. Không di chuyển, bởi vì không có chỗ nào mà đi. Để tìm
ra bản thân mình bạn phải ở trong trạng thái im lặng không chuyển động. Không
chuyển động, và tất nhiên không nỗ lực nào bởi vì nỗ lực sẽ đem tới chuyển động.
Bạn đơn giản phải vô nỗ lực và không chuyển động và chỉ im lặng, dường như bạn
không hiện hữu. Họ đi vào trong chính tâm điểm của sự tồn tại.
Việc đi vào bằng thực hành nói
tới bốn thực hành bao hàm toàn bộ.
Tôi không cho rằng những phát
biểu này bắt nguồn từ Bồ đề đạt ma, mặc dầu chúng bắt nguồn từ kinh sách Phật
giáo. Cho nên chúng ta sẽ phải nhìn một chút vào chúng.
Chịu đựng bất công... Điều đó
bắt nguồn từ kinh sách Phật giáo. Điều đầu tiên Bồ đề đạt ma không thể nói
nhưng Phật Gautam có thể nói. Và nó là một phát biểu rất phức tạp: chịu đựng bất
công, thích ứng với hoàn cảnh... Nó có thể giúp cho người ta được bằng lòng
nhưng nó lấy đi tất cả tính chất nổi dậy từ ông ấy. Chịu đựng bất công phải được
nhìn từ cả hai phía. Một phía là chịu đựng bất công chỉ như một phần của luật
nghiệp: hành động ác trong kiếp sống quá khứ của bạn đã tạo ra nó; đấy là trừng
phạt - chịu đựng nó mà không phàn nàn, không nổi dậy. Điều đó chắc chắn sẽ tạo
ra hài lòng nông cạn nhưng nó sẽ phá huỷ cái gì đó rất đẹp - tính cá nhân của bạn.
Nó sẽ phá huỷ nổi dậy trong bạn; đấy là một loại tự tử của việc nổi dậy.
Điều này chắc chắn được Phật
Gautam dạy, và do đó tôi bao giờ cũng nói rằng trong cái nghèo nàn của Ấn Độ,
hai nghìn năm nô lệ, Phật Gautam đã góp tay vào. Khi bạn dạy cho mọi người chịu
đựng bất công mà không phàn nàn chống lại nó, và thích nghi với bất kì điều kiện
nào mà bạn thấy đang xảy ra quanh mình, chẳng hạn sự nô lệ - thích ứng với nó
đi... Ảnh hưởng của Phật Gautam là lớn lao. Nó đi sâu vào chính trái tim người Ấn
Độ và đó là nguyên nhân cho nghèo nàn của Ấn Độ, sự nô lệ lâu dài của Ấn Độ.
Không quốc gia nào đã sống đến hai nghìn năm trong nô lệ cả, và thậm chí ngày
nay khi cái gọi là tự do đã tới, tâm trí Ấn Độ vẫn cứ là nô lệ về mặt tâm lí.
Chẳng hạn khi Rabindranath
Tagore nhận giải thưởng Nobel cho cuốn thơ của ông ấy, Gitanjali, "Cúng dường
bài thơ", cuốn sách đã tồn tại hai mươi năm trong tiếng Bengali và Hindi.
Chẳng ai thậm chí bận tâm về nó. Nhưng khi nó được giải thưởng Nobel, khi nó đã
được dịch sang tiếng Anh, ngay lập tức Rabindranath Tagore trở thành nhân vật
thế giới. Ông ấy đã sống ở Calcutta và Đại học Calcutta muốn phong cho ông ấy bằng
tiến sĩ danh dự, nhưng ông ấy từ chối. Trong lời từ chối của mình ông ấy viết,
"Các ông không phong tiến sĩ cho tôi, các ông phong tiến sĩ cho giải thưởng
Nobel. Tâm trí các ông bị nô lệ thế. Cuốn sách của tôi đã tồn tại hai mươi năm
nay và bản dịch không hay bằng bản gốc". Bản dịch là tiếng vọng xa xăm, và
đúng là bản gốc có cái hay mà bản dịch không thể nào có được.
Thơ ca không thể nào được dịch
từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác; chỉ văn xuôi có thể được dịch, bởi vì mọi
ngôn ngữ có sắc thái riêng của nó và trong thơ ca những sắc thái đó giữ vai trò
chính đến mức bạn không thể nào chuyển chúng dễ dàng sang ngôn ngữ khác được.
