Osho
– Bồ Đề Đạt Ma: Thiền sư vĩ đại nhất
Chương
16: Dũng cảm nói "Tôi không biết"
Nhưng nếu ai đó chặt nguồn của chúng, sông cạn khô. Và nếu ai đó, người tìm kiếm giải thoát, có thể biến ba chất độc này thành ba bộ giới luật và sáu tên trộm thành sáu đường vượt qua, người đó gạt bỏ khỏi mình ưu phiền một lần cho mọi lần.
Nhưng ba cõi giới
này và sáu trạng thái của sự tồn tại là bao la vô hạn. Làm sao chúng tôi có thể
thoát khỏi ưu phiền vô hạn của chúng nếu mọi điều chúng tôi làm là ngắm nhìn
tâm trí?
Nghiệp của ba
cõi giới này tới từ một mình tâm trí. Nếu tâm trí ông không ở trong ba cõi giới
này, nó ở ngoài chúng.
Và làm sao nghiệp
của sáu tên trộm này khác biệt?
Người hữu tử,
người không hiểu việc thực hành đúng và thực hiện mù quáng các hành vi tốt được
sinh vào trong.
Thầy nói rằng bản
tính phật đúng đắn của chúng tôi và mọi đức hạnh đều có nhận biết làm gốc rễ.
Nhưng gốc rễ của dốt nát là gì?
Tâm trí dốt
nát, với ưu phiền, đam mê và độc ác vô hạn của nó, được bắt rễ trong ba chất độc:
tham lam, giận dữ và ảo tưởng. Ba trạng thái độc hại này của tâm trí bản thân
chúng bao gồm vô hạn ác độc, giống như cây có một thân nhưng vô số cành và lá.
Vậy mà mỗi chất độc tạo ra thêm nhiều triệu ác độc khác đến mức thí dụ về cái
cây khó là so sánh ăn khớp.
Ba chất độc này
hiện diện trong sáu giác quan của chúng ta như sáu loại thức, hay kẻ trộm.
Chúng được gọi là kẻ trộm bởi vì chúng đi vào và ra cánh cổng giác quan, thèm
thuồng sở hữu vô hạn, tham gia vào trong việc ác và che mặt nạ căn cước thực của
chúng... ba trạng thái này... Người thực hiện mù quáng mười hành vi tốt và tìm
kiếm hạnh phúc một cách ngu xuẩn được sinh ra là thần trong cõi giới của ham muốn.
Người gìn giữ một cách mù quáng năm giới luật và mê mải một cách ngu xuẩn trong
yêu và ghét đều được sinh ra là người trong cõi giới của giận dữ. Còn người níu
bám một cách mù quáng vào thế giới hiện tượng này, tin vào các học thuyết giả dối
và hi vọng được ân huệ được sinh ra là quỉ trong cõi giới của ảo tưởng.
... Nếu ông có
thể tập trung tâm trí mình và siêu việt lên trên cái giả dối và ác độc của nó,
đau khổ của sự tồn tại sẽ tự động biến mất. Và một khi thoát khỏi đau khổ ông tự
do thực sự.
Lời kinh này
cho tối nay... Bồ đề đạt ma đang đối diện với câu hỏi tối thượng mà không ai đã
từng có khả năng trả lời. Câu hỏi tối thượng là tối thượng bởi vì nó không thể nào
được trả lời. Mọi triết học, thượng đế học, huyền môn, chung cuộc đều đi tới
câu hỏi tối thượng, và không có câu trả lời cho nó.
Nhưng ngay cả một
người như Bồ đề đạt ma, một con người cực kì dũng cảm, thông minh, nhận biết, vẫn
không có dũng cảm tối thượng để nói rằng không có câu trả lời cho câu hỏi này.
Ông ấy cố gắng - hệt như hàng triệu triết gia, nhà tư tưởng, nhà huyền môn, bao
giờ cũng đã cố gắng nhưng bao giờ cũng thất bại.
Ông ấy cũng cố
gắng dường như có câu trả lời và ông ấy biết điều đó, nhưng bất kì điều gì ông ấy
nói đều không phải là câu trả lời và câu hỏi vẫn còn nguyên không bị đụng tới.
Điều ông ấy nói đích xác là điều đã được ghi trong kinh sách Phật giáo. Tại đây
ông ấy không đáp ứng ngay lập tức cho câu hỏi, từ nhận biết của riêng ông ấy; bằng
không ông ấy đã đơn giản cười và thừa nhận rằng không có câu trả lời cho nó.
Tôi có thể đơn
giản nói, “Tôi không biết”. Nhưng nói, “Tôi không biết” cần dũng cảm lớn nhất
trên thế giới này. Ngay cả Bồ đề đạt ma cũng không có dũng cảm tối thượng đó.
Nhưng tôi đã có nó! Tôi sẽ không nguỵ trang theo bất kì cách nào - qua lối nói
triết lí, hay giả thuyết thượng đế học - để che giấu sự kiện là không có câu trả
lời và tạo ra ảo tưởng về câu trả lời.
Bất kì điều gì
Bồ đề đạt ma nói ở đây chỉ là ảo tưởng. Ông ấy đang cố gắng tối đa để hợp lí
hoá nó, để hỗ trợ cho nó theo kinh sách. Có lẽ ông ấy có thể có khả năng làm
yên lòng các đệ tử, nhưng ông ấy không thể làm bình yên tôi được!
Trước hết tôi sẽ
đọc câu hỏi của các đệ tử. Các câu hỏi này quan trọng hơn là câu trả lời của Bồ
đề đạt ma. Câu hỏi của họ ít nhất cũng có chân thành, tính đích thực. Câu trả lời
của Bồ đề đạt ma chỉ để che giấu sự kiện là những câu hỏi tối thượng vẫn còn là
câu hỏi. Đây là toàn thể lí do tại sao chúng ta gọi tôn giáo bản chất là “huyền
môn”. Nếu mọi thứ có thể được trả lời, thế thì không có vấn đề về bí ẩn nào nữa.
Sự tồn tại là
bí ẩn bởi vì bạn có thể cứ trả lời, nhưng chung cuộc bạn không thể nào trả lời
nổi câu hỏi tối thượng. Và nó không xa xôi gì; nó tới ngay thôi. Bạn có thể trả
lời mọi điều hời hợt, nhưng khi bạn đi sâu hơn câu hỏi tối thượng tới gần hơn.
Và khoảnh khắc câu hỏi tối thượng tới, tôi chưa từng bắt gặp một người nào
trong toàn thể lịch sử nhân loại có dũng cảm để nói, “Tôi không biết”.
Câu hỏi: Thầy
nói rằng phật tính đúng đắn của chúng tôi và mọi đức hạnh đều có nhận biết làm
gốc rễ. Nhưng gốc rễ của dốt nát là gì?
Dốt nát từ đâu
tới? Nói cách khác, theo biểu tượng khác mà sẽ dễ hiểu hơn...
Các tôn giáo
tin vào Thượng đế có thể cứ trả lời các câu hỏi mãi cho tới điểm mà nó được hỏi,
“Ai tạo ra sự tồn tại này?” Họ có câu trả lời làm sẵn: Thượng đế tạo ra nó. Bây
giờ tới câu hỏi tối thượng: “Ai tạo ra Thượng đế?” Bởi vì nếu mọi thứ cần một đấng
sáng tạo, thế thì Thượng đế phải cần một đấng sáng tạo. Và nếu Thượng đế không
cần đấng sáng tạo, thế thì tại sao bận tâm về Thượng đế? Thế thì tại sao bạn
không thể chấp nhận bản thân sự tồn tại - không có đấng sáng tạo? Nếu bạn phải
chấp nhận ở chỗ này chỗ khác, thế thì tốt hơn cả là dừng lại với sự tồn tại như
điều tối thượng, bởi vì ít nhất chúng ta cũng biết nó - chúng ta là một phần của
nó.
