Osho kính yêu,
Thầy đã nói bản ngã có thể bị vứt bỏ ngay khoảnh khắc này.
Liệu bản ngã có thể bị vứt bỏ dần được không?
Vứt bỏ bao giờ cũng xảy ra
vào khoảnh khắc này và bao giờ cũng vào khoảnh khắc này. Không có quá trình dần
dần, tiệm tiến tới nó. Không thể có như vậy được. Điều xảy ra là tức khắc. Bạn
không thể dần sẵn sàng với nó, bạn không thể chuẩn bị cho nó, vì bất kì điều gì
bạn làm - và tôi nói bất kì điều gì - đều sẽ làm mạnh cho bản ngã. Mọi quá
trình dần dà đều sẽ là nỗ lực, cái gì đó được làm về phần của bạn. Cho nên bạn
sẽ mạnh hơn ngày một nhiều qua nó. Bạn sẽ trở nên mạnh hơn. Mọi thứ dần dần đều
giúp cho bản ngã. Chỉ cái gì đó tuyệt đối không dần dần, cái gì đó tựa bước
nhảy, không phải như quá trình, cái gì đó gián đoạn với quá khứ, không liên tục
với nó - chỉ thế thì bản ngã mới bị vứt bỏ.
Vấn đề nảy sinh bởi vì
chúng ta không thể hiểu được bản ngã này là gì. Bản ngã là quá khứ, là sự liên
tục, là tất cả những gì bạn đã làm, tất cả những gì bạn đã tích luỹ, tất cả nghiệp,
tất cả mọi ước định, tất cả các ham muốn, tất cả các mơ mộng của quá khứ. Toàn
bộ quá khứ đó là bản ngã. Và nếu bạn nghĩ theo kiểu quá trình dần dần, bạn đang
đem quá khứ vào. Vứt bỏ là không dần dần, là bất thần; nó là gián đoạn. Quá khứ
không còn nữa, tương lai không còn nữa. Bạn được bỏ lại một mình ở đây và bây
giờ. Thế thì bản ngã không thể tồn tại được.
Bản ngã chỉ có thể tồn tại
thông qua kí ức: bạn là ai, bạn từ đâu tới, bạn thuộc về ai, quốc gia, giống
nòi, tôn giáo, gia đình, truyền thống và mọi nỗi đau, vết thương, vui thích -
tất cả những gì xảy ra trong quá khứ. Tất cả những gì đã xảy ra đều là bản ngã.
Và bạn là người mà tất cả những điều này đã xảy ra. Phân biệt này phải được
hiểu: bạn là người mà tất cả mọi thứ đã xảy ra cho, còn bản ngã là cái đã xảy
ra. Bản ngã bao quanh bạn; bạn ở trung tâm, vô ngã.
Một đứa trẻ mới sinh ra
hoàn toàn tươi tắn và non trẻ - không quá khứ, không bản ngã. Đó là lí do tại
sao trẻ con lại đẹp đến thế. Chúng không có quá khứ nào; chúng trẻ trung và
tươi tắn. Chúng không thể nói tôi, bởi vì chúng đem cái tôi từ đâu đến được?
Cái tôi phải phát triển dần dần. Chúng sẽ nhận được giáo dưỡng, chúng sẽ được
thưởng, phạt, chúng sẽ được khen ngợi, bị chê bai - thế thì cái tôi sẽ tụ hội
lại.
Đứa trẻ đẹp bởi vì bản ngã
không có đó. Người già trở nên xấu xí, không phải bởi vì tuổi già mà vì quá
nhiều quá khứ, quá nhiều bản ngã. Người già cũng có thể lại trở nên đẹp đẽ,
thậm chí còn đẹp hơn cả trẻ thơ, nếu như người đó có thể vứt bỏ bản ngã. Thế
thì có tuổi thơ thứ hai, thế thì có tái sinh.
Đây cũng chính là ý nghĩa
về phục sinh của Jesus. Đó không phải là sự kiện lịch sử, đó là ngụ ngôn. Jesus
bị đóng đinh thế rồi ông ấy phục sinh. Người đã bị đóng đinh không còn nữa; đó
là đứa con của người thợ mộc, Jesus. Bây giờ Jesus đã chết, đã bị đóng đinh.
Một thực thể mới nảy sinh từ đó ra. Từ cái chết này một cuộc sống mới được sinh
ra. Đây là Christ - không phải là đứa con của người thợ mộc đặc biệt vùng
Bethlehem, không phải là người Do Thái, thậm chí không phải là một con người. Đây
là Christ, cái gì đó mới mẻ, vô ngã.
Và cùng điều đó sẽ xảy ra
cho bạn bất kì khi nào bản ngã bạn bị lên cây thập tự. Bất kì khi nào bản ngã
bạn bị đóng đinh, đều có phục sinh, tái sinh. Bạn được sinh ra lần nữa. Và tuổi
thơ này là vĩnh hằng, bởi vì đây là tái sinh của linh hồn, không phải là của
thân thể. Bây giờ bạn sẽ không bao giờ già nữa. Bạn bao giờ và bao giờ cũng
tươi tắn và trẻ trung - tươi tắn như giọt sương sớm, tươi sáng như ngôi sao đầu
tiên trong đêm. Bạn bao giờ cũng còn tươi tắn, trẻ trung, trẻ thơ, hồn nhiên -
bởi vì đây là phục sinh của linh hồn. Điều này bao giờ cũng xảy ra vào một
khoảnh khắc.
Bản ngã là thời gian - càng
nhiều thời gian, càng nhiều bản ngã. Bản ngã cần thời gian. Nếu bạn hiểu thấu
sâu sắc, bạn thậm chí còn có thể quan niệm rằng thời gian tồn tại chỉ bởi vì
bản ngã. Thời gian không phải là một phần của thế giới vật lí quanh bạn, nó là
một phần của thế giới tâm lí bên trong bạn, thế giới tâm trí. Thời gian tồn tại
giống như không gian cho bản ngã tiến hoá và trưởng thành. Cần phải có chỗ;
thời gian cung cấp chỗ.