Phật Gautam chắc chắn phải chịu
trách nhiệm cho cái nô lệ, cái nghèo nàn của Ấn Độ bởi việc đưa ra một giáo huấn
như thế về thích ứng với hoàn cảnh, rằng dù hoàn cảnh là bất kì cái gì - đấy là
định mệnh của chúng ta. Và thậm chí khi chịu đựng bất công bạn không được cổ vũ
cho phàn nàn. Điều này giết chết chính sự nổi dậy trong bản thể bạn và không có
nổi dậy bạn gần như chết.
Tính nổi dậy của bạn là chính
dòng chảy cuộc sống của bạn.
Tôi không thể nghĩ được rằng một
người như Bồ đề đạt ma, mãnh liệt thế trong phát biểu của ông ấy, có thể làm
cho hai điều này thành thực hành có ý nghĩa. Vâng điều thứ ba chắc chắn bắt nguồn
từ ông ấy:
Tìm cái không và thực hành
dharma. Bạn phải hiểu từ dharma - pháp. Nó đã không được dịch nhưng nó có thể
được dịch rất dễ dàng. Dharma có nghĩa là tự tính. Chẳng hạn, nóng là tự tính của
lửa; lạnh là tự tính của băng, tự tính. Tự tính của con người là gì? Vô ngã, im
lặng, và bỗng nhiên bùng phát từ bi. Điều này có thể được Bồ đề đạt ma nói, nó
phải đã được ông ấy nói ra. Và trước nó, đấy là điều kiện: tìm cái không. Mọi
việc tìm kiếm đều đưa bạn đi xa khỏi bản thân mình, cho nên không tìm kiếm là một
trong những điều tinh tuý của giáo huấn của Bồ đề đạt ma.
Đừng đi đâu cả. Kéo tất cả
năng lượng của bạn vào trong. Đóng mọi cánh hoa của bạn và chỉ ở trong. Và bạn
sẽ kinh nghiệm dharma là gì, tự tính là gì. Thế rồi thực hành nó. Thế rồi hành
động dường như bạn là không ai cả. Thế rồi hành động với từ bi lớn lao. Thế rồi
để cho toàn bộ cuộc đời bạn đơn giản là sự hiện diện, nhưng không là người bởi
vì không có cái ta bên trong bạn.
Trước hết, chịu đựng bất công.
Khi những người tìn kiếm Đạo gặp phải vận rủi, họ nên nghĩ về bản thân mình,
"Trong vô lượng năm trôi qua, mình đã đi từ điều tinh tuý tới cái tầm thường
và vẩn vơ qua đủ mọi cách thức của sự tồn tại, thường giận dữ không nguyên nhân
và mặc cảm về vô số tội lỗi. Bây giờ, mặc dầu mình không làm điều sai trái,
mình đang bị trừng phạt bởi quá khứ của mình."
Những lời này là từ người viết
ra các ghi chép.
"Không thần thánh cũng chẳng
người nào có thể thấy trước được khi nào một hành vi ác sẽ đem lại quả của nó.
Mình chấp nhận nó với một trái tim cởi mở và không phàn nàn về bất công."
Những lời này chắc chắn không
phải từ Bồ đề đạt ma.
Kinh nói, "Khi ông gặp vận
rủi, đừng nổi giận. Bởi vì điều đó có nghĩa." Với hiểu biết như vậy, ông
trong hài hoà với lí luận. Và bằng việc chịu đựng bất công, ông đi vào Đạo.
Không có dấu hiệu nào của Bồ đề
đạt ma trên những lời này.
Thứ hai, thích ứng với các
hoàn cảnh. Là người hữu tử, chúng ta bị cai quản bởi hoàn cảnh, không phải bởi
bản thân mình.
Lần nữa, điều đó không là từ Bồ
đề đạt ma. Bồ đề đạt ma không thể nói rằng chúng ta bị cai quản bởi hoàn cảnh
và không bởi bản thân mình. Ngay chỗ đầu tiên, chúng ta không có. Chúng ta chỉ
là cái không - thuần khiết, và ai có thể cai quản được cái không thuần khiết?
Như một con người, bạn có thể bị cai quản, nhưng như sự hiện diện bạn không thể
bị cai quản. Và làm hoàn cảnh thành quan trọng hơn bản thân bạn là lại hỗ trợ
cho các quyền lợi được đầu tư, kẻ bóc lột, kẻ ăn bám. Bồ đề đạt ma là một trong
những linh hồn nổi dậy vĩ đại nhất của thế giới.
