Osho
– Bồ Đề Đạt Ma: Thiền sư vĩ đại nhất
Chương
17: Nhận mạo hiểm bán sỉ
Ba bộ giới luật là để vượt qua ba trạng thái độc hại của tâm trí. Khi ông vượt qua ba chất độc này, ông tạo ra ba bộ đức hạnh vô giới hạn. Một bộ thu thập mọi thứ lại - trong trường hợp này, vô số ý nghĩ tốt trong khắp tâm trí ông. Và sáu đường vượt qua là để làm thuần khiết sáu giác quan. Điều chúng ta gọi là paramita - đường vượt qua, các ông gọi là phương tiện để sang bờ bên kia. Bằng việc làm thuần khiết sáu giác quan của ông khỏi bụi bặm của cảm giác, con thuyền vượt qua chở ông ngang qua Dòng sông của ưu phiền sang Bờ của Chứng ngộ.
Tương ứng với lời
kinh này, ba bộ giới luật là, "Tôi nguyện chấm dứt mọi điều ác. Tôi nguyện
trau dồi mọi đức đức hạnh. Và tôi nguyện giải thoát mọi chúng sinh." Nhưng
bây giờ thầy nói chúng chỉ để kiểm soát ba trạng thái độc hại của tâm trí.
Không phải điều này mâu thuẫn với ý nghĩa của kinh sách sao?
Nhưng Phật nói,
"Chỉ sau trải qua muôn trùng gian nan cho ba asankhya kalpas ta đạt tới chứng
ngộ". Tại sao bây giờ thầy nói rằng đơn giản hãy cứ ngắm nhìn tâm trí và
khắc phục ba chất độc là giải thoát?
Lời của Phật là
đúng. Nhưng ba asankhya kalpas nói tới ba trạng thái độc hại của tâm trí. Điều
chúng ta gọi là asankhya trong tiếng Phạn, các ông gọi là vô số. Bên trong ba
trạng thái độc hại này của tâm trí là vô số ý nghĩ ác độc. Và mọi ý nghĩ đều
kéo dài một kalpa. Vô số như vậy là điều Phật ngụ ý qua ba asankhya kalpas...
Nhưng các bồ
tát vĩ đại chỉ đạt tới chứng ngộ bằng việc gìn giữ ba bộ giới luật và bằng việc
thực hành sáu đường vượt qua. Bây giờ thầy bảo các đệ tử đơn thuần ngắm nhìn
tâm trí. Làm sao bất kì ai có thể đạt tới chứng ngộ mà không trau dồi các qui tắc
của kỉ luật?
Lời kinh của Phật
là đúng. Nhưng từ lâu trước đây, khi vị bồ tát vĩ đại đó vun trồng hạt mầm của
chứng ngộ, để chống lại ba chất độc đó, ông ấy đã làm ra ba lời nguyện này. Khi
thực hành những cấm đoán đạo đức để chống lại chất độc tham lam, ông ấy đã nguyện
đặt dấu chấm dứt mọi điều ác. Khi thực hành thiền để chống lại chất độc giận dữ,
ông ấy đã nguyện trau dồi mọi đức hạnh. Và khi thực hành trí huệ để chống lại
chất độc ảo tưởng, ông ấy đã nguyện giải thoát tất cả chúng sinh. Bởi vì ông ấy
gìn giữ trong ba thực hành thuần khiết này về đạo đức, thiền và trí huệ, ông ấy
có khả năng vượt qua ba chất độc và đạt tới chứng ngộ. Bằng việc vượt qua ba chất
độc này, ông ấy lau sạch mọi thứ tội lỗi và do vậy đặt kết thúc cho điều ác. Bằng
việc gìn giữ ba bộ giới luật, ông ấy đã không làm gì ngoài điều thiện và do vậy
trau dồi đức hạnh. Và bởi việc đặt kết thúc cho điều ác và trau dồi đức hạnh,
ông ấy tiêu tán mọi thực hành, làm ích lợi cho bản thân mình cũng như những người
khác và cứu giúp người hữu tử ở mọi nơi. Vậy, ông ấy giải thoát cho chúng sinh.
Bồ đề đạt ma
bây giờ thực sự đối diện với câu hỏi mà ông ấy không có câu trả lời. Trường hợp
này là hệt như với lời kinh đêm hôm trước và nó tiếp tục bởi vì các đệ tử này
đang hỏi ngày càng nhiều về điều tối thượng, điều đơn giản gây trở ngại cho mọi
tri thức. Nó là an bình, im lặng... không có câu trả lời.
Nhưng thực sự
khó chấp nhận rằng bạn chứng ngộ và bạn không biết câu trả lời cho câu hỏi tối
thượng. Thế thì chứng ngô của bạn đã làm gì cho bạn nếu như nó đã không giải
quyết được bí ẩn này? Thế thì bạn đã nhận được loại trí huệ gì?
Điều này phải
được làm sáng tỏ cho bạn. Tương truyền rằng Bồ đề đạt ma đã không làm sáng tỏ
điều đó cho đệ tử của mình; ngược lại ông ấy cứ tiếp tục trả lời các câu hỏi mà
không thể nào được trả lời bởi chính bản chất của chúng.
Nhưng đây là vấn
đề mọi thầy phải đối diện. Khi câu hỏi là tầm thường thầy hoàn toàn dễ dàng trả
lời, nhưng khi đệ tử trở nên ngày càng thông thạo trong việc hỏi của mình và họ
bắt đầu động chạm tới điều tối thượng, thầy lâm vào tình thế khó khăn. Cho nên
không để cho đệ tử cảm thấy rằng mình không biết, thầy cứ tiếp tục trả lời -
nhưng các câu trả lời đó không phải là trả lời đúng. Bản thân chúng là hoàn
toàn đúng đối với một số câu hỏi khác, nhưng không đúng cho những câu hỏi đã được
đặt ra trước thầy.
Câu hỏi này là
rất quan trọng. Nhưng ngay cả những thầy vĩ đại nhất như Bồ đề đạt ma thuộc vào
dòng triết lí đặc biệt, bộ học thuyết đặc biệt; do đó họ phải lặp lại hệ thống
ý thức hệ mà họ đã chấp nhận.
Điều đó là khác
toàn bộ đối với tôi. Tôi không thuộc vào bất kì ý thức hệ nào. Tôi không phải
an ủi bất kì ai. Tôi không bận tâm với ai bị tức giận và cáu kỉnh. Mối quan tâm
duy nhất của tôi là ở chỗ khi bạn hỏi một câu hỏi, bạn cần một câu trả lời chân
thành - không theo ý thức hệ nhưng theo kinh nghiệm riêng của tôi.
Đệ tử này hỏi:
Nhưng Phật nói, "Chỉ sau khi trải qua muôn trùng gian nan cho ba asankhya
kalpas ta đã đạt tới chứng ngộ". Tại sao bây giờ thầy nói rằng đơn giản ngắm
nhìn tâm trí và khắc phục ba chất độc là giải thoát?
Chân lí có chút
ít phức tạp. Trước hết tôi sẽ giải thích quan điểm của tôi, nếu như tôi trả lời
cho câu hỏi này. Thế thì sẽ dễ dàng hơn cho bạn để hiểu sự khác biệt, khi một
người trả lời theo một trường phái ý thức hệ nào đó mà người đó thuộc vào, và
khi một người trả lời chỉ từ kinh nghiệm riêng và sự đáp ứng của người đó.
Phật chắc chắn
đã nói: "Chỉ sau khi trải qua muôn trùng gian nan cho ba asankhya kalpas
ta đã đạt tới chứng ngộ". Nhưng như tôi có thể thấy, đây không phải là
phát biểu đúng của bản thân Phật Gautam. Chính điều tông phái Đại thừa của Phật
giáo hiện đang duy trì là câu trả lời. Bây giờ Phật không có đó để bác bẻ nó,
và mọi điều mà ông ấy đã nói đã được viết ra sau cái chết của ông ấy. Và nó đã
được viết ra theo đồng thuận thông thường: một cuộc tụ tập lớn đã triệu tập mọi
đệ tử cũ, những người đã nghe ông ấy nói ngay từ đầu, và họ lắp ráp lại điều mọi
người nhớ được.
Có bất đồng, có
xung đột, có mâu thuẫn, và toàn thể cuộc tụ tập đã chia thành ba mươi hai nhóm
và họ tách biệt lẫn nhau. Và tất cả ba mươi hai nhóm này đều có kinh sách riêng
của họ, báo cáo riêng của họ về điều Phật đã nói. Đại Thừa chỉ là một phái, lớn
nhất, có nhiều người theo nhất. Và chắc chắn lí do tại sao nó là lớn nhất là ở
chỗ nó nói rằng Phật, một khi đã thức tỉnh, vẫn còn ở bờ bên này để giải thoát
cho mọi người.