Nếu người ta nói với bạn
rằng đây là khoảnh khắc cuối của cuộc đời bạn, khoảnh khắc tiếp bạn sắp bị bắn
chết, bỗng nhiên thời gian biến mất. Bạn cảm thấy rất khó chịu. Bạn vẫn sống,
nhưng bỗng nhiên bạn cảm thấy dường như bạn đang chết, và bạn không thể nghĩ
được phải làm gì nữa. Ngay cả nghĩ cũng trở thành điều khó khăn, bởi vì thậm
chí để nghĩ thời gian là cần có, tương lai là cần có. Không có ngày mai - thế
thì lấy đâu mà nghĩ, làm sao ham muốn, làm sao hi vọng? Không có thời gian.
Thời gian đã kết thúc.
Đau khổ tinh thần lớn nhất
có thể xảy đến cho một người là khi cái chết của người đó được ấn định mà người
đó không thể tránh được, đó là một điều chắc chắn. Một người bị kết án tử hình,
bị tù, đang đợi cái chết - người đó không thể làm được gì về điều đó, cái chết
đã được ấn định. Sau một thời kì nào đó người đó sẽ chết; bên kia thời gian đó
không có ngày mai cho người đó. Bây giờ người đó không thể ham muốn, người đó
không thể nghĩ, không thể phóng chiếu, thậm chí không thể mơ. Rào chắn luôn có
đó. Thế thì nhiều phiền não theo sau. Phiền não đó là dành cho bản ngã. Bởi vì
bản ngã không thể tồn tại không có thời gian - bản ngã thở trong thời gian,
thời gian là hơi thở cho bản ngã - càng nhiều thời gian, càng nhiều khả năng
cho bản ngã.
Tại phương Đông nhiều điều
đã được tiến hành, nhiều việc đã được làm để hiểu bản ngã, rất nhiều thăm dò đã
được tiến hành. Và một trong những phát kiến là ở chỗ chừng nào thời gian còn
chưa bị vứt bỏ khỏi bạn, bản ngã sẽ không bị vứt bỏ. Nếu ngày mai tồn tại, bản
ngã sẽ tồn tại. Nếu không có ngày mai, làm sao bạn có thể kéo tiếp bản ngã?
Điều này cũng tựa như việc kéo chiếc thuyền không có sông. Điều đó sẽ trở thành
gánh nặng. Sông được cần tới, thế thì thuyền mới có thể vận hành được.
Dòng sông thời gian là cần
cho bản ngã. Đó là lí do tại sao bản ngã bao giờ cũng nghĩ dưới dạng dần dần,
dưới dạng có mức độ. Bản ngã nói: tốt, chứng ngộ là điều có thể - nhưng cần
phải có thời gian, bởi vì bạn phải làm việc vì điều đó, phải chuẩn bị, phải sẵn
sàng. Đây là điều rất logic. Với mọi thứ thời gian đều cần. Nếu bạn gieo hạt,
thời gian là cần để cây mọc lên. Nếu đứa trẻ được sinh ra, nếu đứa trẻ được tạo
ra, thời gian là cần thiết. Bụng mẹ sẽ cần thời gian. Đứa trẻ sẽ phải trưởng
thành. Mọi thứ đều trưởng thành quanh bạn. Để trưởng thành, thời gian là cần
thiết, cho nên dường như logic là trưởng thành tâm linh cũng sẽ cần tới thời
gian.
Nhưng đây là vấn đề cần
hiểu: trưởng thành tâm linh không thực sự là trưởng thành như hạt mầm. Hạt mầm
phải lớn lên để trở thành cây. Giữa hạt mầm và cây là lỗ hổng. Lỗ hổng đó cần
phải được vượt qua, có khoảng cách. Bạn không trưởng thành như hạt mầm; bạn đã
là sự trưởng thành. Đó chỉ là sự bộc lộ. Không có khoảng cách giữa bạn như bạn
hiện hữu và bạn như bạn sẽ là. Không có khoảng cách nào cả! Cái lí tưởng, cái
hoàn hảo đều đã có đấy.
Cho nên vấn đề thực sự
không phải là ở trưởng thành mà chỉ là vấn đề về việc tháo bỏ lớp vỏ che dấu.
Đó là khám phá. Cái gì đó bị che dấu - bạn lột bỏ tấm màn và nó có ở đó. Hệt
như là bạn vẫn đang ngồi với đôi mắt nhắm: mặt trời vẫn đó trên đường chân trời
nhưng bạn đang trong bóng tối. Bỗng nhiên bạn mở mắt ra và đó là ban ngày, đó
là ánh sáng.
Trưởng thành tâm linh không
hẳn là trưởng thành. Từ này sai. Trưởng thành tâm linh là sự bộc lộ. Cái gì đó
bị che kín bỗng nhiên lộ ra. Cái gì đó vẫn có đó, bạn nhận ra là nó vẫn ở đó;
cái gì đó bạn chưa bao giờ bỏ lỡ, đơn giản quên lãng, bạn nhớ ra. Đó là lí do
tại sao các nhà huyền môn vẫn cứ dùng từ nhớ lại. Họ nói điều thiêng liêng không
phải là thành đạt, nó đơn giản là nhớ lại. Điều gì đó bạn đã quên, bạn nhớ lại.
Quả thực chẳng cần đến thời
gian. Nhưng tâm trí nói, bản ngã nói, mọi thứ đều cần tới thời gian, để mọi thứ
phát triển cần phải có thời gian. Và nếu bạn trở thành nạn nhân của suy nghĩ
logic này, thế thì bạn sẽ không bao giờ đạt được nó. Thế thì bạn sẽ cứ trì
hoãn. Bạn sẽ nói ngày mai rồi ngày mai và ngày mai, và nó sẽ chẳng bao giờ tới
vì ngày mai chẳng bao giờ tới.
Nếu bạn có thể hiểu được
điều tôi đang nói, rằng bản ngã có thể bị vứt bỏ ngay khoảnh khắc này, và nếu
điều đó là đúng thì vấn đề nảy sinh: tại sao không vứt bỏ nó? Tại sao bạn không
thể vứt bỏ được nó? Nếu không có vấn đề trưởng thành dần, thế thì tại sao bạn
lại không vứt bỏ nó? Bởi vì bạn không muốn vứt bỏ nó. Điều này sẽ gây chấn động
cho bạn, vì bạn cứ nghĩ rằng bạn muốn bỏ nó. Xét lại điều đó đi, nghĩ lại đi.
Bạn không muốn bỏ nó, do đó nó tiếp tục. Vấn đề không phải là thời gian. Bởi vì
bạn không muốn bỏ nó, chẳng cái gì có thể làm được cả.
