Osho
– Từ Thuốc tới Thiền
Chương
8: Thiền và tâm thần học
Không trị liệu tâm lí nào có phẩm chất của thiền, bởi vì không phép trị liệu tâm lí nào tạo ra được một người chứng ngộ. Những người sáng lập ra chúng không chứng ngộ còn những người chứng ngộ ở phương Đông thì lại chẳng bao giờ bận tâm về bất kì phép trị liệu tâm lí nào. Họ thậm chí chẳng bận tâm gì tới tâm lí hay bản thân tâm trí, bởi vì với họ sự việc không phải là giải quyết vấn đề của tâm trí, với họ sự việc là cách thoát ra khỏi tâm trí, điều vốn dễ dàng hơn. Thế thì tất cả sự việc đều chấm dứt, bởi vì một khi bạn thoát ra khỏi tâm trí, thì tâm trí không còn nuôi dưỡng nào để cứ tạo ra vấn đề; bằng không thì nó là quá trình không kết thúc. Bạn được phân tâm, dù theo kiểu cách cũ hay mới thì cũng chẳng thành vấn đề; chúng chỉ là những biến thể của cùng một chủ đề. Tâm trí bạn cảm thấy một chút ít tươi tắn và thoải mái sau phiên tâm lí bởi vì bạn đã được làm nhẹ gánh cho bản thân mình. Một chút ít hiểu biết về tâm trí cũng tới – điều đó giữ cho bạn bình thường.
Trong thực tế, tất cả mọi phép trị liệu tâm lí đều phục vụ
cho tổ chức; chức năng của chúng là không để cho mọi người thành bất thường. Ai
đó đang vượt ra ngoài bầy đoàn và các qui tắc của bầy đoàn và làm những điều
được coi là bạn không được làm… Những điều đó có thể vô hại nhưng xã hội không
thể dung thứ cho những con người như vậy. Họ phải được đem lại cái bình thường,
về với chuẩn thông thường.
Công việc của nhà trị liệu tâm lí là dọn sạch tâm trí bạn.
Đó là một loại tra dầu bôi trơn cho máy móc của bạn – nó vận hành chút ít tốt
hơn và bạn bắt đầu trở nên chút ít hiểu biết hơn về cách vận hành của tâm trí,
mặc dầu điều đó không tạo ra bất kì thay đổi cách mạng nào. Và có thể là bạn
cũng có thể giải quyết được một vấn đề, nhưng bạn vẫn không loại bỏ được nguyên
nhân. Bản thân tâm trí mới là vấn đề. Cho nên bạn có thể loại bỏ vấn đề này,
tâm trí sẽ tạo ra vấn đề khác… Điều đó cũng giống như tỉa cây vậy: bạn tỉa lá
này và chỉ từ lòng tự trọng và phẩm cách mà cây sẽ ra ba lá ở ngay chỗ trước
đây chỉ có một lá. Đó là lí do tại sao người làm vườn lại cứ phải tỉa mãi; điều
đó làm cho cây ra nhiều tán lá, nhiều lá hơn.
Cũng điều này là tình huống cho tâm trí: bạn có thể loại bỏ
vấn đề này bằng việc hiểu nó – và điều đó cũng tốn kém – nhưng tâm trí vẫn có
đó là cái tạo ra vấn đề, và nhà phân tâm không vượt ra ngoài các biên giới của
tâm trí. Tâm trí sẽ tạo ra vấn đề mới, phức tạp hơn vấn đề bạn đã giải quyết.
Một cách tự nhiên, bởi vì tâm trí hiểu bạn có thể giải quyết loại vấn đề đó thì
nó tạo ra cái gì đó mới, phức tạp hơn, nhiều tán lá hơn.
Thiền là một điều hoàn toàn khác hơn phân tâm hay bất kì
cách trị liệu nào, vốn bị hàm chứa trong tâm trí. Nó đơn giản nhảy ra khỏi tâm
trí: “Đằng ấy có vấn đề của đằng ấy – tớ về nhà đây.” Bởi vì tâm trí là kẻ ăn
bám nên nó không có sự tồn tại của riêng nó. Nó cần bạn bên trong nó, để cho nó
có thể cứ ăn bạn, cái đầu bạn. Một khi bạn nhảy ra khỏi nó, tâm trí chỉ còn là
nghĩa địa. Tất cả những vấn đề vốn đã quá lớn không vứt bỏ được, chúng đơn giản
bị vứt bỏ chết đi.