Thực ra, họ thậm
chí đã bịa ra cả câu chuyện: Khi Phật tới cửa của moksha, lâu đài an nghỉ tối
thượng cho những người đã được giải thoát, cửa đã mở ra và có nhạc nhã ngân
vang và tung hô đón chào bởi vì hiếm lắm, rất hãn hữu mới xảy ra việc một người
đi tới chứng ngộ vĩ đại như thế. Hàng nghìn năm trôi qua và cánh cửa vẫn im ỉm
đóng. Một cách tự nhiên đã có tưng bừng hớn hở lớn trong số các chư phật khác,
người đã vào moksha trong hàng triệu năm đã qua. Họ đón chào khách mới.
Nhưng Phật đã từ
chối không vào cổng. Ông ấy quay lưng lại cổng và nói với người giữ cổng,
"Xin đóng cổng lại. Tôi sẽ đứng ở ngoài cổng cho tới khi người cuối cùng
đã trở nên chứng ngộ. Điều đó có thể mất hàng triệu và hàng triệu năm - không
thành vấn đề. Tôi an bình. Tôi đang trong tuyệt đối cực lạc. Tôi có thể đợi.
Nhưng sẽ có chút ít ích kỉ nếu bước vào cổng và quên tất cả về những người vẫn
còn đang loạng choạng trong bóng tối."
Mọi nỗ lực đều
đã được thực hiện để thuyết phục ông ấy rằng điều này không phải là cách thức...
chưa từng có ai làm điều này trước đó. Ông ấy nói, "Điều đó đơn giản có
nghĩa là không ai đã vào moksha với trái tim từ bi. Vì từ bi với các anh và chị
con người của tôi, tôi có thể từ bỏ ngay cả bản thân moksha. Điều đó không
thành vấn đề với tôi. Nó không thể cho tôi nhiều hơn cái tôi đã nhận được. Tôi
sẽ đứng ở đây trước cánh cửa này và khi nào con người cuối cùng đã đi vào, thế
thì tôi sẽ đi qua."
Đây là câu chuyện
hư cấu của phái Đại Thừa. Bởi vì ý tưởng từ bi này đối với người khác, một cách
tự nhiên Đại Thừa hấp dẫn được nhiều người hơn, những người không có khả năng
trở nên thức tỉnh theo cách riêng của họ. Họ cần giúp đỡ. Họ cần người đã thức
tỉnh, từ bi. Và phái Đại Thừa thuyết giảng rằng mọi người chứng ngộ trong Đại
Thừa sẽ làm mọi điều có thể mà người đó có thể làm để làm cho ngày càng nhiều
người được giải thoát. Bởi vì người đó bây giờ có bổn phận kép: mọi người phải
được giải thoát và thứ hai là, nếu mọi người không được giải thoát, Phật Gautam
phải đứng tại cổng trong hàng triệu năm. Cho nên từ bi với những người này - họ
phải làm mọi nỗ lực để giải thoát họ, và biết ơn Phật Gautam và việc đứng đợi
kì lạ của ông ấy, rằng ông ấy đang phản bội moksha, trạng thái tối thượng của
im lặng và an bình và nghỉ ngơi chỉ để cho chắc rằng không ai bị bỏ lại sau.
Phái kia là Tiểu
Thừa Hinayana; nó không hấp dẫn được nhiều người mấy. Chính từ này có nghĩa
"thuyền nhỏ". Đại Thừa có nghĩa "thuyền lớn"... con tầu đại
dương, cho nên hàng nghìn người có thể đi sang bờ bên kia cùng nhau. Nhưng
trong chiếc thuyền nhỏ, chỉ một người có thể đi được. Và những người đã tạo ra
Tiểu Thừa là các a la hán. Họ đã chứng ngộ và quan điểm của họ là ở chỗ thậm
chí làm nỗ lực để giải thoát mọi người là can thiệp vào tự do cá nhân của họ. Đấy
không phải là từ bi, đấy không phải là tình yêu: tình yêu đem cho tự do.
Từ bi không áp
đặt cách sống nào đó lên mọi người, và giải thoát là cách sống nào đó. Mặc dầu
điều đó là tốt cho họ, dầu vậy bạn vẫn áp đặt lên họ, nhấn mạnh vào điều đó, rằng
họ theo con đường này, rằng họ đừng phí thời gian. Bạn không cho phép họ tự do
toàn bộ để là bản thân mình. Khi họ cảm thấy thích đi trên con đường, họ sẽ đi.
Và nếu họ không cảm thấy thích, đấy không phải là mối bận tâm của ai cả. Đấy là
quyền tuyệt đối của họ để vẫn còn trong thế giới này và không đi tới moksha.
A la hán diễn
giải từ bi theo cách rất tinh tế, với một cảnh quan khác, rất toàn bộ. Rất khó
để chọn ai là đúng. Cả hai dường như đều đúng cả...
Nhưng Tiểu Thừa
tự nhiên không thể thu được nhiều đệ tử. Ai sẽ quan tâm tới những người theo
phái Tiểu Thừa, người thậm chí không quan tâm tới giải thoát của bạn? Họ sẽ
không nói, họ sẽ không hỗ trợ, họ sẽ không đưa tay ra cho bạn để kéo bạn ra khỏi
hố. Họ sẽ đơn giản chờ đợi. Nếu bạn có khả năng ngã xuống hố bạn chắc chắn có
khả năng ra khỏi nó. Nếu bạn có khả năng sa vào đường sai, bạn chắc chắn có khả
năng cảm thấy khổ, đau khổ của con đường sai; bạn có thể thay đổi con đường của
mình. Không ai khác có thể làm điều đó cho bạn.
Cho nên đây là
cách diễn giải của Đại Thừa, rằng Phật mất hàng triệu năm để trở nên chứng ngộ.
Với a la hán tình huống này là khác toàn bộ. Họ nói vấn đề không phải là hàng
triệu năm và nỗ lực gian nan. Đấy tất cả chỉ là giấc mơ. Dù cho bạn mơ ba triệu
năm, hay ba ngày, hay ba phút, điều đó không khác biệt gì. Khoảnh khắc bạn thức
dậy, mọi giấc mơ sẽ được thấy đơn giản là rỗng tuếch. Thế thì không có căng thẳng
như vậy.
Ngay cả kỉ luật
của bạn - điều bạn đang thực hành để đạt tới giải thoát - thực sự là một loại
tham lam. Và tham lam không thể phá huỷ được tham lam. Nó là tham vọng, và tham
vọng không thể phá huỷ được bản ngã. Có lẽ nó là tham vọng lớn nhất - được giải
thoát, được chứng ngộ.
Nhưng bất kì
khi nào có ham muốn và tham vọng, bạn trong tù túng. Và mọi thực hành của bạn
và mọi kỉ luật của bạn đều là thực hành trong mơ. Cũng gần như là bạn yếu,
nhưng trong giấc mơ của mình bạn tập thể dục nhiều và bạn cảm thấy rằng bạn đã
trở thành vô địch thế giới. Nhưng đến sáng khi bạn thức dậy, vẫn cùng con chuột
ấy đang ngủ trong giường. Điều gì đã xảy ra với mọi tập luyện của bạn mà bạn đã
từng mơ tới?
Bạn có thể mơ
là một hiền nhân vĩ đại, bạn có thể mơ là một tên trộm khét tiếng, bạn có thể
mơ giết chết nhiều người, bạn có thể mơ phục vụ nhiều người nhưng sáng ra bạn sẽ
cảm thấy không có phân biệt gì giữa những giấc mơ đó cả. Chúng tất cả đều là giấc
mơ được tạo nên từ cùng chất liệu. Chúng tất cả đều hư huyễn. Cái tốt là hư huyễn
như cái xấu. Kỉ luật tâm linh là hư huyễn như giết ai đó. Cho nên những người
không tin vào thuyết Đại Thừa nói bạn có thể trở nên chứng ngộ, tại đây và bây
giờ. Đó thực sự là lập trường của Bồ đề đạt ma. Và điều đó đang tạo ra vấn đề
bây giờ. Ông ấy không thể nói Phật sai; điều đó là không thể được. Ông ấy yêu
Phật Gautam, ông ấy là đệ tử của Phật Gautam, cho nên ông ấy không thể nói Phật
Gautam sai được. Ông ấy phải nói lời của Phật là đúng.
Nhưng lập trường
riêng của ông ấy là ở chỗ bất kì cái gì bạn làm trong vô ý thức của mình đều vô
nghĩa. Khi bạn thức dậy tất cả điều đó biến mất trong vài giây. Và bạn có thể
thức dậy vào bất kì khoảnh khắc nào. Chỉ một phương cách đúng đắn nào đó và bạn
sẽ được thức tỉnh.
Bạn có thể thức
dậy vào nửa đêm. Giấc mơ không thể ngăn cản bạn khỏi việc thức dậy; giấc ngủ của
bạn cũng không thể ngăn cản bạn khỏi việc thức dậy. Đấy chỉ là ý chí riêng của
bạn không thức dậy. Đó là lí do tại sao ngủ tiếp tục và mơ tiếp tục. Nếu ý chí
để thức dậy nảy sinh trong bạn, thế thì chứng ngộ là tức khắc.