Bí ẩn là cách thức của tâm
trí. Bạn nghĩ rằng bạn muốn vứt bỏ nó, và sâu bên dưới bạn không muốn vứt bỏ
nó. Bạn có thể muốn trau chuốt nó thêm chút nữa, bạn có thể muốn làm mịn nó
thêm chút nữa, nhưng bạn thực sự không muốn bỏ nó. Nếu bạn muốn bỏ nó, chẳng ai
ngăn cản bạn. Không rào chắn nào tồn tại cả. Chỉ muốn là nó có thể bị vứt bỏ.
Nhưng nếu bạn không muốn vứt bỏ nó, chẳng cái gì làm được cả. Cho dù có hàng
nghìn vị phật làm việc vì bạn thì cũng sẽ thất bại, bởi vì chẳng cái gì có thể
được làm từ bên ngoài.
Bạn đã suy nghĩ thực sự về
nó chưa, bạn đã bao giờ thiền về nó chưa, liệu bạn có muốn vứt bỏ nó không? Bạn
có thực sự muốn trở thành không là ai, cái không không? Ngay cả trong các phóng
chiếu tôn giáo của mình, bạn vẫn muốn là cái gì đó, bạn muốn đạt tới cái gì đó,
muốn tới đâu đó, là cái gì đó. Ngay cả khi bạn nghĩ về khiêm tốn, khiên nhường
của bạn, nhún nhường của bạn cũng chỉ là chỗ che giấu bí mật cho bản ngã chứ
không là gì khác.
Nhìn vào người vẫn được gọi
là khiêm tốn ấy. Họ nói họ khiêm tốn và họ cố gắng chứng tỏ rằng họ là người
khiêm tốn nhất trong thành phố, trong nơi cư ngụ của mình - người khiêm tốn
nhất. Và nếu bạn tranh cãi và nếu bạn nói: Không, ai đó khác khiêm tốn hơn ông,
họ sẽ cảm thấy bị tổn thương. Ai cảm thấy bị tổn thương?
Tôi vừa đọc về một vị thánh
Ki tô giáo. Hàng ngày ông ta nói với thượng đế trong lời cầu nguyện của mình:
Con là người độc ác nhất trên trái đất này, tội nhân lớn nhất. Dường như ông ta
là người rất khiêm tốn, nhưng ông ấy không phải vậy. Ông ta nói ông ta là tội
nhân lớn nhất trên trái đất, và cho dù nếu Thượng đế có tranh luận với ông ta
thì ông ta cũng cãi cho bằng được.
Mối quan tâm, mối quan tâm
sâu xa, là cái lớn nhất chứ không phải là tội nhân. Bạn có thể là tội nhân nếu
bạn được phép là tội nhân lớn nhất. Bạn có thể tận hưởng điều đó. Tội nhân lớn
nhất - thế thì bạn trở thành đỉnh. Đức hạnh hay tội lỗi chẳng quan trọng; bạn
phải là ai đó. Dù lí do cho điều đó là gì, bản ngã của bạn phải ở trên đỉnh.
Người ta đồn George Bernard
Shaw đã từng nói: Tôi thà làm người đầu tiên xuống địa ngục còn hơn làm người
thứ hai lên cõi trời. Địa ngục chẳng phải nơi tồi nếu bạn là người đầu tiên,
người tiên phong. Thậm chí cõi trời cũng có vẻ buồn tẻ nếu bạn phải đứng đâu đó
trong hàng đợi, là người không quan trọng. Và Bernard Shaw cũng phải. Đấy là
cách tâm trí con người vận hành.
Không ai muốn vứt bỏ bản
ngã. Nếu không, chẳng có vấn đề gì nữa cả - bạn có thể đơn giản vứt bỏ nó ngay
bây giờ. Và nếu bạn cảm thấy rằng thời gian là cần, thế thì thời gian chỉ cần
cho hiểu biết của bạn rằng bạn đang níu bám vào nó. Và khoảnh khắc bạn có thể
hiểu ra rằng đó là níu bám của mình, sự việc sẽ xảy ra.
Bạn có thể phải trải qua
nhiều kiếp sống để hiểu sự kiện đơn giản này. Bạn đã trải qua nhiều kiếp mà bạn
vẫn chưa hiểu được. Điều này có vẻ kì lạ. Có cái gì đó đang đè nặng lên bạn,
đem đến cho bạn khổ cực, khổ sở tiếp diễn, nhưng bạn vẫn níu bám nó. Dứt khoát
phải có lí do sâu sắc nào cho việc đó, một nguyên nhân bắt rễ rất sâu. Tôi muốn
nói về nó một chút. Bạn có thể trở nên nhận biết.
Cách thức tâm trí của con
người là nó bao giờ cũng chọn bận bịu hơn là rảnh rỗi. Cho dù bận bịu có đau
đớn, cho dù đó là sự chịu đựng, tâm trí vẫn chọn bận bịu hơn là rảnh rỗi - vì
với rảnh rỗi bạn bắt đầu cảm thấy bạn đang tan biến.
Các nhà tâm lí nói rằng khi
người ta về hưu khỏi công việc của mình, dịch vụ hay kinh doanh, họ chết sớm.
Cuộc sống của họ bị rút ngắn ngay lập tức gần mười năm. Trước cái chết của họ,
họ đã bắt đầu chết. Không còn bận bịu gì nữa, họ rảnh rỗi. Khi bạn rảnh rỗi,
bạn bắt đầu cảm thấy vô nghĩa, vô tích sự. Bạn bắt đầu cảm thấy rằng bạn không
được cần tới nữa, rằng không có bạn thế giới vẫn tiếp diễn thoải mái. Khi bạn
bận bịu bạn cảm thấy rằng thế giới không thể tiếp tục nếu thiếu bạn, rằng bạn
là phần rất cơ bản của nó, phần rất có ý nghĩa - không có bạn mọi thứ sẽ dừng
lại.
Nếu bạn rảnh rỗi, bỗng
nhiên bạn trở nên nhận ra rằng không có bạn thế giới vẫn cứ đẹp đẽ. Chẳng có gì
thay đổi cả. Bạn đã bị thải bỏ. Bạn bị vứt vào đống đồng nát. Bạn không được
cần tới nữa. Khoảnh khắc bạn cảm thấy bạn không được cần tới nữa, bản ngã trở
nên khó chịu - bởi vì nó tồn tại chỉ khi bạn được cần tới. Cho nên tất cả xung
quanh bản ngã cứ áp đặt thái độ này lên mọi người: bạn phải có, bạn là cần
thiết; không có bạn không gì có thể xảy ra, không có bạn thế giới sẽ tan biến.