Thiền là chiều hướng hoàn toàn khác: bạn đơn giản quan sát
tâm trí và trong việc quan sát đó bạn đi ra khỏi nó. Và từ từ, tâm trí với tất
cả những vấn đề của nó biến mất; bằng không thì tâm trí cứ tạo ra những vấn đề
xa lạ…
Tâm trí là vấn đề duy nhất của bạn – tất cả các vấn đề khác
chỉ là nhánh của tâm trí. Thiền cắt tâm trí ngay từ chính gốc rễ. Và tất cả
những phép trị liệu này – Động thái và Đối thoại Tiếng nói và Fritz Perl –
chúng ta có thể dùng chúng cho những người còn chưa đi vào trong thiền chỉ để
có một chút ít hiểu biết về tâm trí sao cho họ có thể tìm ra cánh cửa để từ đó
thoát ra. Chúng ta dùng tất cả mọi phép trị liệu có ích, nhưng không dành cho
thiền nhân. Chúng chỉ có ích lúc ban đầu khi bạn còn chưa trở nên quen thuộc
với thiền. Một khi bạn mang tính thiền rồi, bạn không cần bất kì phép trị liệu
nào, thế thì không phép trị liệu nào có ích cả. Nhưng lúc ban đầu, nó có thể có
ích, và đặc biệt đối với các sannyasin Tây phương…
Sigmund Freud chỉ đúng về tâm trí phương Tây và truyền thống
của nó. Khi ông ấy nói rằng mọi con gái đều ghét mẹ bởi vì nó yêu bố, thì toàn
bộ vấn đề đều dựa trên hiểu biết của họ về dục, rằng người ta yêu người khác
giới. Cho nên con gái yêu bố, con trai yêu mẹ. Nhưng con gái không thể bầy tỏ
tình yêu của chúng, đặc biệt chúng không thể nào có quan hệ dục với bố được,
còn mẹ thì được có quan hệ dục. Cho nên chúng trở nên ghen tị với mẹ – người mẹ
là kẻ thù của chúng. Con trai trở thành kẻ thù của bố và bởi vì điều đó mà con
trai không thể làm tình với mẹ. Người Nhật Bản thậm chí không thể nào nghĩ về điều
này; thậm chí người Ấn Độ cũng không thể nghĩ tới điều này – một cách dạy dỗ
hoàn toàn khác. Sigmund Freud hay Jung hay Alder hay Assagioli hay Fritz Perl
chẳng có ý tưởng nào. Thậm chí trong mơ họ cũng không nghĩ rằng mọi người có
thể khác với người phương Tây…
Tại phương Đông, các nhà phân tâm không có ích mấy. Với
người phương Tây, tôi muốn họ đi qua nhóm chỉ để dọn sạch tâm trí. Với một tâm
trí sạch sẽ, việc đi vào trong thiền là dễ dàng hơn. Nhưng nếu bạn không đi vào
trong thiền và bạn đơn giản phụ thuộc vào việc lau dọn tâm trí, thế thì bạn sẽ
lau dọn tâm trí trong cả đời và bạn sẽ không đi đâu khác cả. Bởi vì khuynh
hướng khác của mình mà phương Đông phải tìm chỗ trong đại học về thiền, không
tìm phân tâm…
Tại phương Đông trong hàng thế kỉ vấn đề đã là làm sao vượt
ra ngoài tâm trí – vấn đề duy nhất, vấn đề độc nhất. Nhưng với tâm trí phương
Tây, bởi vì nó đã phát triển theo một cách khác nên nó chưa bao giờ nghĩ tới
việc siêu việt lên trên tâm trí. Tôi đã xem các tài liệu gốc Do thái, các tài
liệu gốc Ki tô giáo; không có một phát biểu nào trong toàn bộ lịch sử Tây
phương tại đó ai đó đã nỗ lực để vượt ra ngoài tâm trí. Họ đã dùng tâm trí để
cầu nguyện, họ đã dùng tâm trí để tin vào Thượng đế; họ đã dùng tâm trí để trở
nên mang tính tôn giáo, đức hạnh, nhưng họ chưa bao giờ thậm chí nghĩ rằng có
một khả năng vượt ra ngoài tâm trí.
Tại phương Đông đã có một việc tìm kiếm duy nhất, độc nhất.
Toàn bộ thiên tài của phương Đông đã làm việc chỉ cho một điều, không vấn đề
nào khác: cách vượt ra ngoài tâm trí, bởi vì nếu bạn có thể giải quyết được cả
loạt vấn đề của mình chỉ bằng việc vượt ra ngoài, thế thì tại sao lại cứ đi
giải quyết chi tiết từng vấn đề làm gì? Tâm trí cứ tạo ra vấn đề mãi; nó là một
lực rất sáng tạo. Bạn giải quyết vấn đề này, vấn đề khác lại nảy sinh. Bạn giải
quyết vấn đề kia, vấn đề nọ lại phát sinh. Đấy là kinh doanh tốt cho các nhà
phân tâm, bởi vì người đó biết bạn chẳng bao giờ được chữa khỏi cả. Bạn sẽ
không được chữa khỏi từ tâm trí; người đó chữa cho các vấn đề riêng của bạn. Tâm
trí bạn có đó, nguồn gốc. Người đó chưa bao giờ chặt được rễ, người đó chỉ chặt
lá, nhiều nhất là chặt cành, nhưng chúng cứ mọc ra mãi – gốc rễ vẫn còn đấy.