Bây giờ đây là
quan điểm riêng của Bồ đề đạt ma. Nhưng ông ấy gặp khó khăn bởi vì ông ấy thuộc
vào phái Đại Thừa và ông ấy thuyết giảng ở Trung Quốc cho phái Đại Thừa mà
Trung Quốc cũng thuộc vào. Những đệ tử kia, người đã hỏi, đều trích dẫn Phật
theo kinh Đại Thừa. Bây giờ không ai biết liệu Phật đã nói cho họ hay họ đã đặt
ra phái nào đó, bởi vì trong phái Tiểu Thừa không tìm thấy những kinh đó. Và
đây mới chỉ là hai phái... hai phái chính. Còn ba mươi phái khác là những dòng
chảy rất nhỏ, nhưng họ cũng có cái gì đó, sự huy hoàng của riêng họ, và họ tất
cả đều khác nhau.
Nhưng một điểm
tất cả đều đồng ý: rằng Phật không thể sai được. Họ không thể nói rằng Phật là
sai. Cho nên họ phải đi vòng vo khi nói rằng Phật là đúng. Vậy mà điều họ nói
cũng đúng, mặc dầu nó mâu thuẫn. Đệ tử này đang hỏi: "Tại sao bây giờ thầy
nói rằng đơn giản ngắm nhìn tâm trí và khắc phục ba chất độc là giải thoát? Thầy
làm cho điều đó thành quá đơn giản."
Bản thân Phật nói
rằng ông ấy đã trải qua muôn trùng gian nan cho ba asankhya kalpas - tức là, vô
lượng năm - và thế rồi ông ấy đạt tới chứng ngộ. Điều đấy không phải là tức khắc.
Nó có lịch sử dài hàng triệu năm sau nó... về việc làm điều tốt, tránh điều ác,
thực hành thiền, thực hành các kỉ luật khác. Phải mất ba thời đại vô lượng ông ấy
mới trở thành vị phật.
Nếu đây là tình
huống của Phật Gautam, người dường như là con người vĩ đại nhất đã từng sống
trên trái đất, thế thì tình huống cho người thường sẽ là gì? Có lẽ thay vì
ba... mười ba hay ba mươi asankhya kalpas! Nhưng bạn đang nói rằng chỉ bằng việc
quan sát tâm trí mình, chỉ ngay chính khoảnh khắc này, bạn có thể trở nên được
chứng ngộ.
Làm sao hai
thái độ khác nhau này đã phát sinh? Nếu bạn không hiểu điều nền tảng, bạn sẽ
không có khả năng hiểu được khó khăn của Bồ đề đạt ma. Phật đã rời bỏ cung điện
của ông ấy khi ông ấy hai mươi chín tuổi. Ông ấy đã đi tới mọi thầy giáo lớn nổi
tiếng thời ông ấy và ông ấy đã là người tìm kiếm chân thành đến mức ông ấy mạo
hiểm mọi thứ. Bất kì điều gì những thầy giáo đó nói, ông ấy đều đã làm một cách
còn hoàn hảo hơn là họ đã từng trông đợi từ bất kì ai. Thực ra, bản thân họ đã
không hoàn hảo được đến vậy.
Và Phật đã nói,
"Ta đã làm điều đó, nhưng không cái gì xảy ra cả. Ta vẫn dốt nát như ta
trước đây. Đúng, ta đã học được kĩ năng nào đó. Ta có thể vặn vẹo thân thể, bằng
yoga. Nhưng điều đó không làm cho ta nhận biết về bản thể mình; nó không đem lại
cho ta điều tốt, chân lí."
Sự chân thành của
ông ấy là không gì hoài nghi cả. Ngay cả thầy giáo của ông ấy cũng cảm thấy xấu
hổ. Họ chưa bao giờ bắt gặp một học trò như vậy. Thầy giáo, thầy giáo thường,
bao giờ cũng thích các học trò tầm thường bởi vì so sánh với họ, ông ta là thầy
giáo lớn lao. Và bất kì khi nào - đôi khi điều đó xảy ra - một học trò vĩ đại,
người vượt hẳn lên cao hơn bản thân thầy giáo, tới với ông ấy, thế thì thầy cảm
thấy giận dữ, bực dọc, bởi vì học sinh liên tục đem tới những câu hỏi mà thầy
giáo không thể nào trả lời nổi. Bất kì cái gì thầy trả lời, học sinh bao giờ
cũng bác bẻ điều đó.
Một trong các
thầy giáo của tôi phát mệt với tôi bởi vì tám tháng liên tục tôi không để cho
ông ấy tiến được một phân. Chúng tôi bị kẹt lại tại một điểm. Ông ấy đem ra đủ mọi
loại luận cứ và ông ấy nhìn vào sách... Tôi cũng làm việc vất vả để bác bẻ lại
ông ấy và mọi sinh viên đều thích thú điều đó - bởi vì ông thầy này bị díu líu
quá nhiều với tôi, nên ông ấy hoàn toàn quên mất không cho bài tập về nhà; hay
dạy cái gì đó khác. Không có thời gian, bởi vì bài học đầu tiên vẫn còn chưa được
dạy xong cho nên ông ấy không thể chuyển sang bài thứ hai được.
Kì thi đang tới
gần và thế rồi ông ấy trở nên thực sự khùng với tôi. Ông ấy bắt đầu quát tháo
tôi. Tôi nói, "Xin thầy nghe cho, thầy là một ông già. Nếu thầy quát nhiều
thế, thầy có thể bị đau tim. Và em hi vọng là không có ngừng tim... chỉ đau tim
nhẹ. Nhưng thầy đừng cho rằng bằng việc quát lên, thầy có thể làm em câm đi. Và
nếu thầy nghĩ đây là trận đấu về nói to, em cũng có thể quát. Và thầy là một
ông già - em sẽ thực sự thích thú quát lên. Cho nên xin thầy bình tĩnh lại."
Ông ấy hiểu ra
vấn đề, nhưng ông ấy bỏ lớp và tới gặp ông hiệu trưởng và nói, "Bây giờ
tuyệt đối chắc chắn rằng hoặc là tôi ở lại trường, ở lại đại học này, hoặc là cậu
sinh viên này ở lại. Ông có thể chọn." Ông hiệu trưởng nói, "Nhưng vấn
đề gì vậy? Cậu ta đã làm điều gì sai trái với ông sao?"
Ông ấy nói,
"Cậu ta không cho tôi dạy cho sinh viên và kì thì đang tới gần. Mọi sinh
viên sẽ trượt, trừ mỗi cậu ta. Và cậu ta có sức chịu đựng kì lạ. Tôi đã làm việc
cần mẫn. Tôi chưa bao giờ làm việc cần mẫn như vậy, đọc mãi khuya trong đêm,
tìm ra các luận cứ mới, rồi ngày hôm sau cậu ta đơn giản bác bẻ chúng. Cậu ta
làm việc cần mẫn hơn tôi. Tất nhiên cậu ta còn trẻ và thật rất xấu hổ khi ngày
nào cũng bị thất bại. Tôi xin từ chức. Tôi sẽ không tới trường nữa nếu ông
không đuổi cậu ta đi." Và ông ấy bỏ về nhà.
Ông hiệu trưởng
gọi tôi tới. Ông ấy biết tôi. Tôi đã đem về biết bao nhiêu chiến tích và biết
bao nhiêu cúp từ khắp đất nước, từ mọi đại học, về tranh luận, về hùng biện với
các đối thủ... Ông ấy rất mừng là tôi đã làm cho trường của ông ấy nổi tiếng
toàn quốc.
Ông ấy nói,
"Tôi gặp khó khăn đây. Sao em lại cứ chọc tức ông già ấy? Ông ấy là giáo
sư lâu niên nhất của chúng tôi, rất có giáo dục; ông ấy có hai bằng tiến sĩ; đã
được được phong phần thưởng D. Litt gần đây của trường đại học. Ông ấy là một học
giả nổi tiếng và chúng tôi không thể mất ông ấy được."
Tôi nói,
"Thầy có thể giữ ông ấy, nhưng thầy không minh bạch và không công bằng bởi
vì em đã không làm gì hại cho ông ấy cả. Ông ấy là giáo sư logic và nếu một
giáo sư về logic không thể tranh luận được với sinh viên, thế thì ai sẽ đi
tranh luận? Toàn thể chủ đề logic là luận cứ và làm sắc bén luận cứ, và em thực
sự làm công việc của mình như mọi sinh viên phải làm. Các sinh viên đang hành xử
như người ngu; họ không bận tâm về chủ đề này. Họ có mối quan tâm khác - ai đó
có bạn gái, ai đó có mối quan tâm tới phim ảnh - có cả nghìn lẻ một thứ trên thế
giới. Và họ học chỉ vào cuối năm.