Thượng đế chỉ
là giả thuyết. Sự tồn tại là thực tế. Nhưng mọi tôn giáo đã di chuyển từ thực tại
sang giả thuyết, và thế thì họ phải đối diện với một vấn đề mà không ai có thể
trả lời nổi. Và không ai bao giờ sẽ có khả năng trả lời được cho nó, bởi vì bất
kì câu trả lời nào đều sẽ dẫn vào trong hồi qui vô hạn.
Nếu bạn nói rằng
Thượng đế Số Một được tạo ra từ Thượng đế Số Hai, câu hỏi vẫn còn y nguyên:
"Ai tạo ra Thượng đế Số Hai?" Bạn có thể cứ tiếp tục mãi. Nhưng bất
kì số nào, câu hỏi sẽ vẫn còn liên quan, "Ai tạo ra Thượng đế này?"
Và đây là cùng câu hỏi mà từ đó chúng ta đã bắt đầu, "Ai tạo ra vũ trụ
này?"
Cho nên Thượng
đế đã không có ích gì. Giả thuyết này không đưa ra bất kì sự giúp đỡ nào. Thượng
đế đơn giản là một giả thuyết vô tích sự. Đó chỉ là việc giả vờ cho câu trả lời,
nhưng nó không phải là câu trả lời đúng bởi vì câu hỏi vẫn còn như cũ. Câu trả
lời đúng có nghĩa là câu hỏi phải biến mất. Đấy là tiêu chuẩn.
Trong Phật giáo
không có thượng đế. Tại vị trí của thượng đế là nhận biết tối thượng, phật
tính, bản tính phật. Đây là ngôn ngữ khác biệt duy nhất.
Bây giờ các đệ
tử này đang hỏi: Chúng tôi có thể hiểu rằng bản tính phật và mọi đức hạnh có nhận
biết làm gốc rễ. Nhưng dốt nát này đến từ đâu? Tại sao dốt nát ngay từ ban đầu?
Tại sao không có nhận biết ngay từ ban đầu? Đây là cùng câu hỏi, chỉ khác về
khuôn khổ thượng đế học. Và bất kì câu trả lời nào cho nó - không có bất kì ngoại
lệ nào, không biết gì về nó cả - tôi có thể nói đều sẽ sai.
Chúng ta đơn giản
chấp nhận bí ẩn rằng chúng ta sinh ra trong dốt nát và khả năng cố hữu trong
chúng ta để xua tan dốt nát này là trở nên nhận biết. Chúng ta được sinh ra
trong khổ, nhưng với tiềm năng cố hữu là vượt qua nó, siêu việt lên trên nó, trở
thành phúc lạc, trở thành cực lạc. Chúng ta được sinh ra trong cái chết, nhưng
với khả năng đi ra ngoài tử vào trong bất tử.
Nhưng nếu bạn hỏi
cái chết tới từ đâu, dốt nát tới từ đâu, khổ tới từ đâu, bạn đang hỏi câu hỏi tối
thượng. Không có câu trả lời cho nó. Nó đơn giản là trường hợp vậy. Tốt hơn cả
là dùng cách diễn đạt của Phật, "như thế". Như thế là trường hợp này.
Nhưng Bồ đề đạt
ma không thể nói điều đó được. Ông ấy bắt đầu trả lời. Câu trả lời đúng duy nhất
đáng phải là, "Tôi không biết". Và Bồ đề đạt ma sẽ làm việc phục vụ lớn
lao vô cùng cho nhân loại. Ông ấy đã bỏ lỡ! Bất kì điều gì ông ấy đang nói cũng
đều rất trẻ con. Nó phải là rất trẻ con, bởi vì không thể nào một người như Bồ
đề đạt ma không nhận biết về sự kiện rằng mình không biết câu trả lời. Không ai
biết câu trả lời cả. Không ai có thể biết câu trả lời bởi vì không ai có thể hiện
hữu trước lúc bắt đầu.
Nghĩ về điều đó
một khoảnh khắc: bạn không thể hiện hữu trước lúc bắt đầu. Nếu bạn hiện hữu trước
lúc bắt đầu, thế thì nó không phải là lúc bắt đầu. Bạn đã có đó rồi, cho nên
cái bắt đầu phải hiện hữu trước khi bạn ở đó. Và chừng nào ai đó còn chưa thể
hiện hữu trước lúc bắt đầu, không có nhân chứng, người có thể nói, "Thượng
đế đã tạo ra thế giới này."
Ai có thể nói
được dốt nát từ đâu tới? Mọi điều chúng ta có thể nói là ở chỗ sự tồn tại bị
chìm trong dốt nát và dần dần vài người dũng cảm đi vào trong nhận biết, vươn
cao lên trên bóng tối của cuộc sống và đạt tới ánh sáng, cái là vĩnh hằng.
Trong một tham
chiếu khác, Phật Gautam làm điều đó thành rõ ràng... mặc dầu ông ấy cũng chưa
bao giờ thừa nhận tại bất kì điểm nào rằng nó là bí ẩn và ông ấy không biết.
Tôi muốn bạn hiểu
rằng nó vẫn còn là một bí ẩn và nó bao giờ cũng vẫn còn là một bí ẩn. Bởi chính
bản chất của nó không có cách nào biết được cái bắt đầu.
Nhưng trong một
hoàn cảnh khác, Phật đã tới rất gần. Ông ấy nói, "Dốt nát không có bắt đầu,
nhưng có kết thúc. Và ý thức có bắt đầu, nhưng không có kết thúc." Theo
cách này ông ấy hoàn thành vòng tròn. Tôi sẽ nhắc lại điều đó, để cho bạn có thể
cảm thấy nó một cách sâu sắc: dốt nát không có bắt đầu, nhưng có kết thúc. Và bởi
vì dốt nát kết thúc, nhận biết có bắt đầu, nhưng nó không có kết thúc. Nó cứ tiếp
diễn thế mãi mãi.
Với điều này,
Phật thừa nhận sự kiện rằng tốt hơn cả là đừng hỏi về bắt đầu của dốt nát và đừng
hỏi về kết thúc của nhận biết. Hai điều này sẽ vẫn còn là bí ẩn mãi mãi. Và đây
là những điều quan trọng nhất trong sự tồn tại.
Nếu câu hỏi này
mà được hỏi với tôi, tôi sẽ đơn giản nói, "Tôi không biết", bởi vì đó
là câu trả lời chân thành nhất. Nó đơn giản nghĩa là đấy là bí ẩn.
Nhưng Bồ đề đạt
ma bắt đầu cố gắng trả lời câu hỏi này, và bạn có thể thấy điều đó thậm chí
không động chạm tới câu hỏi này chút nào. Tâm trí dốt nát... bây giờ câu hỏi là
dốt nát từ đâu tới, và ông ấy đã chấp nhận nó, không trả lời.
Tâm trí dốt
nát, với ưu phiền, đam mê và độc ác vô hạn của nó, được bắt rễ trong ba chất độc:
tham lam, giận dữ và ảo tưởng.
Đây có phải là
câu trả lời không? Ông ấy đang nói tâm trí dốt nát được bắt rễ trong những điều
nào đó: ảo tưởng, giận dữ, tham lam. Nhưng đây có là câu trả lời không? Đệ tử
này có hỏi về nó không? Đệ tử có hỏi cái loại giải thích này không?
Câu hỏi là,
"Gốc rễ của dốt nát là gì?" Và nếu bạn trả lời rằng chẳng hạn tham
lam, giận dữ và ảo tưởng là gốc rễ của dốt nát, bạn đang đơn giản trì hoãn câu
trả lời. Lần nữa câu hỏi sẽ nảy sinh, "Tham lam tới từ đâu? Giận dữ tới từ
đâu và ảo tưởng tới từ đâu?" Và thế thì bạn rơi vào cái vòng luẩn quẩn. Thế
thì bạn bắt đầu nói, "Chúng tới từ dốt nát. Chính bởi vì con người dốt
nát; đó là lí do tại sao người tham lam, đó là lí do tại sao người đó giận dữ,
đó là lí do tại sao người đó ảo tưởng." Và khi chúng ta hỏi dốt nát này tới
từ đâu, "Nó tới từ tham lam, giận dữ và ảo tưởng." Bạn đang định lừa
ai đây?