Thiền là việc chặt tận gốc các vấn đề. Tôi nhắc lại: tâm trí
là vấn đề duy nhất, và chừng nào bạn chưa vượt ra ngoài tâm trí, bạn sẽ chẳng
bao giờ vượt ra ngoài vấn đề được. Cũng thật là lạ rằng thậm chí ngày nay, các
nhà tâm lí phương Tây thậm chí vẫn chưa cân nhắc tới sự kiện là phương Đông đã
tạo ra biết bao nhiêu người chứng ngộ. Không một người nào trong số họ lại bận
tâm về việc phân tích tâm trí cả… Hàng trăm phương pháp đã được tìm ra có thể
giúp bạn siêu việt lên trên tâm trí, và một khi bạn đã ở ngoài tâm trí, tất cả
các vấn đề của nó dường như chúng là vấn đề của ai đó khác. Bạn đạt tới trạng
thái của người quan sát trên núi, và tất cả các vấn đề này đều trong thung
lũng. Và chúng chẳng có tác động gì lên bạn cả; bạn đã vượt ra ngoài chúng.
Phương Tây vẫn còn hoàn toàn lấy trọng tâm là tâm trí. Tại
phương Tây điều duy nhất người ta đã nghĩ tới là vật chất và tâm trí. Và vật
chất là thực tại còn tâm trí chỉ là sản phẩm phụ; vượt ra ngoài tâm trí chẳng
có gì cả. Tại phương Đông vật chất là ảo tưởng, tâm trí là sản phẩm phụ của tất
cả những ảo tưởng, phóng chiếu, mơ mộng của bạn. Thực tế của bạn ở bên ngoài
vật chất và tâm trí, cả hai. Cho nên ở phương Đông chúng ta phân chia thực tế
làm ba phần: vật chất, phần bên ngoài nhất; linh hồn, phần bên trong nhất; tâm
trí ở giữa hai điều này. Vật chất có thực tại tương đối; nó không là thực tuyệt
đối, chỉ là thực tương đối. Tâm trí tuyệt đối không thực, còn linh hồn thì
tuyệt đối thực.
Đây là cách phân loại nhân loại hoàn toàn khác. Tại phương
Tây cách phân loại là đơn giản: vật chất là thực, tâm trí chỉ là sản phẩm phụ,
và chẳng có gì bên ngoài tâm trí. Cho nên nhớ lấy, nếu bạn đang thiền thì chẳng
có gì khác được cần tới nữa. Nếu bạn không thiền, thế thì các phép trị liệu tâm
lí này có thể có ích như bàn đạp cho thiền… Phương Tây đang bị khai thác bởi đủ
mọi loại giả dối bởi một lí do đơn giản rằng phương Tây đã không nhìn vào trong
vấn đề về bản thân thiền. Cho nên bất kì kẻ ngốc nào cũng tới và nói bất kì
điều gì, rồi tụ tập tín đồ bởi vì họ không biết thiền là gì. Họ chẳng tụng mật
chú cũng không làm khinh công… Những điều này chẳng có liên quan gì tới thiền
cả. Thiền chỉ có một nghĩa, và đó là vượt ra ngoài tâm trí và trở thành nhân
chứng. Trong việc chứng kiến của bạn là phép màu – toàn bộ bí ẩn của cuộc sống.
Trong tạp chí Newsweek tôi đọc được một chuyện tiếu lâm bên
trong một bài báo về cái gọi là trị liệu chữa nhanh. Một người trung tuần đã là
nỗi thất vọng của gia đình mình trong nhiều năm bởi vì thói quen xé giấy thành
mảnh vụn và rắc rải rác khắp mọi nơi anh ta đi qua. Gia đình đưa anh ta tới
những chuyên gia nổi tiếng theo Freud, Jung và Aldler, với chi phí rất lớn
nhưng kết quả lại toàn thất vọng. Cố gắng chiếu ánh sáng vào cái vực thẳm tăm
tối của vô thức của anh ta, nơi thói quen ngụ ở đó, đã thất bại.