"Còn bây
giờ, bởi vì các câu hỏi đã trở thành rập khuôn, nên cùng những câu hỏi đó đang
được lặp lại hàng năm. Chỉ đọc những câu hỏi của bốn năm và thế là đủ - chuẩn bị
hai mươi câu hỏi và người ta sẽ thấy năm câu hỏi trong số hai mươi câu này
trong bài thi của mình. Không cần phải bận tâm tới toàn thể bài giảng bởi vì
các giáo sư đều lười biếng. Ngay cả tìm ra câu hỏi mới cũng khó cho họ, cho nên
họ chỉ nhìn vào các câu hỏi thi cũ bốn hay năm năm và tìm ra câuhỏi - có thể họ
đặt câu mới lại cho chúng. Đó là toàn thể công việc của họ.
Và trong chợ
bây giờ cẩm nang cho kì thi - là kinh doanh rất có lợi - đã xuất hiện. Một số
giáo sư về hưu biết cực kì rõ cái gì sẽ có trong kì thi này. Ông ấy lấy câu hỏi
trong mười năm trong sách của mình và cho câu trả lời cho từng điểm. Thầy chỉ cần
mua cuốn sách cẩm nang đó. Không cần phải đi vào nguyên bản bởi vì đó là nhiệm
vụ khó khăn.
"Và nếu thầy
đưa ra câu trả lời, không ai bận tâm liệu thầy có biết nó hay liệu thầy có luyện
thi theo nó không. Những sách cẩm nang kia được các giáo sư về hưu soạn ra theo
cách mà câu trả lời là rất nhỏ và có thể được học luyện thi, cho nên không cần
thông minh gì.
"Em đã cố
gắng... bởi vì em không tới trường chỉ để ngồi đó. Em không quan tâm tới bằng cấp
- mối quan tâm của em là làm sắc bén thông minh của mình."
Ông hiệu trưởng
nói, "Tôi có thể hiểu được em, nhưng dầu vậy tôi vẫn phải đuổi em. Điều đó
là không công bằng và tôi cảm thấy mặc cảm bởi vì tôi không thể để cho ông giáo
sư đó bỏ đi. Không có ông ấy, toàn thể khoa logic của chúng tôi sẽ sụp đổ. Ông ấy
là giáo sư cao cấp nhất và ông ấy là người rất ương ngạnh. Nếu ông ấy đã nói rằng
ông ấy sẽ không tới chừng nào em còn chưa bị đuổi, ông ấy sẽ không tới. Nhưng
biết bất công này... em đã không làm điều gì có hại, em chỉ không có được một
thầy giáo có tầm cỡ thực sự và thiên tài.
"Ông ấy là
con người tầm thường. Ông ấy có thể viết các luận án tiến sĩ và ông ấy có thể
được thưởng D.Litt vì cống hiến của mình, nhưng ông ấy không phải là thiên tài.
Điều đó tôi biết: cho nên tôi sẽ đuổi em bởi vì ông ấy cứ khăng khăng như thế
khi thấy rằng tên em còn đó trên bảng thông báo và rằng em chưa bị đuổi. Nhưng
tôi sẽ thu xếp cho em ở một trường khác. Tôi sẽ gọi điện cho ông hiệu trưởng."
Tôi nói,
"Em không muốn tạo ra rắc rối nào cho định chế của thầy, hay cho thầy, hay
cho ông giáo sư già kia. Em không có đối nghịch với ông ấy - em chỉ cảm thấy
đáng thương nhiều. Thầy thu xếp, nhưng điều đó sẽ không dễ dàng bởi vì tình huống
này mà đã xảy ra trong tám tháng nay, đã trở thành chuyện cửa miệng của mọi trường
trong khu đại học này. Mọi hiệu trưởng đều biết..."
Ông ấy đã thử.
Ông ấy gọi điện cho một ông hiệu trưởng người rất thân ông ấy và ông hiệu trưởng
này nói, "Xin thứ lỗi cho tôi. Ông đang gửi một rắc rối tới chúng tôi bởi
vì ông không thể đảm đương được điều đó."
Ông ấy đã thử
vài trường khác, bởi vì thành phố tôi ở là một trong những thành phố có ý nghĩa
nhất khi có liên quan tới giáo dục; có hai mươi trường đại học tất cả. Ông ấy
đã gọi điện cho vài ông hiệu trưởng, và mọi người đều nói, "Ông có thể gửi
bất kì ai khác, nhưng chúng tôi đã nghe nói về cậu sinh viên đó. Và ông là đại
học lâu đời nhất và ông có những giáo sư giỏi nhất. Nếu họ sẵn sàng từ chức bởi
vì cậu ta, điều gì sẽ xảy ra cho các giáo sư của chúng tôi, những người không
cao cấp được đến thế, người không kinh nghiệm được đến thế?"
Ông hiệu trưởng
này gặp thế tiến thoái lưỡng nan. Và tôi vẫn ngồi đó nghe tất cả những cuộc nói
chuyện điện thoại này. Tôi bảo ông ấy, "Thầy sẽ không thể xoay xở được
đâu. Em sẽ tự xoay xở vậy. Thầy cho em lệnh đuổi và em sẽ xoay xở lấy."
Và tôi đã thu xếp
với một ông hiệu trưởng để vào trường của ông ấy với điều kiện là tôi sẽ không
bao giờ tới trường cả. Tôi sẽ trả học phí nhưng tôi sẽ không bao giờ tới trường.
Tôi sẽ tới thư
viện nhưng không tới lớp. Tôi sẽ không dự lớp học, cho nên không có vấn đề gì
phát sinh. Và ông hiệu trưởng sẽ canh chừng điều đó để tôi được tham dự đúng
vào lúc cần thiết để xuất hiện vào lúc thi. Tôi nói, "Đó là một thu xếp lớn
lao. Thực ra em bao giờ cũng mong muốn điều đó."
Trong hai năm
tôi không hề tới một lớp nào lấy một ngày. Nhưng hai năm đó có tầm quan trọng lớn
lao. Tôi đắm mình trong thư viện sâu sắc nhất có thể được. Trước khi thư viện mở
cửa tôi đã ở đó rồi và chỉ khi thủ thư đẩy tôi ra bởi vì đó là lúc đóng thư viện
tôi miễn cưỡng ra về.
Cùng tình huống
đó cũng xảy ra với Bồ đề đạt ma, người thuộc vào phái Đại Thừa đặc biệt. Bởi vì
Trung Quốc - toàn thể Trung Quốc - không có bất kì phái nào khác ngoại trừ Đại
Thừa. Và nói với những người Đại Thừa rằng bạn có thể trở nên chứng ngộ hệt như
bật ngón tay... điều đó là không thể nào tin được đối với họ, bởi vì bản thân
Phật đã nói rằng ông ấy phải làm việc vất vả trong ba asankhya - vô lượng năm -
trước khi ông ấy trở nên chứng ngộ. Nhưng Bồ đề đạt ma biết từ kinh nghiệm của
riêng mình rằng ông ấy đã trở nên chứng ngộ mà không có khổ hạnh nào, không có
kỉ luật nào, không trải qua nhịn ăn, không làm cầu nguyện, nghi lễ. Ông ấy đã
trở nên chứng ngộ chỉ bởi việc trở nên nhận biết về tâm trí của mình.
Nhưng nói rằng
Phật là sai... Ông ấy sẽ bị bao vây bởi cả nước tin rằng Phật Gautam không thể
nào sai được. Và trong hành động thực tế, trong sáu năm sau khi rời khỏi cung
điện của mình, Phật Gautam đã làm mọi điều, và mọi thầy giáo cuối cùng đều cảm
thấy rằng ông ấy là một linh hồn lớn hơn bản thân họ nhiều lắm. Và họ nói với
ông ấy, "Tha thứ cho chúng tôi. Tất cả những điều chúng tôi biết, chúng
tôi đã nói cho anh. Nhiều hơn thế nằm ngoài khả năng của chúng tôi. Nhưng chúng
tôi sẽ gợi ý một thầy giáo vĩ đại hơn cho anh."
Trong sáu năm
ông ấy đã đi từ thầy nọ tới thầy kia, và cuối cùng, thầy giáo vĩ đại nhất thời
đó đã nói với ông ấy, "Anh làm phí thời gian của ta. Không thầy giáo nào
có thể giúp anh được. Thế là đủ thời gian để anh nên theo cách của riêng mình...
Quan sát tâm trí anh. Ta không có bất kì giáo huấn nào khác cho anh."
Mệt mỏi với sáu
năm kỉ luật liên tục... Đó là đêm trăng tròn. Ông ấy đã bị thầy giáo từ chối và
bảo, "Quan sát tâm trí anh. Không có kỉ luật nào cho anh cả; những kỉ luật
đó dành cho tâm trí bình thường. Chúng là thoả hiệp, tương ứng theo khả năng của
mọi người - nghi lễ nào đó để an ủi người đó rằng người đó đang làm việc gì đó
cho chứng ngộ. Không cái gì sẽ thoả mãn cho anh chừng nào mà chứng ngộ còn chưa
xảy ra."