Nhưng trong
hàng thế kỉ những loại câu trả lời này đã lừa mọi người. Có lẽ không ai hỏi những
câu trả lời này không liên quan này - hoặc bởi vì họ quá bị ấn tượng, quá nhiều
tràn ngập bởi tính cá nhân của con người như Bồ đề đạt ma, hay có lẽ họ không thể
hình dung ra rằng Bồ đề đạt ma đơn giản tạo ra nhiều hoả mù quanh câu hỏi này,
để cho họ không thể thấy được câu hỏi của mình một cách rõ ràng. Ông ấy đang
tung bụi vào mắt họ. Đấy không phải là câu trả lời.
Nhưng điều này
không phải là trường hợp duy nhất đối với Bồ đề đạt ma. Đây là trường hợp cho mọi
người... với Phật Gautam, với Mahavira, với Khổng Tử, với Lão Tử, với
Zarathustra, với Jesus, với Moses... với mọi người không ngoại lệ. Bất kì khi
nào họ tới gần câu hỏi tối thượng, họ bắt đầu nói điều vô nghĩa. Và đây là những
người rất nhạy cảm, những người rất thông minh.
Nhưng câu hỏi tối
thượng có thể được trả lời không bởi thông minh mà bởi hồn nhiên, có thể được
trả lời chỉ bởi người hồn nhiên, người không để ý gì tới bất kì kính trọng, bất
kì trí huệ, bất kì chứng ngộ, người có thể mạo hiểm mọi thứ chỉ vì sự chân
thành của mình.
Những người này
không có khả năng mạo hiểm trí huệ của họ. Họ không thể nói, "Tôi không biết".
Nhưng đấy mới là câu trả lời đích thực duy nhất, bởi vì điều đó cho bạn cảm giác
rằng bạn đã đi tới điều tối thượng: bây giờ bắt đầu điều bí ẩn - và nó là không
thể giải được. Không có cách nào thu nó lại thành tri thức. Nó không phải là
cái không biết mà có thể được làm thành biết bằng nỗ lực, bằng thông minh, bằng
thực hành, bằng kỉ luật, bằng bất kì phương pháp nào, bất kì nghi lễ nào.
Bí ẩn có thể được
sống, nhưng không thể được biết. Nó bao giờ cũng vẫn còn lại, không thể nào biết
được. Nó bao giờ cũng vẫn còn lại, một bí ẩn.
Một người, một
người đương đại vĩ đại, G.E. Moore, đã viết một cuốn sách, Principia Ethica. Và
có lẽ ông ấy là người duy nhất trong toàn thể lịch sử, người đã nghĩ sâu sắc đến
thế chỉ để định nghĩa từ "tốt". Bởi vì không định nghĩa tốt, không thể
có luân lí và không có đạo đức. Nếu bạn không thể nào định nghĩa được tốt là
gì, thế thì làm sao bạn có thể quyết định được cái gì là đạo đức, cái gì là vô
đạo đức; cái gì là đúng, cái gì là sai.
Ông ấy đã lấy một
câu hỏi nền tảng, không biết rằng đấy là câu hỏi tối thượng và ông ấy lâm vào rắc
rối. Và ông ấy là một trong những người thông minh nhất trong thế giới đương đại
của chúng ta. Ông ấy nhìn vào nó từ đủ mọi hướng để viết gần hai trăm năm mươi
trang giấy, chỉ trên một câu hỏi đơn giản, "Tốt là gì?" Và ông ấy đã
hoàn toàn thất bại trong việc định nghĩa một từ đơn giản như là tốt. Mọi người
đều biết tốt là gì, mọi người đều biết tồi là gì, mọi người đều biết đẹp là gì
và mọi người đều biết xấu là gì. Nhưng khi phải định nghĩa nó - bạn sẽ trong
cùng rắc rối.
Ông ấy đã nghĩ
rằng mọi người đều biết tốt là gì... phải có cách nào đó tìm ra bí mật này và định
nghĩa nó. Nhưng cuối cùng, sau hai trăm năm mươi trang giấy về những suy nghĩ rất
tập trung, với logic sành sỏi nhất và phân tích hợp lí, ông ấy đi tới kết luận
rằng tốt là không thể định nghĩa được. Hai trăm năm mươi trang giấy chỉ đi vòng
vo mà không đạt tới đâu cả. Tốt là không thể định nghĩa nổi.
Croce đã làm
cùng công trình về "cái đẹp"... một nghìn trang giấy. Ông ấy còn đi
sâu hơn nhiều so với G.E. Moore đi vào cái "tốt". Và sau một nghìn
trang giấy, tới phát biểu cuối cùng: rằng cái đẹp là không thể định nghĩa được.
Mọi người đều
biết rằng vấn đề khó khăn nhất là ở chỗ rất khó tìm ra một người không biết đẹp
là gì và xấu là gì. Nhưng đừng khăng khăng đòi định nghĩa. Ngay cả những tâm
trí vĩ đại nhất cũng đã thất bại.
Đây là việc chấp
nhận thất bại, khi họ nói cái đẹp là không thể nào định nghĩa nổi. G.E. Moore
trở nên thất vọng đến mức ông ấy nói, "Đừng trách tôi là tôi đã không có
khả năng định nghĩa tốt là gì. Ngay cả những câu hỏi đơn giản hơn - đây là câu
hỏi rất phức tạp - cũng không thể nào định nghĩa nổi. Chẳng hạn, mầu vàng là
gì...?"
Đó là điều G.E.
Moore hỏi, "Bạn có thể định nghĩa mầu vàng là gì không?" Tất cả các bạn
đều biết mầu vàng là gì. Không có hoài nghi gì về nó cả. Các bạn tất cả đều có
thể chỉ vào hoa cúc... đây là vàng. Nhưng ông ấy không yêu cầu chỉ ra; ông ấy
đang hỏi, "Làm sao bạn đi tới biết rằng đây là mầu vàng? Định nghĩa của nó
là gì? Cái gì là tiêu chí mà đoá hoa cúc này đáp ứng? Tại sao nó không là đỏ? Tại
sao nó là vàng? Bạn phải có định nghĩa nào đó. Tại sao cái gì đó đỏ và cái gì
đó lam và cái gì đó lục và cái gì đó vàng... trên nền tảng nào?"
Và thế rồi ông ấy
nói, "Nếu vàng không thể được định nghĩa và mặc dầu mọi người đều biết nó
là gì, không ai nói, thế thì có lẽ tất cả tri thức của chúng ta chỉ rất hời hợt."
Có lẽ chúng ta
chưa bao giờ hỏi sâu sắc vào mọi thứ; chúng ta chưa bao giờ đi vào tận đáy tảng
đá. Bằng không hiểu biết của riêng tôi là mọi thứ đều không định nghĩa nổi, bởi
vì mọi thứ đều là bí ẩn. Không chỉ câu hỏi về cái đẹp, hay cái tốt, hay dốt
nát, hay nhận biết - mọi thứ, toàn thể sự tồn tại này bao gồm chỉ những cái
không thể định nghĩa nổi. Việc nhận ra điều này là nhận ra dốt nát tối thượng của
chúng ta. Và để có khả năng nhận ra dốt nát tối thượng của chúng ta, bạn cần vô
ngã tuyệt đối, hồn nhiên vô ngã, bởi vì cái đó đang bị bỏ lỡ.
Bồ đề đạt ma
đang làm cùng điều như mọi người khác đã làm. Và đấy không phải là điều mới -
trong hàng thế kỉ các triết gia đã từng mê đắm trong những câu hỏi đơn giản.