Được rảnh rỗi, bạn nhận ra
rằng trò chơi vẫn tiếp tục. Bạn không phải là phần chủ yếu. Bạn có thể bị vứt
bỏ dễ dàng. Chẳng ai sẽ bận tâm về bạn, chẳng ai sẽ nghĩ đến bạn. Thay vì thế,
họ có thể còn cảm thấy nhẹ nhõm. Điều đó làm tan nát bản ngã. Cho nên mọi người
muốn bận bịu - về cái này hay cái khác, nhưng họ phải duy trì bận bịu. Họ phải
tiếp tục ảo tưởng rằng họ là cần thiết.
Thiền là trạng thái rảnh
rỗi của tâm trí. Nó là nghỉ ngơi sâu lắng. Đấy không phải là nghỉ ngơi giả tạo
tựa như đi lên Himalaya. Điều đó có thể không phải là nghỉ ngơi chút nào, bởi
vì lần nữa bạn lại có thể trở nên bận tâm trên Himalaya. Bạn có thể bịa ra
những chuyện tưởng tượng ở đó rằng bạn đang cứu cả thế giới. Ngồi trên Himalaya
thiền, bạn đang cứu cả thế giới khỏi cuộc chiến thứ ba; hay bởi vì bạn đang tạo
ra những rung động mà thế giới đang tiến tới điều không tưởng, trạng thái thanh
bình của xã hội. Và bạn có thể tận hưởng bận bịu này ở đó. Không ai định tranh
cãi vì bạn chỉ có một mình. Không ai định tranh luận sự kiện là bạn đang trong
ảo tưởng hay trong trạng thái ảo giác. Bạn có thể thực sự tham dự vào đó. Bản
ngã sẽ tự khẳng định lại nó theo một cách tinh tế mới.
Thiền không phải là nghỉ
ngơi nông cạn. Đó là nghỉ ngơi thực sự, thân mật, sâu lắng, rút lui - rút lui
khỏi bận tâm. Không phải là bạn sẽ không còn bận bịu nữa; bạn vẫn có thể tiếp
tục bất cứ cái gì bạn đang làm, nhưng bạn rút chính mình và rút đầu tư của mình
vào bận rộn. Bây giờ bạn bắt đầu cảm thấy rằng khát khao thường xuyên này về
việc được cần tới là điên rồ, ngu xuẩn. Thế giới có thể tiếp tục hoàn toàn tốt
mà không có bạn. Và chẳng có gì buồn phiền trong nó cả. Nó vẫn tốt đẹp. Cho đến
chừng ấy mọi việc vẫn tốt lành... thế giới có thể tiếp tục không cần có bạn.
Điều này có thể trở thành một thứ tự do nếu bạn hiểu ra. Nếu bạn không hiểu thế
thì bạn sẽ cảm thấy mình bị tan nát.
Cho nên mọi người tiếp tục
phải bận bịu, và bản ngã đem cho họ bận tâm lớn nhất. Cả hai mươi bốn giờ bản ngã
đều đem lại cho họ bận tâm. Họ đang nghĩ cách trở thành nghị viên, họ đang nghĩ
cách trở thành thứ trưởng, rồi bộ trưởng, rồi thủ tướng, làm sao trở thành tổng
thống. Bản ngã cứ tiếp tục như thế mãi. Nó cho bạn bận tâm thường xuyên - làm
sao được giầu hơn nữa, làm sao tạo ra cả vương quốc. Bản ngã cho bạn mơ mộng,
bận tâm bên trong liên tục, và bạn cảm thấy nhiều thứ đang tiếp diễn. Được rảnh
rỗi thốt nhiên bạn trở nên nhận thấy cái trống rỗng bên trong. Những mơ mộng
này rót đầy cái trống rỗng bên trong đó.
Bây giờ các nhà tâm lí học
nói rằng một người có thể sống không ăn gì trong ít nhất chín mươi ngày, nhưng
người đó không thể sống mà không mơ trong chín mươi ngày. Người đó sẽ phát điên
mất. Nếu mơ mà không được phép trong vòng ba tuần, bạn sẽ phát điên. Không ăn
gì, ba tuần không làm hại bạn - thậm chí nó còn có thể tốt cho sức khoẻ bạn. Ba
tuần không ăn, nhịn ăn tốt sẽ làm hồi phục lại toàn bộ hệ thống của bạn, bạn sẽ
sinh động và trẻ trung hơn. Nhưng ba tuần không mơ... bạn sẽ phát điên.
Mơ phải đáp ứng cho một nhu
cầu bắt rễ sâu xa nào đó. Nhu cầu là ở chỗ nó cho bạn bận tâm; không có bận tâm
thực, nó chỉ cho bạn bận tâm thế thôi. Bạn có thể ngồi đó mà mơ và làm bất cứ
cái gì bạn muốn, rồi toàn bộ thế giới sẽ dịch chuyển theo bạn - ít nhất là trong
mơ của bạn. Chẳng ai gây ra vấn đề gì. Bạn có thể giết bất kì ai, bạn có thể ám
sát. Bạn có thể thay đổi tuỳ thích. Bạn là chủ ở đó mà.
Bản ngã cảm thấy có sức
sống nhất trong khi mơ, bởi vì không ai có thể chống bạn, ai dám nói: Không,
điều này sai. Bạn là toàn bộ và duy nhất. Bất kì điều gì bạn muốn bạn đều tạo
ra. Bất kì điều gì bạn không muốn bạn đều phá bỏ đi. Bạn là tuyệt đối mạnh mẽ.
Bạn là đấng toàn năng trong mơ của mình.
Mơ chỉ dừng lại khi bản ngã
bị vứt bỏ. Cho nên đây là một dấu hiệu, thực sự; trong kinh sách yoga cổ xưa
đây là dấu hiệu về một người đã trở thành chứng ngộ. Người đó không thể mơ.
Việc mơ chấm dứt vì không có nhu cầu. Đấy là nhu cầu của bản ngã. Bạn muốn được
bận tâm. Đó là lí do tại sao bạn không thể vứt bỏ được bản ngã.