Thế là ông ấy ra
đi. Một đêm trăng tròn - ông ấy đã rời bỏ thầy giáo này chỉ vài ngày trước đây.
Và ông ấy đang ngồi dưới gốc cây bên cạnh Niranjana ở Bihar. Tại Ấn Độ thậm chí
cây cối cũng được tôn thờ - và tôi không thấy điều gì sai trong đó cả, bởi vì
cây cũng là sinh linh sống và chúng là người rất tốt. Chúng không làm hại bất
kì ai cả. Một phụ nữ đã là người tôn thờ cây bồ đề đó. Và cô ấy đã nói với Thần
của cây đó rằng nếu cô ấy mang thai - bởi vì trong nhiều năm cô ấy đã không
mang thai - nếu cô ấy trở nên mang thai, cô ấy sẽ đem kẹo, hoa quả làm quà tặng
cho thần cây đó.
Và vào đêm
trăng tròn đó, cô ấy tới. Cô ấy đã có mang và khi cô ấy trở nên hoàn toàn chắc
chắn và thầy thuốc đã nói, "Cô có mang", cô ấy đem thức ăn ngon, kẹo,
hoa tới.
Tên cô ấy là
Sujata. Đấy là cái tên có ý nghĩa trong lịch sử của Phật Gautam.
Và ông ấy đang
đói, bởi vì ông ấy đã nhịn ăn hàng tháng - rất đói. Nhưng ông ấy là người đẹp
trai, một hoàng tử, và bởi vì cơn đói mà ông ấy đã trở nên gần ngất xỉu. Và
trong đêm trăng tròn, ông ấy trông cứ như là thần của cây mới bước ra.
Người phụ nữ
này không thể nào tin nổi điều đó - cô ấy là một thôn nữ, và cô ấy thực sự nghĩ
rằng thần cây đã bước ra để nhận quà tặng của cô ấy. Cô ấy phục xuống dưới chân
ông ấy và cúng dường cho ông ấy tất cả những cái cô ấy mang tới.
Đây là lần đầu
tiên trong sáu năm đó mà ông ấy đã ăn một bữa no nê. Và việc ăn đó nữa, trong
đêm. Nhà khổ hạnh không được phép ăn ban đêm, nhưng bây giờ ông ấy không còn là
nhà khổ hạnh nữa.
Khi thầy giáo
đã nói, "Mọi điều anh phải làm là quan sát", ông ấy vứt bỏ mọi kỉ luật,
mọi chủ nghĩa khổ hạnh. Ông ấy đã từ bỏ vương quốc của mình; bây giờ ông ấy từ
bỏ cả việc từ bỏ của mình nữa. Lần đầu tiên ông ấy hoàn toàn thảnh thơi. Ông ấy
ăn ngon, và sau sáu năm ông ấy đã ngủ lần đầu tiên mà không căng thẳng gì.
Không có tham vọng. Không có ham muốn. Không có đâu mà đi, không cái gì cần được
tìm.
Trong trạng
thái thảnh thơi này, thậm chí trong giấc ngủ ông ấy đã trở nên nhận biết rằng
mình đang quan sát tâm trí mình; chỉ một ngọn lửa nhỏ của nhận biết có đó. Mặc
dầu thân thể ngủ, tâm trí ngủ, cái gì đó bên ngoài vẫn tỉnh táo.
Và vào buổi
sáng khi ông ấy mở mắt ra, ngôi sao cuối cùng đang biến mất. Và sự kiện thực tế
là ở chỗ khi ngôi sao cuối cùng đang biến đi, ông ấy cũng biến mất như một bản
ngã, như một cá tính. Chứng ngộ là bất thần. Bỗng nhiên ông ấy thấy bản thể
đích thực của mình.
Bây giờ vấn đề
phát sinh: Những người theo Đại Thừa nói rằng kinh nghiệm bất thần này đã xảy
ra bởi vì sáu năm khổ hạnh liên tục kia - đây là tiệm ngộ.
Và có những người,
một phái nào đó, tin vào đốn ngộ. Họ nói điều đó không liên quan gì tới sáu năm
kia cả. Nếu như ông ấy chấm dứt tại năm năm, kinh nghiệm này cũng sẽ xảy ra. Và
nếu ai đó đã bảo cho ông ấy ngay ngày đầu tiên, và nếu như ông ấy có đủ thông
minh để hiểu điều đó, điều đó sẽ xảy ra ngay ngày đầu tiên ông ấy rời khỏi cung
điện.
Sáu năm đó
không phải là nguyên nhân cho tác động của chứng ngộ. Chứng ngộ không thể có
nguyên nhân được. Lập luận của họ là rất rõ ràng. Bồ đề đạt ma đã nói trong
kinh này rằng chứng ngộ không có nguyên nhân. Thế thì vấn đề về hàng triệu năm
và nỗ lực gian nan là vô nghĩa.
Chứng ngộ bao
giờ cũng bất thần.
Nếu nó không bất
thần, đấy không phải là vì bản chất của chứng ngộ là dần dần. Đấy là vì tâm trí
bạn rời bỏ bạn dần dần. Bạn không sẵn sàng nhận lấy mạo hiểm bán sỉ. Bạn nhận mạo
hiểm bán lẻ, từng tí một, từng phần một - theo cách người Mĩ, trong bán trả
góp. Một chút ít bạn mất đi hôm nay, một chút ít ngày mai, một chút ít... Điều
đó cần thời gian bởi vì bạn không sẵn sàng vứt bỏ tâm trí trong tính toàn thể của
nó, trong chính khoảnh khắc này. Bạn nói, "Tôi sẽ làm điều đó từ từ...
ngày mai, thế rồi ngày kia. Vội gì?"
Cho nên có hai
phái này: phái tiệm ngộ hấp dẫn cho nhiều người bởi vì họ không có can đảm để vứt
bỏ tâm trí ngay lập tức; và phái đốn ngộ chỉ thuộc vào những người có trái tim
của sư tử, người có thể đơn giản mạo hiểm mọi thứ.
Tôi nhớ tới một
câu chuyện về một diễn viên người Nhật Bản. Anh ta rất nổi tiếng ở Mĩ và anh ta
kiếm hàng triệu đô la. Anh ta muốn trở về nhà, anh ta đã kiếm đủ. Nhưng trước
khi về nhà, anh ta nghĩ tốt hơn cả là đi một vòng quanh thế giới. Thế thì anh
ta sẽ không phải bỏ nhà lần nữa. Thế thì anh ta muốn nghỉ. Nhưng trước hết anh
ta muốn thấy mọi nơi đẹp trên thế giới.
Anh ta tới
Paris. Người hướng dẫn đưa anh ta tới nhiều nơi và thế rồi người đó nói,
"Ông có thích xem sòng bạc không?" Nghệ sĩ này nói, "Nhất định rồi,
tôi muốn xem mọi thứ. Tại Paris, không xem sòng bạc là bỏ lỡ nhiều lắm."
Sòng bạc là chỗ đánh bạc và nước Pháp có những sòng bạc tốt nhất.
Và khi anh ta
bước vào sòng bạc và anh ta thấy mọi người được hàng trăm đô la, hàng nghìn đô
la... và anh ta đâm ra thích trò này. Anh ta đánh liều hàng triệu đô la mà mình
đã kiếm được ở Mĩ - đặt cọc ngay, không đánh dần.
Thậm chí ông chủ
sòng bạc cũng phát hoảng, "Phải làm gì với anh chàng này đây? Nếu anh ta
thắng, sòng bạc của mình đi đời. Một thằng cha kì lạ!" Ông ta đã trong nghề
này lâu thế nhưng ông ta chưa bao giờ thấy một người nào đưa cả triệu đô la ra
mạo hiểm, lâm nguy.
Nhưng không có
cách nào từ chối cả; không thể nào từ chối được. Bạn phải chấp nhận mạo hiểm và
may mắn cho ông chủ sòng bạc, người Nhật Bản này thua sạch. Anh ta mất mọi đồng
đô la mà mình đã kiếm được và đang hi vọng dành cho cuộc sống về hưu. Anh ta
không còn gì.
Anh ta đi vào
khách sạn và đi ngủ. Sáng hôm sau anh ta thấy trong một tờ báo rằng một người
Nhật Bản đã tự tử bằng cách nhảy từ toà nhà bốn mươi tầng, và một cách tự nhiên
người ta nghĩ rằng đấy phải chính là người Nhật Bản đã thua hàng triệu đô la
trong sòng bạc. Cho nên họ ngụ ý rằng dường như là chính người Nhật Bản đã mất
hàng triệu đô la đêm hôm trước và thậm chí đã không còn đến một đô la cho mình.
Anh ta đọc tin
đó và anh ta cười to và ông chủ khách sạn cũng đọc tin đó và ông ta nói,
"Anh ta ở trong khách sạn của tôi. Làm sao anh ta lại tới khách sạn kia được?
Anh ta là một tên tuổi nổi tiếng." Người Nhật Bản này chạy xô về phòng
mình và anh ta cười như điên dại. Ông chủ hỏi, "Sao anh cười?"