Tất cả các bạn
đều biết hai cộng với hai là bốn. Nhưng bạn chưa bao giờ đi sâu vào trong việc
tìm hỏi, liệu nó có là thế không, hay chỉ là nghe nói. Bạn đã nghe mọi người
nói hai cộng với hai là bốn, cho nên bạn lặp lại nó từ thế hệ nọ sang thế hệ
kia.
Bertrand Russell,
một trong những nhà toán học vĩ đại nhất của thời đại chúng ta, và có lẽ của mọi
thời đại, đã viết cuốn sách, Principia Mathematica. Ông ấy phải mất hai trăm
năm mươi trang để đi vào câu hỏi này, liệu hai cộng với hai có là bốn hay
không. Bạn thậm chí không thể nào quan niệm nổi ông ấy đã viết gì trong hai
trăm năm mươi trang này...
Hai cộng với
hai đơn giản là bốn và quên hết mọi điều về nó. Hai trăm năm mươi trang... một
biện luận cô đọng, logic đến mức cuốn sách của ông ấy là một trong những cuốn
sách không thể nào đọc được nhất trên thế giới.
Chỉ vài người
điên khùng như tôi, người không bận tâm liệu nó là đọc được hay không đọc được...
Tôi đã thấy trong nhiều thư viện đại học rằng cuốn sách đó thậm chí chưa hề được
mở ra. Nhiều trang còn dính với nhau - không ai dọc chúng ra, bởi vì thậm chí đọc
hai trang cũng đủ! Đấy là cuốn sách một nghìn trang tất cả và một phần tư sách
chỉ đi vào thảo luận hai cộng với hai có là bốn hay không.
Và kết luận
sao? Kết luận là ở chỗ đấy chỉ là niềm tin. Điều đó không thể nào được nói một
cách chắc chắn, rằng hai cộng với hai thành bốn. Đấy là một khái niệm tiện dụng.
Nó là tốt, làm việc được, nhưng Bertrand Russell đã không bị bỏ lại không được
thách thức - ngay cả về điều đó. Một nhà toán học khác, Godel, đã thách thức điều
đó. Bởi vì Godel nói không có khả năng nào để hai cộng với hai là bốn cả. Không
có khả năng nào cả. Và Godel có cùng phẩm chất thiên tài như Bertrand Russell.
Theo bất kì cách nào ông ấy không phải là thiên tài nhỏ hơn - có lẽ còn là
thiên tài lớn hơn. Luận cứ của ông ấy rất rõ ràng và Bertrand Russell đã không
có khả năng trả lời điều đó.
Godel biện luận
rằng bạn có thể đặt hai cái ghế này và hai cái ghế kia cùng nhau và một cách tự
nhiên, có bốn cái ghế, nhưng hai trong bản thân nó chỉ là một kí hiệu trừu tượng.
Hai cái ghế là vấn đề khác. Hai chỉ là khái niệm. Nó có tính giả thuyết cũng
như Thượng đế, hay quỉ. Bạn đã bao giờ thấy hai ở bất kì đâu không? Bạn đã bao
giờ gặp hai và nói xin chào không? Bạn đã bao giờ thấy hai với hai gặp nhau và
ôm ghì nhau không?
Và phê bình của
Godel là ở chỗ hai thứ trong sự tồn tại không bao giờ đích xác là như nhau; cái
gì đó bao giờ cũng khác. Bạn không thể nào tìm ra hai người như nhau; bạn không
thể nào thậm chí tìm ra hai cái lá trong cả khu rừng mà đích xác hệt như nhau.
Thế thì làm sao hai cái lá không bằng nhau, cùng với hai cái lá khác cũng không
bằng nhau, là bốn được? Chúng có thể là ba, chúng có thể là năm, chúng có thể
là bất kì cái gì, nhưng không là bốn.
Và tôi hiểu
Godel là đúng. Tất nhiên hiểu biết của tôi tới từ một chiều hướng hoàn toàn
khác. Với tôi, Godel là hấp dẫn hơn bởi vì điều đó làm cho sự tồn tại thành bí ẩn.
Bạn thậm chí không thể nào dựa vào những câu trả lời đơn giản như hai với hai
là bốn. Mọi thứ đều thực chứng. Nhưng khi có liên quan tới thực tại, nó vẫn còn
là điều không thể biết được.
Cho nên bạn phải
nhớ điều này. Tôi sẽ đi qua câu trả lời của Bồ đề đạt ma, nhưng đấy không phải
là câu trả lời. Có thể có ích để đi vào trong nó: điều đó có thể giúp cho bạn
hiểu cái gì đó khác nhưng đấy không phải là câu trả lời cho câu hỏi này.
Nhưng đấy không
phải là lỗi của Bồ đề đạt ma. Không có câu trả lời. Lỗi duy nhất của ông ấy là ở
chỗ ông ấy không nhận rằng ông ấy không biết. Và tôi không thể tha thứ cho ông ấy
về điều đó bởi vì tôi yêu ông ấy và tôi kính trọng ông ấy và tôi muốn ông ấy
chân thành. Giá như ông ấy nói, "Tôi không biết", ông ấy đã vượt lên
trên cả nghìn nhà huyền môn khác, các vị phật, bồ tát và a la hán khác. Ông ấy
đáng đã trở thành tuyệt đối duy nhất, nhưng ông ấy đã không đảm đương được.
Tâm trí dốt
nát, với ưu phiền, đam mê và độc ác vô hạn của nó, được bắt rễ trong ba chất độc:
tham lam, giận dữ và ảo tưởng. Ba trạng thái độc hại này của tâm trí bản thân
chúng bao gồm vô hạn ác độc, giống như cây có một thân nhưng vô số cành và lá.
Vậy mà mỗi chất độc tạo ra thêm nhiều triệu ác độc khác đến mức thí dụ về cây
khó là so sánh ăn khớp.
Ba chất độc này
hiện diện trong sáu giác quan của chúng ta như sáu loại thức, hay kẻ trộm.
Chúng được gọi là kẻ trộm bởi vì chúng đi vào và ra cánh cổng giác quan, thèm
thuồng sở hữu vô hạn, tham gia vào trong việc ác và che mặt nạ căn cước thực của
chúng...
Nhưng nếu ai đó
chặt nguồn của chúng, sông cạn khô. Và nếu ai đó, người tìm kiếm giải thoát, có
thể biến ba chất độc này thành ba bộ giới luật và sáu tên trộm thành sáu đường
vượt qua, người đó gạt bỏ khỏi mình ưu phiền một lần cho mọi lần.
Tất cả những điều
này đều được. Nhưng bạn có thể thấy nó là câu trả lời cho câu hỏi này không? Điều
đó đúng, rằng nếu bạn có thể thay đổi tham lam của mình, giận dữ của mình, ảo
tưởng của mình - các chất độc - bằng nhận biết, chúng biến thành nước cam lồ.
Cùng cái là bệnh tật của bạn lại trở thành mạnh khoẻ của bạn. Cùng cái là tù
túng của bạn lại trở thành tự do của bạn. Mọi điều được cần là đem tới nhận biết
vào trong bóng tối của bản thể bạn.
Điều này là
đúng. Chúng ta đã thảo luận về nó nhiều, nhiều lần rồi theo những cách thức
khác nhau. Nhưng nó không phải là câu trả lời cho câu hỏi: "Dốt nát bắt
nguồn từ đâu?"
Điều này cũng
đúng, rằng nếu bạn chặt đứt gốc rễ thế thì cây sẽ tàn lụi đi. Và gốc rễ của tù
túng của bạn, của mù quáng của bạn, của bóng tối của bạn, là tâm trí bạn. Nếu bạn
chặt đứt gốc rễ của tâm trí - và gốc rễ của tâm trí là đồng nhất với bản thân bạn
... khi bạn giận dữ bạn nói, "Tôi đang giận." Đó là gốc rễ. Nếu bạn
thực sự nhận biết khi bạn giận, bạn sẽ không nói, "Tôi đang giận." Bạn
sẽ nói, "Tôi đang thấy cơn giận đi qua tâm trí mình." Nếu bạn có thể
nói điều đó, bạn là người thấy, bạn là nhân chứng. Rễ bị chặt đứt.