Nếu chúng ta được ân huệ bởi một
phần thưởng lớn lao nào đó, như danh vọng hay của cải, đó là quả của hạt mầm do
chúng ta đã gieo trong quá khứ.
Lần nữa, đấy không phải là Bồ
đề đạt ma. Bồ đề đạt ma không tin vào quá khứ hay vào tương lai; tin cậy của
ông ấy chỉ là vào hiện tại. Và bất kì điều gì bạn làm, hậu quả của nó sẽ theo
sau hành động ngay lập tức giống hệt cái bóng theo sau bạn. Cái mang lại phần
thưởng là đức hạnh và cái đem tới đau khổ là tội lỗi. Ông ấy là người đơn giản;
ông ấy không phải là triết gia phức tạp và ông ấy không ủng hộ cho các quyền lợi
được đầu tư theo bất kì cách nào.
Khi hoàn cảnh thay đổi, nó chấm
dứt. Tại sao vui sướng trong sự tồn tại của nó? Nhưng khi thành công và thất bại
phụ thuộc vào hoàn cảnh, tâm trí không tròn không khuyết. Những người vẫn còn
thản nhiên trước làn gió niềm vui im lặng đi theo Đạo.
Có lẽ, tôi nói có lẽ những lời
này có thể là của Bồ đề đạt ma. Bạn không nên bị ảnh hưởng bởi cả thành công
hay thất bại. Chúng không nhiều hơn các giấc mơ, chúng tới và đi. Bạn nên vẫn
còn trong cái ta chứng kiến của mình. Những người vẫn còn thản nhiên trước làn
gió vui vẻ im lặng đi theo Đạo.
Thứ ba, tìm cái không. Mọi người
của thế gian này đều ảo tưởng. Họ bao giờ cũng khao khát cái gì đó, nói cách
khác, bao giờ cũng trong tìm kiếm. Nhưng người trí huệ thức dậy. Họ chọn lí luận
thay cho thói quen. Họ tập trung tâm trí mình vào cái siêu phàm và để cho thân
thể họ thay đổi theo mùa. Mọi hiện tượng đều trống rỗng. Họ không chứa cái gì
đáng ham muốn. Tai hoạ mãi mãi thay đổi cùng thịnh vượng. Cư ngụ trong ba cõi
giới là cư ngụ trong nhà cháy. Có thân thể là khổ. Bất kì ai có thân thể có biết
tới an bình không?
Trong đoạn này đôi điều chắc
chắn cho hương vị của Bồ đề đạt ma, nhưng đôi điều lại có vẻ không cùng phẩm chất.
Chẳng hạn, tìm cái không là Bồ đề đạt ma. Người trí huệ thức dậy... đây là Bồ đề
đạt ma. Họ chọn lí luận thay cho thói quen. Tôi muốn đổi từ lí luận thành thiền.
Họ chọn thiền thay cho thói quen. Họ chọn thông minh của riêng mình thay cho
thói quen và truyền thống.
Điều này chắc chắn không thể từ
Bồ đề đạt ma được. Họ tập trung tâm trí mình vào cái siêu phàm và để cho thân
thể họ thay đổi theo mùa. Người nói rằng tội nhân và thánh nhân là một, người
thường và hiền nhân không khác nhau, không thể đưa ra phát biểu này được - bởi
vì với người đó cái phàm tục và cái siêu phàm là không khác, chúng không thể
khác được.
Vâng, phát biểu này có thể được
xác nhận là của Bồ đề đạt ma: Mọi hiện tượng đều trống rỗng. Bất kì điều gì xảy
ra bên ngoài bạn trong cuộc sống chỉ là trống rỗng, trống rỗng như giấc mơ; nó
được tạo nên từ cùng chất liệu. Người trí huệ thức dậy và nhìn toàn thể cuộc đời
như một chuỗi dài các giấc mơ - lúc tốt, lúc xấu, lúc dịu ngọt, lúc ác mộng,
nhưng chúng tất cả đều mơ. Người đã thức tỉnh không mơ trong giấc ngủ không bị ảo
tưởng bởi các giấc mơ của thế giới bên ngoài trong khi người đó thức. Chúng
không chứa cái gì đáng ham muốn.
Tai hoạ mãi mãi thay đổi với
thịnh vượng. Cư ngụ trong ba cõi giới là cư ngụ trong ngôi nhà cháy. Ba cõi này
là về thân thể, về tâm trí và về trái tim. Việc đào sâu vào cái thứ tư, turiya,
là ở tại an bình với sự tồn tại.