Chừng nào bạn còn chưa sẵn
sàng là trống rỗng, rảnh rỗi, chừng nào bạn còn chưa sẵn sàng là không ai cả,
chừng nào bạn còn chưa sẵn sàng tận hưởng và mở hội cuộc sống, cả khi bạn không
còn cần thiết nữa, chừng ấy bản ngã không thể bị vứt bỏ. Bạn có nhu cầu được cần
tới. Ai đó phải cần bạn - thế thì bạn cảm thấy thoải mái. Nếu càng nhiều người
cần bạn, bạn càng cảm thấy tốt hơn. Đó là lí do tại sao người ta lại thích làm
lãnh đạo đến thế, bởi vì nhiều người thế cần đến bạn. Nhà lãnh đạo có thể trở
thành rất khiêm tốn. Không cần phải khẳng định về bản ngã của người đó nữa; bản
ngã của người đó đã được đáp ứng sâu sắc bởi vì bao nhiêu người cần tới người
đó, bao nhiêu người phụ thuộc vào người đó. Người đó đã trở thành cuộc sống của
biết bao người, cho nên người đó có thể khiêm tốn, người đó có thể đảm đương
được việc khiêm tốn.
Bạn phải nhớ sự kiện này,
rằng người khẳng định bản ngã của mình quá nhiều, bao giờ cũng là người không
thể ảnh hưởng được tới người khác. Thế thì họ trở thành hay khẳng định bởi vì
đó là cách duy nhất để nói: Tôi là ai đó. Nếu họ có thể ảnh hưởng tới người
khác, nếu họ có thể thuyết phục, họ sẽ chẳng bao giờ khẳng định cả. Họ sẽ rất
khiêm tốn, ít nhất cũng gần như vậy. Họ sẽ không tỏ ra bản ngã, bởi vì theo một
cách rất tinh tế, bao nhiêu người đã phụ thuộc vào họ - họ đã trở thành có ý
nghĩa, cuộc đời của họ dường như có ý nghĩa cho họ. Nếu bản ngã của bạn là ý
nghĩa của bạn, nếu bản ngã của bạn là có ý nghĩa cho bạn, làm sao bạn có thể
vứt bỏ nó được?
Nghe tôi bạn bắt đầu nghĩ
tới vứt bỏ nó. Nhưng mới chỉ nghĩ thôi, bạn không thể vứt bỏ được bản ngã. Bạn
phải đi đến hiểu được tận gốc rễ - nó là ở đâu, nó tồn tại chỗ nào, tại sao nó
tồn tại. Đây là những lực vô thức làm việc bên trong bạn mà không có tri thức
của bạn. Chúng phải được làm thành có ý thức. Bạn phải đem tất cả gốc rễ đó của
bản ngã mình lên khỏi mặt đất để cho bạn có thể nhìn và thấy được.
Nếu bạn có thể vẫn rảnh
rỗi, nếu bạn có thể vẫn còn được thoả mãn không có việc được cần tới, bản ngã
có thể được vứt bỏ ngay khoảnh khắc này. Nhưng những cái nếu này lại lớn. Thiền
sẽ chuẩn bị cho bạn về những cái nếu lớn đó. Điều xảy ra sẽ xảy ra trong khoảnh
khắc, nhưng hiểu biết cần có thời gian. Cũng giống như khi bạn đun nước. Nước
cứ nóng dần, nóng dần; rồi đến một độ đặc biệt, đến một trăm độ, nó bắt đầu bay
hơi. Việc bay hơi xảy ra trong khoảnh khắc. Nó không phải là dần dần, nó là đột
nhiên. Từ nước thành hơi nước có bước nhảy. Đột nhiên nước biến mất, nhưng thời
gian có can dự vào bởi vì nước phải được đun nóng đến điểm sôi. Việc bốc hơi xảy
ra đột nhiên, nhưng việc đun nóng cần thời gian. Hiểu biết cũng tựa như đun
nóng. Nó cần thời gian. Vứt bỏ bản ngã xảy ra tựa như bốc hơi. Nó xảy ra bất
thình lình.
Cho nên đừng cố vứt bỏ bản
ngã. Thay vì thế, cố làm sâu sắc thêm hiểu biết của bạn. Đừng cố làm cho nước
biến thành hơi. Cứ đun nó. Điều thứ hai sẽ tự động theo sau, nó sẽ xảy ra.
Trưởng thành trong hiểu
biết đi. Làm cho việc này thêm mãnh liệt, thêm tập trung. Đem tất cả năng lực
của bạn để hiểu hiện tượng bản thể bạn, bản ngã bạn, tâm trí bạn, vô thức bạn.
Ngày càng trở nên tỉnh táo, và bất kì điều gì xảy ra, làm cho nó thành một điểm
để cố gắng hiểu nó. Ai đó xúc phạm bạn và bạn cảm thấy giận dữ. Đừng bỏ lỡ cơ
hội này; cố gắng hiểu tại sao, tại sao lại có giận dữ này. Và đừng làm nó thành
vấn đề triết học. Đừng tới thư viện tra cứu về giận dữ. Giận dữ đang xảy ra cho
bạn - nó là một kinh nghiệm, một kinh nghiệm sống. Tập trung toàn bộ chú ý của
bạn vào nó và cố gắng hiểu tại sao nó đang xảy ra cho bạn. Nó không phải là vấn
đề triết học; bạn không thể tư vấn bất kì Freud nào về điều đó. Không cần! Thật
là ngu xuẩn mà đi hỏi ai đó khác trong khi giận dữ đang xảy ra cho bạn. Bạn có
thể chạm nó, bạn có thể nếm nó. Bạn sẽ bị nó thiêu đốt.
Thử hiểu xem tại sao nó lại
xảy ra, nó đến từ đâu, gốc rễ của nó ở đâu, nó xảy ra như thế nào, nó vận hành
ra sao, nó áp đảo bạn ra sao, trong cơn giận dữ bạn phát khùng thế nào. Giận dữ
đã xảy ra trước đó, nó đang xảy ra bây giờ; nhưng bây giờ thêm vào nó một phần
tử mới, phần tử của hiểu biết - và thế thì chất sẽ đổi. Thế thì, dần dần bạn sẽ
thấy rằng bạn càng hiểu nhiều về giận, nó lại càng ít xảy ra. Và khi bạn hiểu
hoàn toàn nó, nó sẽ biến mất. Hiểu biết cũng tựa như đun nóng. Khi đun nóng tới
một điểm đặc biệt - một trăm độ - nước biến mất. Dục có đó - cố hiểu nó. Càng
có nhiều hiểu biết, bạn càng ít dục hơn. Và thời điểm sẽ đến khi hiểu biết được
hoàn hảo - dục biến mất.