Một sannyasin Ấn
Độ, người đã du hành xa và khắp thế giới, là Ramateertha. Ông ta có thói quen rất
lạ không bao giờ dùng chữ "tôi". Thay vì dùng chữ tôi, ông ấy sẽ dùng
ngôi thứ ba để chỉ mình. Chẳng hạn, "Ramateertha khát." Ông ấy không
bao giờ nói, "Tôi khát". Ông ấy sẽ nói, "Rama khát."
Với những người
biết tới ông ấy, không có khó khăn gì. Nhưng ông ấy liên tục du hành khắp trên
thế giới. Trong nhiều năm ông ấy đã ở Mĩ và mọi người không thể hiểu nổi khi
ông ấy nói, "Rama đau đầu". Họ sẽ hỏi, "Rama đâu?" Hay,
"Rama khát", hay "Rama cảm thấy ốm."
Tại một miền đất
lạ, ông ấy đi cùng những người lạ và họ cứ liên tục nói, "Đây là cách nói
lạ đời. Sao ông không đơn giản nói rằng ông khát? Tại sao làm điều đó thành rắc
rối không cần thiết?" Nhưng ông ấy đang thực hành một phương pháp nào đó để
chặt đứt gốc rễ. Bằng việc không nói, "Tôi khát, tôi đau đầu, tôi cảm thấy
ốm, tôi cảm thấy buồn ngủ," ông ấy đang cố gắng tránh cái "tôi"
và cố gắng chỉ là người quan sát. "Rama đói; Rama khát" hay
"Rama đang đau đầu". Ông ấy chỉ là nhân chứng báo cáo lại cho bạn rằng
đây là điều đang xảy ra cho Rama... nếu bạn có thể làm được điều gì đó, làm nó
đi.
Ông ấy cố gắng
kéo mình ra khỏi bất kì cái gì đang xảy ra trong thân thể mình, trong tâm trí
mình, trong trái tim mình. Ông ấy đang cố gắng làm sáng tỏ cho bản thân mình hoàn
toàn khỏi mọi sự đồng nhất. Ông ấy muốn là nhân chứng.
Là nhân chứng
là chặt đứt chính gốc rễ, và bạn sẽ được giải thoát. Điều này hoàn toàn đúng.
Nhưng đây không phải là câu trả lời cho câu hỏi.
Tôi sẽ cứ nhấn
mạnh sự kiện là Bồ đề đạt ma đang tạo ra việc nói dài dòng không cần thiết...
chán ngắt thế. Có lẽ các đệ tử này đã quên mất câu hỏi, nhưng tôi không thể
quên được mà tôi cũng không thể tha thứ được. Mọi điều ông ấy đang nói là đúng
trong hoàn cảnh khác, cho nên ông ấy không nói điều gì sai cả. Nhưng bất kì điều
gì ông ấy nói ra mặc dầu là đúng, là không liên quan chút nào. Và chỉ là đúng
không phải là câu hỏi. Câu trả lời phải có liên quan tới câu hỏi.
Ông ấy cứ tạo
ra ngày càng nhiều... Nhưng ba cõi giới này và sáu trạng thái của sự tồn tại là
bao la vô hạn. Nó có quan hệ gì với nguồn gốc của dốt nát, từ đâu nó tới?
Làm sao chúng
tôi có thể thoát khỏi ưu phiền vô hạn của chúng nếu tất cả những điều chúng tôi
làm là ngắm nhìn tâm trí? Đệ tử này đang hỏi một câu hỏi khác. Họ đã bị lừa. Họ
nghĩ họ đã nhận được câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất của mình. Họ vẫn chưa nhận
được câu trả lời, bởi vì không có câu trả lời.
Bây giờ họ đang
hỏi câu hỏi khác:
Nhưng ba cõi giới
này và sáu trạng thái của sự tồn tại là bao la vô hạn. Làm sao chúng tôi có thể
thoát khỏi ưu phiền vô hạn của chúng nếu tất cả những điều chúng tôi làm là ngắm
nhìn tâm trí?
Họ bị Bồ đề đạt
ma bắt. Ông ấy đã lừa họ. Ông ấy đã đem tới cho họ một câu hỏi có thể trả lời
được.
Tôi nhớ tới một
bác sĩ chữa bệnh cho một bà rất giầu... chỉ là cảm lạnh thông thường, nhưng nó
không hết. Bác sĩ cũng phát mệt mỏi bởi vì ngày nào bà này cũng tới đứng tại
phòng khám của ông ấy với lời phàn nàn rằng bệnh cảm không hết - và thực ra làm
gì có cách chữa trị cho bệnh cảm thường.
Những người biết
đều nói, "Nếu bạn uống thuốc, nó hết trong bẩy ngày. Nếu bạn không uống
thuốc, nó hết trong một tuần."
Nhưng ông bác
sĩ này mệt mỏi rồi. Ngày nào bà giầu có này cũng tới trong chiếc xe
limousine... và cứ khi ông ấy nghe thấy tiếng xe limousine đậu ngay trước của,
ông ấy lại nói, "Trời, bà ấy lại tới. Cái bệnh cảm thường ấy sắp giết tôi
rồi."
Cuối cùng ông ấy
trở nên chán ngán đến mức ông ấy nói, "Nghe đây, chỉ có một cách chữa
thôi. Tôi đã không bảo bà bởi vì nó có chút khó khăn." Bà này nói,
"Không có vấn đề gì. Tôi đang sẵn sàng làm bất kì cái gì, nhưng tôi muốn
loại bỏ bệnh cảm này."
Thế là ông ấy
nói, "Bà làm một điều: ở ngay sau lâu đài nơi bà sống có một cái hồ lớn. Vậy
bà dậy vào giữa đêm, khi trời thật lạnh và cóng, cởi hết quần áo và nhảy xuống
hồ."
Bà này lắng
nghe nín thở về cái loại chữa trị gì thế này. "...và thế rồi đứng lên bờ,
trần trụi. Đừng lau khô nước trên người. Cứ để cho gió làm bay chúng đi."
Và bà này nói,
"Trời, đây mà là cách chữa trị cho bệnh cảm thường sao? Điều này sẽ làm
cho tôi viêm hai buồng phổi!"
Ông bác sĩ nói,
"Đúng đấy. Tôi có cách chữa cho bệnh viêm hai buồng phổi, nhưng tôi không
có cách chữa cho bệnh cảm thường. Cho nên trước hết tạo ra bệnh viêm hai buồng
phổi đi; thế thì mọi thứ là trong vòng kiểm soát. Khi bà quay lại, quay lại với
bệnh viêm hai buồng phổi và tôi sẽ chữa nó. Nhưng với bệnh cảm thường, tôi
không có cách chữa trị gì khác. Đây là cách chữa trị duy nhất. Khi ai đó muốn
được chữa, thế thì tôi phải cho người đó cách chữa này như phương kế cuối cùng.
Nếu bà có thể xoay xở để tạo ra bệnh viêm phổi, hay viêm hai buồng phổi...
không sợ. Tôi đã có kinh nghiệm hoàn hảo và đã tìm ra cách chữa trị hiệu nghiệm
cho chúng. Tôi đảm bảo điều đó; bà chỉ làm điều tôi vừa bảo bà."
Đó là điều các
triết gia vẫn làm. Bất ki khi nào bạn hỏi họ câu hỏi tối thượng mà không thể được
trả lời, họ bắt đầu đi vào viêm phổi, viên hai buồng phổi. Và người bình thường
bị thách đố bởi lời của họ. Họ hoặc nghĩ câu hỏi của họ đã được trả lời rồi, hoặc
có lẽ họ đã quên mất câu hỏi này vào lúc buổi thuyết giáo dài dằng dặc kết
thúc.