Anh ta nói,
"Tôi cười bởi vì tôi đang sống đây mà tờ báo này lại nói tôi đã tự tử bằng
việc nhảy khỏi khách sạn. Một người Nhật Bản khác nào đó đã tự tử." Và kết
luận rất logic của nhà báo là đấy phải chính là diễn viên Nhật Bản nổi tiếng từ
Mĩ tới. Cái xác đã bị méo mó, vỡ thành từng mảnh đến mức không có cách nào tìm
ra người này là ai.
Ông chủ khách sạn
hỏi anh ta, "Kì lạ thật đấy. Anh mất tất cả tiềm kiếm được cả đời mà anh vẫn
ngủ ngon sao?" Anh ta nói, "Không thành vấn đề gì cả. Tôi đã tận hưởng
sự xúc động trong một khoảnh khắc - theo cách này cách khác. Và tôi đã tận hưởng
việc ông chủ sòng bạc run rẩy. Còn khi có liên quan tới tiền, tôi có thể quay lại
và kiếm nữa. Điều đó không phải là vấn đề. Đấy không phải là tiền đánh cắp, tôi
đã kiếm nó."
Ông chủ nói với
anh ta, "Nhưng anh có thể đã chơi theo cách mọi kẻ dánh bạc chơi - những số
tiền nhỏ. Anh có thể chơi cả đêm. Sao anh lại liều mọi thứ thế?"
Và tôi đọc
trong cuốn tự tiểu sử của anh ta rằng anh ta nói, "Tôi thuộc vào phái đốn
ngộ. Tôi không tin vào trả góp dần dần. Nếu bạn phải làm điều gì đó, làm nó một
cách toàn bộ và mãnh liệt. Nếu bạn không muốn làm nó, thế thì đừng tự lừa dối
mình một cách không cần thiết bằng việc làm nó một cách từng phần."
Bồ đề đạt ma
đích thực là con người của đốn ngộ. Nhưng ông ấy đã được một phụ nữ điểm đạo,
Pragyatara. Bà ấy là một người Đại Thừa và bà ấy đã phái ông ấy sang Trung Quốc
để giúp việc phát triển tôn giáo ở đó. Tôn giáo này đã phát triển như đám cháy
hoang - chỉ trong sáu trăm năm. Nó đã tới Trung Quốc vào thời của Jesus Christ,
năm trăm năm sau Phật Gautam. Và sau sáu trăm năm, đã có ba mươi nghìn ngôi đền
chùa Phật giáo và hai triệu nhà sư Phật giáo ở Trung Quốc, và điều đó không kể
cư sĩ.
Hàng triệu và
hàng triệu người, bởi vì họ thực sự đói... Khổng Tử đã làm cho họ đói tôn giáo
thế bởi vì trong tâm trí Khổng Tử không có linh hồn, không có tôn giáo. Chính bởi
vì Khổng Tử mà Trung Quốc quay sang chủ nghĩa cộng sản bởi vì tâm trí của Khổng
Tử là rất gần với tâm trí của Karl Marx; không có mấy khác biệt. Cả hai đều tin
rằng không có Thượng đế, không có linh hồn, và mọi tôn giáo đều vô dụng. Cả hai
đều tin rằng tâm thức chỉ là sản phẩm phụ của năm yếu tố gắn lại với nhau, và
chết là hết. Cho nên không có vấn đề về hành động tốt hay xấu.
Khổng Tử đã từng
là một nhân vật chi phối, một nhân vật có ảnh hưởng đến mức toàn thể linh hồn của
người Trung Quốc bị đói. Đã có món ăn ngon mà các sư Phật giáo đáp ứng. Đã có lỗ
hổng cho nên không có xung đột, không cãi lộn. Phật tử đã được chấp nhận mà
không phải vật lộn với bất kì ai.
Và Pragyatara
đã phái Bồ đề đạt ma đi bởi vì cho tới lúc đó, chưa người chứng ngộ nào tới
Trung Quốc cả. Nhiều học giả đã tới - hàng nghìn học giả - những người đang cố
gắng dịch kinh sách Phật giáo sang tiếng Trung Quốc. Nhưng họ chỉ là học giả,
và Pragyatara nghĩ Trung Quốc cần thấy một người đã chứng ngộ. Nó xứng đáng cho
điều đó. Chỉ trong sáu trăm năm, một công trình vĩ đại đã được thực hiện - gần
như toàn thể đất nước này đã chuyển từ Khổng Tử sang Phật Gautam. Pragyatara bảo
Bồ đề đạt ma, "Con phải đi", và ông ấy đã đi tới đó. Nhưng chứng ngộ
riêng của ông ấy là đốn ngộ và ở Trung Quốc, phái đã lan rộng vào mọi người là
Đại Thừa, tin vào chứng ngộ dần dần, tiệm ngộ.
Đây là thế khó
xử. Học trò này đang đưa ra một câu hỏi: Phật nói một điều và thầy nói ngay điều
ngược lại. Tại sao bây giờ thầy nói rằng đơn giản ngắm nhìn tâm trí và khắc phục
ba chất độc là giải thoát? Thầy đang làm cho nó thành quá đơn giản, bằng việc
nói rằng người ta có thể làm được nó bây giờ. Thế thì việc tranh đấu của Phật
Gautam với ba kalpas vô lượng... thì sao?"
Nhưng có lẽ
ngay cả Bồ đề đạt ma không nhận biết về phân biệt mà tôi đã làm, rằng chỉ trước
khi chứng ngộ của mình, Phật Gautam đã vứt bỏ mọi kỉ luật. Đó sẽ là câu trả lời
đúng: Phật Gautam có thể tranh đấu trong ba hay ba mươi kalpas vô lượng - điều
đó chỉ là giấc mơ, và khi giấc mơ bị tan vỡ, nó bao giờ cũng xảy ra trong một
khoảnh khắc. Chỉ trong một khoảnh khắc trước đó, bạn còn ngủ; sau khoảnh khắc
này, bạn thức tỉnh. Và khi bạn thức tỉnh mọi giấc mơ dường như thật thế, biến mất.
Đây chắc sẽ là
câu trả lời đúng, nhưng nó không khớp với phái Đại Thừa. Đó là lí do tại sao
ông ấy cứ tạo ra làn khói thượng đế học quanh câu hỏi này mãi.
Lời của Phật là
đúng. Nhưng ba asankhya kalpas nói tới ba trạng thái độc hại của tâm trí.
Điều đó không
đúng. Ông ấy thực tế đang nói tới vô lượng kiếp sống trong đó Phật đã tranh đấu
để đạt tới phật tính và cuối cùng, trong kiếp sống cuối cùng, ông ấy đã đạt tới
nó. Bây giờ Bồ đề đạt ma đang cố gắng bằng cách nào đó tạo ra câu trả lời đáng
tin.
Điều chúng ta gọi
là asankhya trong tiếng Phạn, các ông gọi là vô hạn. Bên trong ba trạng thái độc
hại này của tâm trí là vô hạn ý nghĩ ác độc.
Bây giờ đây tất
cả đều vô nghĩa, bởi vì lần nữa nó không liên quan tới câu hỏi.
Và mọi ý nghĩ đều
kéo dài một kalpa.
Điều đó còn tồi
tệ hơn là vô nghĩa; nó là ngớ ngẩn! - và bạn biết điều đó. Một ý nghĩ không kéo
dài thậm chí tới một giờ. Thử để cho bất kì ý nghĩ nào vẫn còn trong tâm trí bạn
trong một giờ liên tục mà xem và bạn sẽ ngạc nhiên - nó cứ liên tục trượt ra
ngoài tâm trí.
Tâm trí là luồng
lưu thông thường xuyên. Bạn không thể đứng ở giữa luồng lưu thông, các ý nghĩ của
bạn chuyển động nhanh hơn bất kì cái gì. Và một kalpa là một thời gian rất dài.
Một ý nghĩ không còn lại thậm chí trong vài giây. Tâm trí bạn là một luồng liên
tục; nó giống hệt dòng sông.
Heraclitus nói,
"Bạn không thể bước hai lần vào cùng một dòng sông bởi vì nó đi nhanh thế.
Vào lúc bạn bước lần thứ hai, nó đã là nước khác rồi. Vẫn cùng dòng sông chỉ với
cái tên, nhưng nước mà bạn đã bước vào lần đầu không còn lại đó nữa."
Tôi đi xa hơn
chút ít so với Heraclitus. Tôi nói, bạn không thể nào thậm chí một lần bước vào
trong cùng một dòng sông, bởi vì khi chân bạn chạm vào phần nước phía trên, phần
nước phía dưới đã chảy qua rồi. Khi chân bạn nhúng sâu thêm chút nữa, phần nước
phía dưới và phía trên đã chảy qua rồi. Vào lúc chân bạn chạm đáy, mọi thứ đã
thay đổi từ lúc bạn lần đầu tiên chạm vào mặt nước. Bạn đã không bước vào trong
cùng một nước, bởi vì mọi giây nước mới đều tới và nước cũ trôi đi. Heraclitus
không nhận biết rằng ngay cả việc bước một lần trong cùng dòng nước là điều
không thể được. Hai lần là quá nhiều.