Đây là tiêu chuẩn của tôi:
bất kì hiện tượng năng lượng bên trong nào, nếu nó biến mất qua hiểu biết, đó
là tội lỗi; nếu nó trở nên sâu sắc hơn qua hiểu biết, đó là đức hạnh. Bạn càng
hiểu nhiều, cái sai quấy càng biến đi và cái đúng phải càng trở thành bắt rễ
chắc chắn hơn. Dục sẽ biến đi và tình yêu sẽ sâu sắc hơn. Giận dữ sẽ biến đi và
từ bi sẽ sâu sắc hơn. Tham lam sẽ biến đi, chia sẻ sẽ sâu sắc hơn.
Cho nên bất kì cái gì biến
đi qua hiểu biết đều là trái; bất kì cái gì trở nên bắt rễ chắc chắn hơn đều là
phải. Và đây là cách tôi xác định thiện và ác, đức hạnh và tội lỗi - punya và
paap. Thánh nhân là người của hiểu biết, không gì khác. Tội nhân là người không
hiểu biết, có thế thôi. Giữa thánh nhân và tội nhân sự phân biệt không phải là
tội lỗi hay điều thánh thiện, đó là ở hiểu biết.
Hiểu biết vận hành tựa như
quá trình đun nóng. Một khoảnh khắc sẽ tới, một thời điểm đúng, khi việc đun nóng
đã tới điểm sôi. Đột nhiên bản ngã bị vứt bỏ. Bạn không thể vứt bỏ nó một cách
trực tiếp - bạn có thể chuẩn bị cho tình huống này để nó xảy ra. Tình huống này
cần có thời gian.
Bao giờ cũng tồn tại hai
trường phái. Một trường phái về đốn ngộ, nói rằng chứng ngộ xảy ra bất thần;
không có trung gian. Trường phái kia, mâu thuẫn hẳn với trường phái đầu, là
tiệm ngộ. Nó nói rằng chứng ngộ đến dần, chẳng có gì xảy ra bất thần cả. Và cả
hai đều phải, bởi vì cả hai đều chọn một phần của hiện tượng này.
Trường phái tiệm ngộ đã
chọn phần đầu, phần hiểu biết. Họ nói phải thông qua thời gian, hiểu biết sẽ
tới qua thời gian - và họ phải. Họ nói bạn không nên lo nghĩ về sự đột nhiên;
bạn đơn giản tuân theo quá trình này, và nếu nước được đun nóng đúng độ nó sẽ
bay hơi. Bạn không cần phải bận tâm tới việc bay hơi; bạn đơn giản để cho nó
hoàn toàn ra ngoài tâm trí bạn. Bạn đơn giản đun nóng nước.
Trường phái kia, hoàn toàn
đối lập, nói chứng ngộ là bất thần, đã chọn phần cuối. Họ nói rằng điều đầu
không phải thật là bản chất: điều thực sự là ở chỗ sự bùng nổ đó xảy ra trong
lỗ hổng vô thời gian. Điều đầu chỉ là ngoại vi. Điều thực sự, điều thứ hai, mới
là trung tâm.
Nhưng tôi bảo bạn cả hai
đều phải. Chứng ngộ xảy ra bất thần, nó bao giờ cũng xảy ra bất thần, nhưng
hiểu biết cần thời gian. Cả hai đều phải và cả hai cũng đều có thể bị diễn giải
sai. Bạn có thể thủ đoạn với chính mình, bạn có thể tự đánh lừa mình. Nếu bạn
không muốn làm gì, điều hay hơn cả là tin vào đốn ngộ. Thế thì bạn nói: Chẳng
cần phải làm gì cả. Nếu nó xảy ra bất thần, nó sẽ xảy ra bất thần - tôi có thể
làm gì được? Tôi có thể đơn giản đợi. Đó có thể là tự lừa dối. Bởi điều này,
đặc biệt ở Nhật Bản, tôn giáo đơn giản biến mất.
Nhật Bản có truyền thống
lâu dài về đốn ngộ. Thiền nói chứng ngộ là bất thần. Bởi vì điều này, toàn bộ
đất nước trở thành phi tôn giáo. Dần dần, mọi người đi đến tin rằng đốn ngộ là
khả năng duy nhất. Chẳng cái gì có thể được làm về nó cả - bất kì khi nào nó
định xảy ra, nó sẽ xảy ra. Nếu nó định xảy ra, nó sẽ xảy ra. Nếu nó không định
xảy ra, nó sẽ không xảy ra, và chúng ta không thể làm gì được cả, vậy thì sao
phải bận tâm?
Tại phương Đông, Nhật Bản
là nước duy vật nhất. Tại phương Đông, Nhật Bản tồn tại như một phần của phương
Tây. Điều này cũng kì lạ vì Nhật Bản có một trong những truyền thống đẹp đẽ
nhất về dhyana, ch'an - thiền. Tại sao nó đã biến mất? Nó biến mất bởi vì khái
niệm này về đốn ngộ. Mọi người bắt đầu tự lừa dối mình. Tại Ấn Độ một hiện
tượng khác đã xảy ra... và đó là lí do tại sao tôi cứ nói đi nói lại mãi rằng tâm
trí con người lừa dối và tinh ranh thế. Bạn phải thường xuyên tỉnh táo, nếu
không bạn sẽ bị lừa.