Họ đang hỏi câu
hỏi khác. Bây giờ không có vấn đề gì; họ đang hỏi, "Có biết bao nhiêu ưu
phiền và sự tồn tại thì lại bao la thế, và người ta có biết bao nhiêu kiếp sống
và biết bao nhiêu hành động ác... chỉ bởi ngắm nhìn tâm trí, làm sao người ta
có thể thoát khỏi tất cả những cái đó?"
Chỉ một cách chữa
trị đơn giản, đơn giản thế: quan sát tâm trí bạn và mọi thứ chấm dứt. Điều đó
không thể nào tin nổi được. Mọi người muốn cái gì đó phức tạp, bởi vì vấn đề là
phức tạp...
Trong hàng triệu
kiếp sống của bạn trong quá khứ, bạn phải đã làm vô lượng hành động ác, bạn phải
đã mơ vô lượng giấc mơ ác. Nếu bạn còn chưa phạm tội, bạn có thể nghĩ tới việc
phạm tội. Điều đó không khác biệt gì - liệu bạn thực tế giết ai đó hay bạn đơn
giản nghĩ tới giết ai đó, trong cả hai trường hợp tâm trí bạn đang vận hành
theo cách ác độc. Nó đang rung động theo cách ác độc, và tâm trí mang những
rung động này trong hàng triệu kiếp. Bây giờ biết bao nhiêu hành động ác trong
quá khứ đã được tích luỹ lại, làm sao chúng có thể bị loại bỏ chỉ bởi việc ngắm
nhìn tâm trí?
Nhưng đây không
phải là câu hỏi tối thượng. Đây là câu hỏi rất đơn giản... bởi vì bạn có thể đã
mơ cả đời mình. Trong đêm bạn có thể đã mơ rằng bạn sống cuộc sống một trăm
năm. Và thang thời gian giữa lúc tỉnh và mơ là khác nhau: nếu bạn rơi vào trong
giấc ngủ một giây, bạn có thể mơ một giấc mơ dài nhiều năm. Và khi bạn tỉnh dậy
và nhìn vào đồng hồ mình, bạn bị phân vân: mới một phút trôi qua. Trong một
phút, làm sao bạn có thể đảm đương được giấc mơ dài? Năm tiếp năm đã trôi qua
trong giấc mơ.
Trong mơ thang
thời gian là khác. Khi bạn tỉnh dậy, thang thời gian là khác. Chúng ta không biết
đích xác thang thời gian trong mơ là gì; bằng không chúng ta có thể có khả năng
tạo ra đồng hồ đúng mà bạn có thể đeo khi bạn ngủ nó sẽ cho bạn đích xác thời
gian đúng. Chúng sẽ không tính theo phút và giờ; chúng sẽ là năm, và có lẽ là
năm ánh sáng bởi vì bạn có thể mơ rằng bạn đã ở trên mặt trăng, bạn có thể mơ rằng
bạn đã ở trên vì sao xa nhất.
Phải mất bốn
năm mới tới được ngôi sao gần nhất và bốn năm để quay về - và đó là về ngôi sao
gần nhất! Có những ngôi sao mà phải mất bốn triệu năm, năm triệu năm để đi tới,
và thế rồi năm triệu năm để quay lại. Bạn có thể xoay xở trong một đêm; trong một
giấc mơ, bạn có thể tới ngôi sao xa xôi nhất và bạn có thể quay lại nữa. Bạn phải
quay lại. Bạn không thể vẫn còn ở đó. Không thể có chuyện là bạn có thể tỉnh dậy
trong phòng mình và không tìm thấy bản thân mình ở đó vì bạn đã đi...
Tôi đã nghe:
Hai người bạn đang nói chuyện với nhau về giấc mơ họ có đêm qua. Một người nói,
"Này cậu, giấc mơ mới đẹp làm sao... cá to thế! Trong cả đời mình tớ chưa
từng có khả năng bắt được nhiều cá to thế. Vui thế... cả đêm, tớ cứ đi đi lại lại,
trong hồ, và tìm được cá mỗi lúc một to hơn."
Người kia nói,
"Đây chưa là gì nhé. Cậu thậm chí không quan niệm nổi điều đã xảy ra trong
giấc mơ đêm qua của tớ." Bạn anh ta nói, "Chuyện gì vậy?"
Và người này
nói, "Tớ đang nghĩ xem liệu tớ có nên nói điều đó ra hay không - bởi vì cậu
sẽ không tin điều đó. Ngay cả khi tớ tỉnh dậy, bản thân tớ cũng không thể nào
tin nổi nó nhưng mà nó đã xảy ra. Bỗng nhiên tớ thấy rằng trên giường tớ, một
bên là Sophia Loren. Tớ nói, 'Trời, làm sao cô ấy vào được?' và tớ quay ra nhìn
sang phía bên kia và tớ thấy Marilyn Monroe. Tớ nói, 'Có chuyện gì vậy? Mình đã
chết và lên cõi trời rồi sao?'"
Vào lúc đó anh
chàng kia trở nên rất giận. Anh ta nói, "Cậu là đồ ngốc, sao cậu không điện
thoại cho tớ? Khi hai đàn bà tới... cậu làm gì với hai đàn bà? Một là đủ cho cậu.
Cậu có thể chọn. Tất nhiên đấy là giấc mơ của cậu, cho nên việc chọn lựa đầu
tiên là ở cậu. Nhưng người đàn bà kia thuộc về tớ. Đây là cái loại tình bạn gì
thế này?"
Và người kia
nói, "Tớ sang nhà cậu nhưng họ nói cậu đã đi câu cá rồi."
Trong một giấc
mơ nhỏ bạn có thể làm đủ mọi chuyện... có thể, không thể, đủ mọi thứ! Thang thời
gian là khác. Buổi sáng khi bạn thức dậy, bạn có hỏi làm sao điều ấy là có thể,
chỉ bởi việc thức dậy, mọi giấc mơ đều biến mất - biết bao nhiêu giấc mơ, những
giấc mơ đẹp thế...?
Cũng điều ấy là
tình huống khi người ta trở nên chứng ngộ. Tất cả hàng triệu kiếp sống đơn giản
bay hơi như giấc mơ. Vấn đề không phải là tranh đấu với từng và mọi hành động
ác một cách tách biệt - rằng bạn phải tranh đấu, làm việc tốt, cân bằng với việc
ác - thế thì sẽ phải mất hàng triệu kiếp nữa trước lúc bạn có thể trở nên thức
tỉnh.
Và trong khi
đó, trong hàng triệu kiếp sống này khi bạn đang cố gắng hoàn tác lại quá khứ của
mình, bạn sẽ tiếp tục làm cái gì đó này khác và điều đó sẽ cứ tích luỹ lại. Bạn
không thể nào thoát ra khỏi cái bẫy này. Cách duy nhất để thoát ra khỏi bẫy này
là thức dậy.
Không cái gì
khác được cần. Bạn không phải thay đổi giận dữ của mình, bạn không phải thay đổi
tham lam của mình, bạn không phải thay đổi cái gì cả. Bạn chỉ đơn giản phải tỉnh
táo và nhận biết. Và tất cả những phóng chiếu của tham lam, tất cả những phóng
chiếu của giận dữ, tất cả những phóng chiếu của ảo tưởng sẽ bay hơi hết - giống
như cách, vào mỗi sáng, các giấc mơ của bạn bay hơi. Chúng được làm cùng chất
liệu như giấc mơ được làm nên.