Cùng điều đó là
tình huống với tâm trí con người: nó chỉ là một luồng. Hàng trăm ý nghĩ xếp
hàng và diễu qua - liên quan, không liên quan, nhất quán, không nhất quán.
Nhưng ông ấy đang cố gắng tạo ra ý nghĩa nào đó từ phát biểu của Phật.
Vô hạn như vậy
là điều Phật ngụ ý qua ba asankhya kalpas...
Không, ông ấy
thực tế ngụ ý điều những lời này nói. Bồ đề đạt ma đang áp đặt ý tưởng riêng của
mình lên điều đó, chỉ để làm phai mờ nó, chỉ để mang nó tới gần hơn với ý tưởng
đốn ngộ của mình.
Trong vị trí của
ông ấy tôi sẽ nói, "Phật Gautam là sai. Điều ông ấy đang nói về ba thời đại
vô lượng phải đã được nói trước khi ông ấy trở nên chứng ngộ. Nó không phải là
phát biểu được đưa ra sau chứng ngộ của ông ấy. Nếu ông ấy đã từng nói điều gì
giống như thế, điều đó hẳn phải đã được nói từ trước chứng ngộ của ông ấy."
Thậm chí trước
chứng ngộ của mình ông ấy đã có năm tín đồ. Thấy ông ấy - một ông vua và một
nhà khổ hạnh hoàn hảo - năm người tìm kiếm brahmin đã trở thành tín đồ của ông ấy.
Họ đã bỏ đi bởi vì ông ấy đã chấp nhận thức ăn từ Sujata, vào ban đêm.
Và từ sujata,
có những ngụ ý lớn. Nó có nghĩa "được sinh ra may mắn", được sinh ra
trong một gia đình rất cao sang. Bây giờ bất kì ai thực sự được sinh ra trong một
gia đình cao sang sẽ không có cái tên đó. Sujata phải đã là một bình dân, một
người phụ nữ tiện dân. Đây là cách thức tâm trí con người và tâm lí con người vận
hành. Nếu cô ấy không thể thuộc vào đẳng cấp cao, ít nhất cô ấy cũng có thể
mang cái tên đẹp có nghĩa là cô ấy được sinh ra may mắn. Tên của cô ấy chỉ ra rằng
cô ấy chắc chắn thuộc vào đẳng cấp rất thấp của xã hội.
Thấy rằng Phật
đã chấp nhận thức ăn từ một phụ nữ bình dân - ông ấy thậm chí không hỏi,
"Cô thuộc vào tầng lớp gì?" và trong đêm ông ấy đã ăn một cách vui
thích - tất cả năm đệ tử bỏ ông ấy ngay lập tức. "Ông ta là kẻ dối trá, giả
mạo. Chúng ta đã bị lừa. Ông ta không phải là người khổ hạnh chút nào."
Phật có thể đã
nói điều gì đó giống như thế với năm đệ tử này, nhưng lúc đó ông ấy còn chưa chứng
ngộ. Và người ta phải nhớ rằng bất kì phát biểu nào do Phật đưa ra trước chứng
ngộ không nên được tính tới chút nào. Chỉ những điều ông ấy đã nói sau chứng ngộ
mới có ý nghĩa.
Bồ đề đạt ma có
thể đã giải thích điều đó rất dễ dàng, nhưng ông ấy lại không dũng cảm được như
ông ấy đã được mọi người tin là vậy trong nhiều thế kỉ. Ông ấy không thể nói lời
của Phật là không đúng. Ông ấy đang cố gắng tô điểm cho chúng và bằng cách nào
đó làm phai mờ chúng và đem chúng tới gần hơn với hiểu biết riêng của ông ấy.
Nhưng các bồ
tát vĩ đại chỉ đạt tới chứng ngộ bằng việc gìn giữ ba bộ giới luật và bằng việc
thực hành sáu đường vượt qua. Bây giờ thầy bảo các đệ tử đơn thuần ngắm nhìn
tâm trí. Làm sao bất kì ai có thể đạt tới chứng ngộ mà không trau dồi các qui tắc
của kỉ luật?
Ông ấy đang thực
sự đặt các đệ tử vào thế khó xử - và đây là những câu hỏi cuối cùng của họ. Bồ
đề đạt ma nói rằng không cần kỉ luật nào cả, không cần khổ hạnh nào cả. Mọi điều
cần thiết là nhận biết về tâm trí của bạn. Và tôi đồng ý với ông ấy tuyệt đối.
Đó là điều đem lại chứng ngộ.
Một người vô ý
thức có thể đặt kỉ luật lên bản thân mình. Người đó có thể cạo đầu như Phật...
người đó có thể cạo đầu mình, người đó có thể ăn chỉ một lần trong hai mươi bốn
giờ, người đó có thể chỉ có ba bộ quần áo - không nhiều hơn thế - nhưng người
đó sẽ không trở nên chứng ngộ bởi điều này. Nếu điều này là như vậy, thế thì mọi
người nghèo mà không có thậm chí đến ba bộ quần áo, người thỉnh thoảng phải đi
ngủ mà không ăn gì, đều đã trở nên chứng ngộ rồi.
Tôi đã biết những
người đã đi ngủ bằng việc buộc một viên gạch vào bụng để cho họ không cảm thấy
rằng dạ dầy mình trống rỗng. Cái nghèo khó như vậy tồn tại ở nhiều phần của đất
nước này. Những người này liệu có trở thành phật được không? - không. Chứng ngộ
không liên quan gì tới nghèo đói, nhịn ăn, kỉ luật, nghi lễ tôn giáo.
Chỉ có một con
đường tới chứng ngộ và đó là tạo ra ngày càng nhiều nhận biết về hành động của
bạn, về ý nghĩ của bạn, về xúc động của bạn.
Bồ đề đạt ma có
thể đã nói đích xác điều đó, nhưng đây là rắc rối khi bạn thuộc vào một tổ chức,
khi bạn thuộc vào một triết lí nào đó, khi bạn thuộc vào một hệ thống niềm tin
nào đó, khi bạn không phải là thầy của riêng mình, khi bạn tôn thờ ai đó khác
làm thầy... thế thì loại khó xử này nhất định xảy ra. Bạn đã đánh mất tính cá
nhân theo một cách nào đó. Bạn phải ủng hộ cho Phật Gautam cho dù điều đó đi
ngược lại hiểu biết riêng của bạn.
Bồ đề đạt ma
nói: Ba bộ giới luật là để vượt qua ba trạng thái độc hại của tâm trí. Khi ông
vượt qua ba chất độc này, ông tạo ra ba bộ đức hạnh vô giới hạn. Một bộ thu thập
mọi thứ lại - trong trường hợp này, vô hạn ý nghĩ tốt trong toàn thể tâm trí
ông. Và sáu đường vượt qua là để làm thuần khiết sáu giác quan. Điều chúng ta gọi
là paramita - đường vượt qua, các ông gọi là phương tiện để sang bờ bên kia. Bằng
việc làm thuần khiết sáu giác quan của ông khỏi bụi bặm của cảm giác, con thuyền
vượt qua chở ông ngang qua Dòng sông của ưu phiền sang Bờ của Chứng ngộ.
Bạn không thể
thấy rằng câu trả lời thậm chí không có mối quan hệ xa xăm nào với câu hỏi này
sao? Nó thậm chí không phải là anh em họ xa.
Bồ đề đạt ma
không thể xoay xở được... để đơn giản nói chân lí sẽ là điều đúng: "Dù cho
điều đó có đi ngược lại Phật, hay Krishna, hay Christ không thành vấn đề - tôi
phải là chân lí của riêng tôi. Nếu điều đó đi ngược lại chân lí của ai đó khác,
đó là vấn đề của người ấy, không phải là vấn đề của tôi."
Chân lí có cái
đẹp khi nó nảy sinh trong bạn, nhưng nếu bạn bằng cách nào đó cố gắng khớp nó
vào một hệ thống nào đó do ai đó khác tạo ra, bạn bắt đầu bóp méo chân lí. Và với
tôi điều đó là một trong những tội lớn nhất.
Câu hỏi này có
ý nghĩa đơn giản, nhưng câu trả lời không đơn giản. Câu trả lời là đúng trong một
hoàn cảnh khác nào đó nhưng chỗ này không phải là chỗ cho câu trả lời này. Ông ấy
nên nói rằng với tất cả ba kalpa vô lượng đó cùng các kỉ luật và khổ hạnh, Phật
đã sống trong mơ.
Nhưng có lẽ ông
ấy không thể nói điều này cho các Phật tử ở Trung Quốc, bởi vì ông ấy đã được cử
từ Ấn Độ để làm cho Phật giáo vững chắc hơn và nếu ông ấy bắt đầu nói theo cách
này, làm sao ông ấy làm cho Phật giáo trở nên vững chắc hơn được? Ông ấy bắt đầu
thoả hiệp. Và khoảnh khắc ai đó bắt đầu thoả hiệp, người đó mất đi sự tiếp xúc
với chân lí.