Ở Ấn Độ chúng ta có một
truyền thống khác, truyền thống về tiệm ngộ. Đó chính là điều yoga có ý nghĩa
gì. Bạn phải làm việc vì nó, làm việc vất vả qua nhiều kiếp. Kỉ luật là cần
thiết, làm việc là cần thiết, và chừng nào bạn còn chưa làm việc thật vất vả,
bạn sẽ không đạt được nó. Cho nên đó là một quá trình dài, một quá trình rất
dài - dài đến độ người Ấn Độ nói một kiếp sống chưa đủ, bạn sẽ cần tới nhiều kiếp
sống. Không có gì sai với điều này. Chừng nào còn có liên quan tới hiểu biết,
điều đó là đúng. Nhưng thế rồi Ấn Độ tin rằng nếu nó kéo dài như vậy, chẳng cần
gì phải vội vã cả: thế thì tại sao phải vội cơ chứ? Cứ tận hưởng thế giới
này... chẳng gì phải vội vàng và vẫn đủ thời gian mà. Đó là quá trình dài đến
mức bạn không thể đạt tới nó hôm nay. Và nếu bạn không thể đạt được nó hôm nay
thế thì mối quan tâm bị mất đi. Chẳng ai lại nhiệt tình đến mức có thể đợi
trong nhiều kiếp. Người đó sẽ đơn giản quên nó đi. Khái niệm dần dần đã huỷ
hoại Ấn Độ; khái niệm bất thần đã huỷ hoại Nhật Bản.
Đối với tôi, cả hai đều
đúng, vì cả hai đều là một nửa của toàn bộ quá trình. Và bạn phải thường xuyên
tỉnh táo để cho bạn không tự lừa dối mình. Điều này sẽ có vẻ mâu thuẫn, nhưng
đây là điều tôi muốn nói với bạn: Nó có thể xảy ra chính khoảnh khắc này, nhưng
chính khoảnh khắc này có thể mất nhiều kiếp để đi tới. Nó có thể xảy ra vào
chính khoảnh khắc này, nhưng bạn có thể phải đợi nhiều kiếp cho khoảnh khắc này
tới.
Cho nên làm việc cần cù,
dường như nó sắp xảy ra vào chính khoảnh khắc này. Và kiên nhẫn chờ đợi, bởi vì
không thể dự đoán được nó. Không ai có thể nói khi nào điều này xảy ra - điều
này có thể không xảy ra trong nhiều kiếp. Cho nên kiên nhẫn chờ đợi dường như toàn
bộ quá trình là sự phát triển dần lâu dài, và làm việc cần cù, cần cù nhất có
thể được, dường như điều này có thể xảy ra vào chính khoảnh khắc này.
Osho kính yêu,
Xin Thầy nói cho chúng tôi
về cách dùng năng lượng dục để trưởng thành, vì đây dường như là một trong
những mối bận tâm chính của chúng tôi ở phương Tây.
Dục là năng lượng. Cho nên
tôi sẽ không nói năng lượng dục - bởi vì không có năng lượng khác. Dục là năng
lượng duy nhất bạn có. Năng lượng này có thể được biến đổi - nó có thể trở
thành năng lượng cao hơn. Nó càng chuyển lên cao, tính dục lại càng ít trong
nó. Và có đỉnh nơi nó trở thành đơn giản là tình yêu và từ bi. Việc nở hoa tối
thượng mà chúng ta có thể gọi là năng lượng thiêng liêng, nhưng cơ sở, vị trí
gốc rễ vẫn còn là dục. Cho nên dục là tầng đầu tiên, tầng đáy của năng lượng -
và Thượng đế là tầng ngọn. Nhưng cùng một năng lượng chuyển động.
Điều đầu tiên cần hiểu là ở
chỗ tôi không phân chia năng lượng. Một khi bạn phân chia, thế thì nhị nguyên
được tạo ra. Một khi bạn phân chia, thế thì xung đột và tranh đấu được tạo ra.
Một khi bạn phân chia năng lượng, bạn bị phân chia; thế thì bạn sẽ ủng hộ hay
phản đối dục. Tôi không ủng hộ cũng chẳng phản đối, bởi vì tôi không phân chia.
Tôi nói dục là năng lượng, cái tên của năng lượng; gọi năng lượng đó là x. Dục
là một cái tên của năng lượng x đó, một năng lượng chưa biết, khi bạn dùng nó
chỉ như một lực sinh sản sinh vật. Nó trở thành thiêng liêng một khi nó thoát
khỏi giam cầm sinh vật, một khi nó trở thành phi vật lí - thế thì đó là tình
yêu của Jesus hay từ bi của Phật.
Phương Tây ngày nay bị ám
ảnh quá nhiều bởi Ki tô giáo. Hai nghìn năm của kìm nén Ki tô giáo về năng
lượng dục đã làm cho tâm trí phương Tây bị ám ảnh quá nhiều về nó. Trước hết,
trong hai nghìn năm ám ảnh là làm sao diệt được nó. Bạn không thể diệt được nó
- không năng lượng nào có thể bị huỷ diệt, năng lượng chỉ có thể được biến đổi.
Không cách nào để huỷ diệt năng lượng. Trong thế giới này không cái gì có thể
bị huỷ diệt, nó chỉ có thể được biến đổi, thay đổi, chuyển đổi vào cõi giới và
chiều mới. Huỷ diệt là không thể được. Bạn không thể tạo ra năng lượng mới mà
bạn cũng không thể nào phá huỷ được năng lượng cũ. Sáng tạo và huỷ diệt cả hai
đều ở bên ngoài bạn. Chúng không thể được thực hiện. Bây giờ, các nhà khoa học đồng
ý về điều này - thậm chí đến một nguyên tử cũng không thể bị huỷ diệt nổi.
Trong suốt hai nghìn năm Ki
tô giáo đã cố gắng huỷ diệt năng lượng dục. Tôn giáo bao hàm việc trở thành
tuyệt đối không dục. Điều đó đã tạo ra điên khùng. Bạn càng tranh đấu với nó,
bạn càng kìm nén, bạn càng trở nên dục hơn. Và thế thì dục chuyển sâu hơn vào
trong vô thức, nó đầu độc toàn bộ con người bạn. Cho nên nếu bạn đọc về cuộc
đời của các vị thánh Ki tô giáo, bạn sẽ thấy họ đều bị ám ảnh bởi dục. Họ không
thể cầu nguyện, họ không thể thiền. Bất kì điều gì họ làm, dục đều chen vào. Và
họ cho là quỉ dữ đang giở trò với họ. Chẳng ai giở trò cả. Nếu bạn kìm nén, bạn
chính là quỉ.
Sau hai nghìn năm liên tục
kìm nén dục, phương Tây trở nên chán ngán nó. Nó thành quá nhiều. Toàn bộ bánh
xe quay lại. Bây giờ, thay vì kìm nén, thì mê đắm, mê đắm dục trở thành ám ảnh
mới. Từ cực này tâm trí chuyển sang cực kia. Căn bệnh vẫn còn nguyên như cũ.