Cho nên đó dường
như là một phương pháp đơn giản và không thể nào quan niệm nổi đối với tâm trí
hợp lí rằng điều đó có thể giải quyết được bất kì cái gì. Chỉ bằng quan sát tâm
trí bạn mà mọi thứ sẽ được biến đổi và bạn sẽ phát hiện ra phật tính của mình,
cái đẹp và vui vẻ tối thượng của mình, sự tồn tại tối thượng của mình, cực lạc
lớn lao nhất của mình. Làm sao điều này là có thể được? Đó là điều đệ tử này đang
hỏi.
Bồ đề đạt ma
nói: Nghiệp của ba cõi giới này tới từ một mình tâm trí. Nếu tâm trí ông không ở
trong ba cõi giới này, nó là vô trí, nó ở ngoài chúng.
Khoảnh khắc bạn
nhận biết, tâm trí trở nên im lặng. Và tất cả những hành động, dù tốt hay xấu,
đều chỉ do tâm trí tạo ra. Chúng giống hệt như cuốn phim bạn thấy trên màn ảnh
của tâm trí. Một khi bạn tỉnh dậy, phim biến mất. Bỗng nhiên có màn ảnh trống...
hoàn toàn im lặng, không cái gì chuyển động, tuyệt đối tĩnh lặng.
Người hữu tử,
người không hiểu việc thực hành đúng và thực hiện mù quáng các hành vi tốt được
sinh vào trong ba trạng thái này... Những người thực hiện mù quáng mười hành vi
tốt và tìm kiếm hạnh phúc một cách ngu xuẩn thì được sinh ra là thần trong cõi
giới của ham muốn. Những người gìn giữ một cách mù quáng năm giới luật và mê đắm
một cách ngu xuẩn trong yêu và ghét được sinh ra là người trong cõi giới của giận
dữ. Và những người níu bám một cách mù quáng vào thế giới hiện tượng này, tin
vào các học thuyết giả dối và hi vọng được ân huệ được sinh ra là quỉ trong cõi
giới của ảo tưởng.
... Nếu ông có
thể chỉ tập trung tâm trí mình và siêu việt lên trên cái giả dối và ác độc của
nó, đau khổ của sự tồn tại sẽ tự động biến mất. Và một khi thoát khỏi đau khổ,
ông là tự do thực sự.
Những lời ông ấy
đang dùng là mang tính thượng đế học, nhưng điều ông ấy đang nói là ở chỗ những
người đang sống trong tham lam muốn ngày càng nhiều hoan lạc hơn. Họ có thể
phóng chiếu cuộc sống của cõi trời, họ có thể được sinh ra trên cõi trời như thần,
nhưng đây sẽ chỉ là phóng chiếu của tâm trí. Nó sẽ chỉ là niềm tin.
Tôi sống với một
giáo sư và khi một hôm tôi nói về phóng chiếu, ông ấy không sẵn sàng tin rằng mọi
thứ đều là phóng chiếu. Ông ấy có một người em trai và tôi đã quan sát người em
trai này, bởi vì chúng tôi đã sống gần ba tháng với nhau trong cùng ngôi nhà.
Người em trai này đã trở nên rất gắn bó với tôi và tôi quan tâm tới anh ta bởi
vì tôi có thể thấy anh ta có khả năng vô biên bị thôi miên.
Ba mươi ba phần
trăm mọi người rất có khả năng bị thôi miên. Đây là số phần trăm rất kì lạ - ba
mươi ba phần trăm, bởi vì chỉ ba mươi ba phần trăm mọi người là có tài năng nữa.
Và chỉ ba mươi ba phần trăm mọi người còn quan tâm hơn tới mọi loại tìm kiếm
bên trong. Và chỉ ba mươi ba phần trăm mọi người là cởi mở, sẵn có, để bị thôi
miên. Phải có mối nối bên trong nào đó giữa tất cả những điều này. Có lẽ phẩm
chất của việc bị thôi miên có thể là tiêu chí cho khả năng của một người đi vào
bên trong. Bởi vì trong thôi miên người ta đi vào bên trong với sự giúp đỡ của
người khác; trong thiền, người ta đi vào bên trong theo cách riêng của mình.
Nhưng con đường là như nhau.
Cho nên để chứng
minh cho người này - ông giáo sư về logic này và chưa bao giờ tin vào bất kì
cái gì trừ phi có bằng chứng nào đó được tạo ra - tôi đã thôi miên cậu em của
ông ta. Và tôi ngạc nhiên là thậm chí ngay trong lần ngồi lần đầu tiên, anh ta
đã đi sâu đến mức không cần phải ngồi thêm nữa. Tôi cứ ngỡ ít nhất phải chín lần
ngồi và thế thì thực nghiệm có thể được tiến hành. Nhưng ngay lần ngồi lần đầu
tiên anh ta đi sâu đến mức tôi phải bảo anh ta, "Ngày mai, vào đúng mười
hai giờ - và mai là chủ nhật cho nên tôi sẽ ở nhà, anh của cậu sẽ ở nhà, cậu sẽ
ở nhà - đừng đi đâu cả. Đúng mười hai giờ cậu phải hôn cái gối cậu đang nằm vào
ngay bên phải. Tôi đánh dấu chỗ đó bằng dấu chữ thập; đích xác chữ thập đó cậu
phải hôn vào."
Tôi nhắc đi nhắc
lại điều đó mãi. Và khi tôi chắc chắn rằng điều đó đã trở thành dấu in trong
tâm trí vô thức của cậu ta, trước khi cậu ta tỉnh dậy tôi đánh dấu chữ thập
trên góc gối của cậu ấy bằng mực đỏ.
Phải mất nửa giờ
mới đưa được cậu ta trở lại, cậu ta đã đi sâu thế. Sau khi tỉnh lại, cậu ta trở
nên bình thường, ngoại trừ một điều; cậu ta cứ nhìn đi nhìn lại chiếc gối và đặc
biệt vào dấu chữ thập. Và thế rồi cậu ta cũng cảm thấy thẹn thùng về điều mình
làm, bởi vì không có lí do để nhìn vào chiếc gối và dấu chữ thập. Tâm trí có ý
thức của cậu ta không nhận biết gì cả, nhưng tâm trí vô thức bây giờ đang phóng
chiếu cái gì đó mà cậu ta không nhận biết.
Ngày hôm sau, gần
quãng mười một giờ rưỡi, cậu ta trở nên rất bồn chồn. Cái gì đó từ vô thức đang
diễn ra, bảo cậu ta phải làm cái gì đó mà tất nhiên cậu ta nghĩ là điên
khùng... phải hôn. Và tôi có đấy, anh cậu ta có đấy và tôi đã bảo anh cậu ta rằng
ông ấy phải ngồi và quan sát điều xảy ra.
Vao mười một giờ
năm mươi, tôi lấy cái gối, cho vào trong va li của mình và khoá lại. Và bạn có
thể thấy điều đã xảy ra cho cậu trẻ đó... nước mắt tuôn trào từ mắt cậu ta. Và
tôi hỏi, "Có chuyện gì vậy? Sao cậu lại khóc?"
Nó nói,
"Em không biết, nhưng đừng cất cái gối của em vào trong va li. Em xin
anh."
Tôi nói,
"Nhưng có gì sai đâu? Tôi sẽ trả lại cho em, vào buổi tối khi em đi ngủ."
Nó nói,
"Không, em cần nó ngay bây giờ." "Cần để làm gì?"
"Em không
biết cần để làm gì. Đó là lí do tại sao em khóc, bởi vì em không thể đưa ra bất
kì lời giải thích nào được, nhưng em cần cái gối đó ngay lập tức."
Thế là tôi đưa
cho nó chiếc chìa khoá. Nó xô lại - bởi vì đã gần đến mười hai giờ rồi - nó mở
va li ra, lôi chiếc gối ra và bắt đầu hôn chữ thập đó gần như điên dại. Hệt như
bất kì người yêu nào gặp lại người mình yêu sau nhiều năm.
Tôi hỏi nó, anh
nó hỏi nó, "Em làm gì vậy?”