Chân lí là kinh
nghiệm không thoả hiệp.
Tương ứng với lời
kinh này, ba bộ giới luật là - đệ tử này đang lại hỏi - "Tôi nguyện chấm dứt
mọi điều ác. Tôi nguyện trau dồi mọi đức đức hạnh. Và tôi nguyện giải thoát mọi
chúng sinh." Nhưng bây giờ thầy nói chúng chỉ để kiểm soát ba trạng thái độc
hại của tâm trí. Không phải điều này mâu thuẫn với ý nghĩa của kinh sách sao?
Nó mâu thuẫn đấy,
nhưng Bồ đề đạt ma không có khả năng nói như vậy. Thực ra người ta nói rằng Phật
Gautam đã đưa ra ba lời nguyện này: chấm dứt mọi điều ác, trau dồi mọi đức hạnh
và giải thoát mọi chúng sinh - nhưng điều này là trước khi ông ấy trở nên chứng
ngộ. Do đó, nó không có giá trị chút nào.
Sau chứng ngộ của
mình, ông ấy biết rằng tất cả những lời nguyện này đều đã được làm trong trạng
thái mơ. Và điều bạn đã quyết định trong giấc mơ, bạn không cho là phải tuân
theo khi bạn thức dậy. Bạn có thể đã bay trong mơ - giống như bất kì con chim
nào bay ngang qua bầu trời - nhưng khi bạn thức dậy, bạn biết đấy chỉ là mơ và
bạn không khăng khăng rằng bạn thực sự đã bay như chim.
Ba lời nguyện
này chắc chắn là do Phật nêu ra, nhưng chúng đã được đưa ra từ trước chứng ngộ
của ông ấy. Đúng là không ai đã hỏi ông ấy, "Điều gì đã xảy ra cho lời
nguyện của ông ấy?" Nhưng Bồ đề đạt ma lại đang bị hỏi. Ông ấy đáng ra phải
làm cho điều đó thành rõ ràng rằng chúng đã được đưa ra trong mơ và mơ không
thành vấn đề gì hết cả. Điều thành vấn đề là tâm thức thức tỉnh - và thế thì Phật
đã không đưa ra lời nguyện nào.
Nhưng thay vì
thế, ông ấy lại cứ nói:
Lời kinh của Phật
là đúng.
Nhưng bạn có thể
thấy đấy, ngay cả khi ông ấy nói lời kinh của Phật là đúng, ông ấy đã mất thẩm
quyền và sức mạnh tới từ chân thành, tới từ kinh nghiệm riêng của bạn về chân
lí. Ông ấy đã trở thành nhu nhược.
Nhưng từ lâu
trước đây, khi vị bồ tát vĩ đại đó trau dồi hạt mầm của chứng ngộ, để chống lại
ba chất độc đó, ông ấy đã làm ra ba lời nguyện này.
Ông ấy cứ nói
đi nói lại, đem ba chất độc đó ra để hỗ trợ cho mình.
Khi thực hành
những cấm đoán đạo đức để chống lại chất độc tham lam, ông ấy đã nguyện đặt dấu
chấm dứt mọi điều ác. Khi thực hành thiền để chống lại chất độc giận dữ, ông ấy
đã nguyện trau dồi mọi đức hạnh. Và khi thực hành trí huệ để chống lại chất độc
ảo tưởng, ông ấy đã nguyện giải thoát tất cả chúng sinh. Bởi vì ông ấy gìn giữ
trong ba thực hành thuần khiết này về đạo đức, thiền và trí huệ, nên ông ấy có
khả năng vượt qua ba chất độc và đạt tới chứng ngộ. Bằng việc vượt qua ba chất
độc này, ông ấy lau sạch mọi thứ tội lỗi và do vậy trau dồi đức hạnh. Và bởi việc
đặt dấu chấm hết cho điều ác và trau dồi đức hạnh, ông ấy tiêu tán mọi thực
hành, làm ích lợi cho bản thân mình cũng như những người khác và cứu giúp người
hữu tử ở mọi nơi. Vậy, ông ấy giải thoát cho chúng sinh.
Ông ấy đang
không đích thực. Ông ấy đơn giản đang cố gắng bằng cách nào đó xoay xở câu trả
lời. Câu trả lời không phải là đáp ứng tự phát. Nó là láu lỉnh, trí tuệ. Nó có
thể thoả mãn cho các đệ tử của ông ấy; nó không thể thoả mãn tôi được.
Tôi không là đệ
tử của ai cả. Tôi không thuộc vào bất kì hệ thống tin nào. Tôi yêu mọi người
trên khắp thế giới và tôi chưa bao giờ so sánh họ. Họ tất cả đều duy nhất: một
Zarathustra là một Zarathustra, một Mahavira là một Mahavira, một Phật là một
Phật, một Jesus là một Jesus, một Moses là một Moses... họ duy nhất đến mức bạn
không nên làm người nào trong họ thành tiêu chuẩn để mọi người khác phải khớp với.
Bản thân Bồ đề
đạt ma thuộc cùng vào phân loại đó, nhưng bởi vì thoả hiệp của ông ấy, ông ấy
đã tụt xuống. Ông ấy không thể còn duy trì tính duy nhất của mình. Ông ấy vẫn
còn là đệ tử của Phật Gautam - và làm sao đệ tử có thể nói rằng lời của thầy
không đúng?
Đây là một cơ hội
duy nhất cho các bạn để nghe một người không có thầy, và người có kính trọng cực
kì với chân lí - dù nó tới từ Zarathustra, hay Lão Tử, hay Phật, hay Moses, hay
Jesus, hay Mohammed. Nếu nó là chân lí, điều làm ngân lên tiếng chuông trong
tim tôi, tôi tuyệt đối ủng hộ nó. Nhưng nếu nó không đúng, tôi biết trái tim
tôi. Chuông không ngân lên và tôi lập tức biết điều gì đó sai.
Bồ đề đạt ma
đang cố gắng làm yên lòng, khuyên nhủ. Ông ấy không còn quan tâm tới chân lí.
Ông ấy quan tâm nhiều tới việc quảng bá thông điệp của Phật, và đó là chỗ ông ấy
mất đi tính duy nhất của mình; bằng không thì ông ấy là một người duy nhất như
bản thân Phật Gautam.
Tôi không thể
quan niệm nổi điều đã xảy ra cho ông ấy tại sao ông ấy lại không thể nói trực
tiếp, "Những lời này là không đúng. Chúng không đúng bởi vì chúng không
hài hoà với bản thể tôi". Nhưng đây là điều xảy ra khi bạn đứng vào hàng của
đảng phái nào đó - chính trị, tôn giáo, xã hội. Thế thì bạn phải đồng ý với mọi
điều, không chọn lựa.
Các Phật tử rất
sung sướng với Bồ đề đạt ma bởi vì ông ấy đã thiết lập nên kỉ luật của Phật ở
Trung Quốc, đã cho nó một nền tảng rất chắc chắn, và đã quảng bá thông điệp này
- không chỉ cho Trung Quốc, mà từ Trung Quốc sang Đài Loan, sang Hàn Quốc, sang
Nhật Bản.
Ông ấy đã làm
việc vĩ đại, nhưng ông ấy đã tụt xuống từ tầm cao. Ông ấy có thể vẫn còn ở đó nếu
như ông ấy đã nói ra chân lí một cách chính xác và giải thích cho mọi người,
theo một cách rất đơn giản, "Đây là những phát biểu của Phật trước chứng
ngộ của ông ấy, và bất kì điều gì ông ấy nói trước chứng ngộ đều không quan trọng.
Với tôi, phát biểu của Phật sau chứng ngộ là vàng ròng."
Tôi không nghĩ
Bồ đề đạt ma sẽ làm tổn thương tới tình cảm của mọi người. Có lẽ ông ấy sẽ tạo
ra một tiền lệ cho những người chứng ngộ khác: Bạn không cần phải đồng ý với mọi
điều. Bạn chắc chắn có nghĩa vụ chấp nhận chân lí từ bất kì hướng nào nó tới,
nhưng bạn không có nghĩa vụ gì phải đồng ý với bất kì điều gì phi chân lí, bất
kì hư huyễn nào mà các tu sĩ tạo ra, người không biết gì về chân lí cả.
Ông ấy đã làm
cái việc mà vì nó ông ấy đã được cử đi, nhưng ông ấy đã đánh mất cái gì đó đẹp
đẽ trong bản thể riêng của mình. Với tôi điều đó còn quan trọng hơn là toàn thể
Trung Quốc trở thành Phật tử. Một cá nhân duy nhất trong tính chân lí kết tinh
còn quan trọng hơn hàng triệu người đang ngủ say.
Được chứ,
Maneesha? Vâng, thưa Osho
Xem tiếp Chương 18 - Quay về Mục lục