Thứ tư, thực hành Pháp. Pháp
là chân lí rằng mọi bản tính đều thuần khiết. Theo chân lí này, mọi hình tướng
là trống rỗng. Ô uế và gắn bó, chủ thể và khách thể không tồn tại.
Điều này có thể được nói là
mang tính Bồ đề đạt ma thuần khiết.
Kinh nói, "Pháp không chứa
hiện hữu nào bởi vì nó là tự do khỏi cái không thuần khiết của hiện hữu. Và
Pháp không chứa cái ta, bởi vì nó là tự do khỏi cái không thuần khiết của cái
ta." Những người đủ trí huệ để tin và hiểu chân lí này nhất định thực hành
theo Pháp.
Đây là những phần thêm vào của
những người ghi chép.
Vì hiện
thân của Pháp
không chứa cái
gì đáng thèm muốn, họ đem thân thể, cuộc sống và tài
sản của mình cho việc từ thiện, không tiếc nuối, không kiêu căng tụ phụ là người
cho, cái cho và người nhận, và không thiên vị hay gắn bó. Và họ tiếp tục biến đổi
người khác để xoá bỏ cái không thuần khiết nhưng không trở nên bị gắn bó với
hình dạng. Vậy, qua việc thực hành riêng của mình, họ có khả năng giúp cho người
khác và làm vinh quang Con đường của Chứng ngộ. Và như với việc thiện, họ cũng
thực hành các đức hạnh khác. Nhưng trong khi thực hành sáu đức hạnh để xoá bỏ ảo
tưởng, họ thực hành chỉ mỗi cái không.
Mọi phát biểu phía trên câu
này không thể được nói một cách đích thực là từ Bồ đề đạt ma. Nhưng câu này, họ
thực hành chỉ mỗi cái không …
Những người đang thực hành tất
cả những điều này đã được ghi lại ở phần trước, là thực hành cái không, bởi vì
nếu thế giới này chỉ là một mảnh đất mơ, thế thì liệu bạn là kẻ cắp hay nhà từ
thiện vĩ đại đâu có gì khác biệt. Trong giấc mơ, nếu bạn là kẻ cắp hay nhà từ
thiện, điều đó có tạo ra khác biệt gì khi bạn thức dậy không? Bạn có cảm thấy
thoải mái là mình đã là nhà từ thiện vĩ đại như vậy không? Hay bạn sẽ cảm thấy
xấu hổ rằng trong mơ bạn đã là tên kẻ cắp? Cả hai đều là mơ, bong bóng xà
phòng; chúng chẳng có nghĩa gì.
Biết Bồ đề đạt ma, tôi có thể
nói đích xác cái gì là lời ông ấy. Họ thực hành chỉ mỗi cái không - những người
đang thực hành các điều nói trên... Đây là điều được ngụ ý bởi thực hành Pháp.
Bồ đề đạt ma đang nói: Biết điều
này - rằng bất kì cái gì ông đang thực hành đều là cái không - cái biết này, hiểu
biết này được gọi là thực hành pháp.
Những người hiểu điều này tách
bản thân mình khỏi tất cả những cái đang tồn tại và chấm dứt tưởng tượng hay
tìm kiếm bất kì cái gì. Kinh nói, "Tìm kiếm là khổ. Tìm cái không là phúc
lạc." Đây là Bồ đề đạt ma nguyên chất. Khi ông tìm cái không, ông đang
trong Đạo."
Cho nên đây sẽ là nỗ lực tiếp
tục để vạch ra lằn ranh, giữa cái đích xác là phát biểu của Bồ đề đạt ma và cái
là những phát biểu của người viết ra những cuốn sách này, những ghi chép này.
Nhưng tôi có thể nói ra điều đó với thẩm quyền, bởi vì đây là hiểu biết và kinh
nghiệm riêng của tôi nữa: tôi đồng ý với Bồ đề đạt ma trên từng và mọi điểm.
Nói cách khác, Bồ đề đạt ma đồng ý với tôi trên từng và mọi điểm.
Các học giả đã từng nói về những
cuốn sách này. Tôi không phải là học giả. Tôi là một Bồ đề đạt ma. Tôi sẽ nhận
ra đâu là phát biểu của tôi và đâu không phải là phát biểu của tôi.
Nắm được điều đó chứ? Được chứ,
Maneesha?
Vâng, thưa Osho.
Xem tiếp Chương 2 - Quay về Mục lục