Một thời nó bị kìm nén, bây giờ nó là cách để mê đắm ngày càng nhiều về nó. Cả
hai đều là thái độ bệnh hoạn.
Dục phải được biến đổi -
không bị kìm nén cũng chẳng mê đắm điên khùng. Và cách duy nhất có thể để biến
đổi dục là làm dục với nhận biết thiền sâu sắc. Cũng giống hệt như tôi đã nói
về giận dữ. Đi vào dục, nhưng với sự hiện hữu chăm chú, có ý thức, tỉnh táo.
Đừng cho phép nó trở thành lực vô thức. Đừng bị nó kéo và đẩy đi. Đi một cách
có hiểu biết, có tri thức, có tình yêu. Làm cho kinh nghiệm dục thành kinh
nghiệm thiền. Thiền trong nó. Đây là điều phương Đông đã làm qua Mật tông.
Một khi bạn mang tính thiền
trong kinh nghiệm dục, phẩm chất của nó bắt đầu thay đổi. Cùng năng lượng ấy,
đang chuyển vào kinh nghiệm dục, bắt đầu hướng vào tâm thức. Bạn có thể trở
thành tỉnh táo trong cực thích dục mà trước đây bạn chưa hề đạt tới - bởi vì
không kinh nghiệm nào khác sâu sắc được như vậy, không kinh nghiệm nào khác
cuốn hút như vậy, không kinh nghiệm nào khác toàn bộ được đến như vậy. Trong
cực đỉnh dục bạn hoàn toàn bị cuốn hút, từ gốc rễ đến tất cả mọi thứ - toàn bộ
con người bạn rung động, toàn bộ con người bạn đều trong đó. Thân thể, tâm trí
- cả hai đều trong đó, và suy nghĩ dừng lại hoàn toàn. Cho dù chỉ một giây, khi
cái thích đạt tới cực điểm, suy nghĩ dừng lại hoàn toàn, bởi vì bạn là toàn bộ
đến độ bạn không thể nghĩ được nữa.
Trong cực điểm dục bạn hiện
hữu. Hiện hữu có đó mà không có suy nghĩ. Trong khoảnh khắc này, nếu bạn có thể
trở nên tỉnh táo, có ý thức, thế thì dục có thể trở thành cánh cửa hướng tới
điều thiêng liêng. Và nếu trong khoảnh khắc này bạn có thể trở nên tỉnh táo,
thì tỉnh táo đó có thể được mang sang các khoảnh khắc khác nữa, trong các kinh
nghiệm khác nữa. Nó có thể trở thành một phần của bạn. Thế thì ăn, đi, làm việc
gì đó, bạn có thể mang tỉnh táo đó. Qua dục mà tỉnh táo đã chạm tới cốt lõi sâu
kín nhất của bạn. Nó đã thấm nhuần vào bạn. Bây giờ bạn có thể mang nó đi. Và
nếu bạn trở nên có tính thiền, bạn sẽ nhận ra sự kiện mới. Sự kiện đó là ở chỗ
không phải là dục cho bạn phúc lạc, không phải là dục cho bạn cực lạc. Thay vì
thế, chính là trạng thái vô suy nghĩ của tâm trí và sự tham dự hoàn toàn trong
hành động đem lại cho bạn cảm giác phúc lạc.
Một khi bạn hiểu điều này
thế thì dục sẽ ngày càng ít được cần tới, vì trạng thái vô suy nghĩ đó của tâm
trí có thể được tạo ra mà không cần dục. Đó chính là điều thiền nghĩa là gì. Và
cái toàn bộ của bản thể cũng có thể được tạo ra không cần dục. Một khi bạn biết
rằng cùng một hiện tượng có thể xảy ra không cần dục, dục sẽ ngày càng ít được
cần tới hơn. Một khoảnh khắc sẽ tới khi dục không còn cần thiết chút nào nữa.
Nhớ lấy, dục bao giờ cũng
phụ thuộc vào người kia. Cho nên trong dục tù túng, cảnh nô lệ vẫn còn. Một khi
bạn có thể tạo ra hiện tượng cực thích toàn bộ này mà không phụ thuộc vào bất
kì người nào khác, khi nó đã trở thành nguồn bên trong, bạn được độc lập, bạn thành
tự do. Đó chính là điều được ngụ ý khi ở Ấn Độ chúng ta nói chỉ brahmachari,
người vô dục tuyệt đối, mới có thể là tự do - bởi vì giờ đây người đó không phụ
thuộc vào bất kì ai khác, cực lạc của người đó là của riêng người đó.
Dục biến mất qua thiền, nhưng
điều này không phá huỷ năng lượng. Năng lượng không bao giờ bị phá huỷ cả; chỉ
có dạng của năng lượng là thay đổi. Bây giờ nó không còn là dục nữa. Và khi
dạng không còn là dục, bạn trở thành việc yêu.
Cho nên thực sự, một người
còn dục thì không thể yêu được. Tình yêu của người đó chỉ có thể là sự trưng
bày. Tình yêu của người đó chỉ là phương tiện để hướng tới dục. Một người còn
dục thì hay dùng tình yêu như kĩ thuật để hướng tới dục. Đó là phương tiện. Một
người còn dục không thể yêu thực sự, người đó chỉ có thể khai thác người khác,
và tình yêu trở thành cách duy nhất để tiếp cận đến người khác.
Một người đã trở thành vô
dục, và năng lượng chuyển vào trong, đều trở thành người tự cực lạc. Cực lạc
của người đó là của riêng người đó. Một người như vậy sẽ đáng yêu ngay lần đầu
tiên. Tình yêu của người đó sẽ là việc mưa rào thường xuyên, chia sẻ thường
xuyên, việc cho thường xuyên. Nhưng để đạt tới điều này bạn không cần phải phản
dục. Để đạt đến điều này bạn phải chấp nhận dục là một phần cuộc sống, của cuộc
sống tự nhiên. Di chuyển với nó - chỉ di chuyển với nhiều ý thức hơn. Ý thức là
cây cầu, cây cầu vàng, từ thế giới này sang thế giới kia, từ địa ngục lên thiên
đàng, từ bản ngã tới điều thiêng liêng.
Xem tiếp Chương 6 - Quay về Mục lục