Nó nói,
"Em không biết, nhưng em cảm thấy nhẹ nhõm thế. Một gánh nặng như thế đã
được trút bỏ khói trái tim em. Nhưng em không biết cái gì... ai đã làm ra chữ
thập này, tại sao em có lực đẩy cực mạnh đến mức nếu em không hôn chữ thập này
thì em có thể chết. Em phải làm điều đó vào đúng mười hai giờ. Điều đó tới từ
bên trong em và em không biết gì về điều đó cả.
Anh nó nói,
"Tôi chấp nhận bằng chứng này."
Khi bạn trở nên
say mê điên cuồng một người đàn bà, bạn có cho rằng người đàn bà của bạn chỉ là
dấu chữ thập trên chiếc gối hay không? Say mê điên cuồng sinh học chăng? Phóng
chiếu từ vô thức, bắt rễ rất sâu - không bởi bất kì ai, nhưng bởi bản thân tự
nhiên.
Hooc môn của bạn,
hoá chất của bạn, sinh học của bạn, chúng tất cả đang vận hành trong một mưu đồ
nào đó chống lại nhận biết của bạn. Chúng làm cho bạn bất ổn, chúng làm cho bạn
bị hấp dẫn không thể nào cưỡng lại được vào người nào đó và điều đó vượt ra
ngoài quyền lực của bạn để ngăn cản bản thân mình khỏi sự hấp dẫn hay mê đắm
này. Bạn sẽ bị kéo đi như một con rối.
Không phải ngẫu
nhiên mà mọi ngôn ngữ đều nói, người ta rơi vào tình yêu. Người ta chắc chắn tời
vào tình yêu - rơi vào vô ý thức, rơi vào thôi miên sinh học, rơi vào trong bản
tính bản năng. Họ không còn là con người có ý thức. Đó là lí do tại sao loại mê
đắm và chuyện tình này kết thúc rất chóng vánh. Một khi bạn đã có được người
đàn bà, một khi bạn đã hôn được chiếc gối... kết thúc! Một gánh nặng lớn, một sự
giảm nhẹ lớn, nhưng đấy là chiếc gối.
Cho nên đấy là
một hiện tượng đơn giản, nhưng người đàn bà bạn đã hôn... và bạn không thể nào
hôn mà không có dạo đầu. Điều đó cần việc giới thiệu nào đó - đi tới rạp chiếu
phim, tới sàn nhảy, đủ mọi thứ xem như sự cần thiết sơ khởi. Hứa đủ mọi lời hứa,
tặng hoa rồi tặng kem - đây là phần dạo đầu. Và sau tất cả những việc dạo đầu
này, khi bạn hôn người đàn bà, cô ấy không chỉ là cái gối. Bây giờ cô ấy sẽ níu
bám lấy bạn. Bây giờ bạn không thể thoát được. Bây giờ bạn muốn thoát ra nhưng
bản dạo đầu của riêng bạn đã tạo ra nhà tù. Bây giờ bạn không thể đi ngược lại
lời mình.
Tất cả những
người tìm kiếm tâm thức con người đều tuyệt đối đồng ý về điểm rằng mọi khổ của
bạn hay sướng của bạn, buồn của bạn hay vui của bạn, không là gì ngoài phóng
chiếu của bạn. Nó tới từ sâu trong tâm trí vô thức của bạn và người khác đang vận
hành chỉ như chiếc màn ảnh. Một khi nó được hoàn thành, bạn bị chấm dứt. Và bỗng
nhiên, cùng người đàn bà mà bạn đã sẵn sàng chết cho... bạn sẵn sàng giết chết
cô ấy.
Kì lạ... thay đổi
lớn lao thế. Yêu biến thành ghét dễ dàng thế. Và vậy mà bạn không nhận biết rằng
yêu và ghét cả hai đều là phóng chiếu của bạn. Khi cái này kết thúc, cái kia
còn đấy.
Đúng là một khi
bạn thoát khỏi đau khổ, bạn tự do thực sự. Và tất cả những điều Bồ đề đạt ma
nói đều đúng. Nhưng ông ấy đã không trả lời câu hỏi.
Tôi muốn nói với
bạn rằng không ai trả lời được cho câu hỏi này. Và lí do là bởi vì cuộc sống là
bí ẩn. Bạn có thể đi thật xa, và thế thì tất cả tâm trí bạn phải bị bỏ lại đằng
sau và bạn đi vào trong sự tồn tại nơi không câu hỏi nào có liên quan, không
câu trả lời nào tới từ bạn. Nhưng bạn có thể tận hưởng kinh nghiệm này vô cùng.
Tôi ủng hộ tất cả cho kinh nghiệm, không ủng hộ tri thức.
Tôi cảm thấy buồn
và tiếc cho Bồ đề đạt ma, bởi vì ông ấy đã không đáp ứng được tôi. Giá như ông ấy
nói, "Tôi không biết" ông ấy đã nâng mình lên thành nhà huyền môn cao
nhất và vĩ đại nhất mà thế giới đã từng biết tới.
Nhưng tôi muốn
nói với các bạn: tôi không biết. Và tôi muốn nhấn mạnh rằng bạn cũng nên nhớ, bất
kì khi nào có câu hỏi tối thượng, đừng cố gắng lừa dối người khác hay lừa dối
mình. Đơn giản chấp nhận sự hồn nhiên của bạn. Nói với sự khiêm tốn, "Tôi
không biết".
Vấn đề không phải
là dốt nát. Vấn đề là ở nhận biết của bạn rằng cuộc sống là điều bí ẩn, phép
màu. Bạn có thể nếm trải nó nhưng bạn không thể diễn đạt bất kì cái gì về việc
nếm trải cả. Bạn không thể định nghĩa được nó. Và đây là sự vĩ đại của sự tồn tại.
Đây là nơi mọi nhà khoa học đã thất bại, đây là nơi mọi triết gia đã thất bại.
Đây là nơi duy nhất nhà huyền môn đã thành công.
Bồ đề đạt ma là
nhà huyền môn và nếu ông ấy gặp tôi... và ở đâu đó có một khả năng trong cuộc sống
vĩnh hằng này, trong sự tồn tại vô tận này, một ngày nào đó, ở đâu đó tôi sẽ bắt
gặp ông ấy. Và ông ấy sẽ nhận ra tôi bởi vì tôi đang đi cùng chiếc dép mà ông ấy
đã treo trên cây thiền trượng của mình - hệt kiểu. Chiếc dép của tôi bắt nguồn
từ các thiền viện ở Nhật Bản. Nó là thiền Zen đặc biệt - thiền nhân có mọi thứ
của riêng họ. Cho dù họ có cùng chiếc chén và đĩa đựng chén mua từ chợ, trước
tiên họ đập chúng ra, thế rồi họ dán chúng lại. Thế thì họ làm chúng thành duy
nhất, thế thì không có chiếc chén nào giống như thế cả - thế thì nó trở thành
thiền, nguyên bản, và không có bất kì bản sao nào ở bất kì đâu. Chỉ một kiểu.
Chiếc dép mà
các bạn thấy đã được thiền nhân dùng từ Bồ đề đạt ma, trong gần mười bốn thế kỉ.
Chiếc dép đầu tiên đã được gửi tới cho tôi từ một thiền sư ở Nhật Bản như quà tặng.
Cho nên ông ấy
sẽ lập tức nhận ra tôi. Tôi chỉ phải chỉ cho ông ấy chiếc dép của tôi. Và tôi
phải hỏi ông ấy tại sao ông ấy đã bỏ lỡ một cơ hội lớn thế... khi ông ấy đáng
ra có thể đã trở thành nhà huyền môn vĩ đại nhất trên thế giới. Và ông ấy đã có
mọi khả năng. Ông ấy có thiên tài về điều đó.
Được chứ,
Maneesha? Vâng, thưa Osho
Xem tiếp Chương 17 - Quay về Mục lục