Cuối cùng họ hàng anh ta đưa anh ta tới một nhà trị liệu tâm
lí mới không tiếng tăm nhưng lại canh tân. Nhà ảo thuật này đi vài bước với
bệnh nhân mới lên và xuống văn phòng của mình, thì thào điều gì đó vào tai anh
ta. Thế rồi ông ta tuyên bố làm cả gia đình ngạc nhiên, “Các vị có thể đưa anh
ta về nhà được rồi; anh ta đã khỏi.”
Một năm sau thói quen này không trở lại và gia đình rất biết
ơn đã đến hỏi vị bác sĩ rằng ông ấy đã nói gì với bệnh nhân của mình. Ông ta,
nhún vai, nói, “Đừng xé giấy.” Xin thầy bình luận.
Bí mật của cuộc sống là rất đơn giản, nhưng tâm trí lại cố
gắng làm cho chúng phức tạp lên. Tâm trí yêu mến cái phức tạp, bởi lẽ đơn giản,
tâm trí chỉ được cần tới nếu có điều gì đó phức tạp. Nếu không có gì phức tạp,
chính cái cần thiết cho sự tồn tại của tâm trí biến mất. Tâm trí không muốn
buông bỏ quyền làm chủ của nó trên bạn. Nó chỉ là kẻ hầu nhưng nó đã xoay xở để
trở thành người chủ, và mọi sự đã trở thành lộn ngược trong cuộc sống của bạn.
Câu chuyện tiếu lâm này đơn giản chỉ ra một sự kiện rất hiển
nhiên. Người này xé vụn giấy và rắc chúng khắp nơi; một cách tự nhiên mọi người
cứ nghĩ một cái gì đó đã đi sai: anh ta cần phân tâm, anh ta cần một người vĩ
đại người hiểu cách thức của tâm trí để cho anh ta có thể được chữa lại. Không
ai thậm chí bận tâm tới việc bảo anh ta “Đừng làm điều này.”
Hiển nhiên rằng người này đã thành điên khùng, cho nên họ
mới tới các chuyên gia theo Freud, các chuyên gia theo Adler, các chuyên gia
theo Jung, tới các nhà phân tâm lớn. Và tất cả những nhà phân tâm này đều phải
làm việc vất vả, hàng giờ, hàng năm, phân tích giấc mơ của người này để tìm ra tại
sao người đó lại xé vụn giấy và vứt rải rác khắp nơi. Nhưng chẳng ai thành công
cả. Như một phương kế cuối cùng họ mới lôi anh ta tới một nhà ảo thuật, và
người này chữa khỏi cho anh ta.
Nhưng tờ Newsweek lại là một tạp chí hợm hĩnh, cho nên
chuyện tiếu lâm này vẫn còn chưa hoàn chỉnh. Đó là lí do tại sao bạn lại không
thấy đâu là cái lớn lao của chuyện tiếu lâm này .
Nhà ảo thuật này đã bước lên bước xuống cầu thang và thế rồi
thì thào vào tai người này, “Anh hãy dừng việc xé giấy; nếu không thì tôi sẽ đá
anh ngã lăn lông lốc xuống từ trên đỉnh.” Và người này lại là người mạnh khoẻ.
“Cho nên hãy lưu ý, bởi vì tôi không tin vào các nhà phân tâm hay bất kì cái
gì, tôi đơn giản tin vào việc đá. Và tôi đá mọi người từ chỗ này. Thế là họ ngã
lăn lông lốc hàng trăm bậc xuống đường. Bây giờ anh có thể về nhà; nhớ rằng tôi
chỉ có một thủ đoạn thôi. Khi bất kì một người ốm yếu nào về mặt tinh thần được
đem tới tôi, tôi chữa cho người đó. Đó là lí do tại sao tôi đã bước cùng anh
lên và xuống những bậc thang này, để chỉ ra cho anh vấn đề có nghĩa là gì khi
tôi đá anh. Cho nên bây giờ về nhà và nhớ lấy điều đó. Lần sau tôi sẽ không nói
gì nữa đâu, tôi sẽ chỉ đơn giản làm điều đó.” Và người này đã hiểu điều đó; bất
kì ai cũng sẽ hiểu điều đó.
Họ đã bỏ đi cái phần đó của chuyện cười này và đã phá huỷ
mất cái đẹp của nó. Con người kia phải đã tận hưởng hệt như trò trẻ con, xé vụn
giấy ra thành từng mảnh và vứt lung tung khắp chốn. Và điều đó trở thành sự tận
hưởng bởi vì mọi người đều phân vân. Đấy đơn giản chỉ là hiện tượng trẻ con.
Người này bị phát triển chậm; người đó không cần nhà phân tâm nào cả. Người đó
cần một cú đá đích đáng – đó là ngôn ngữ mà người đó hiểu ngay lập tức.
Theo nhiều cách chúng ta cứ nghĩ mãi về những điều đơn giản
theo các cách phức tạp. Vấn đề của chúng ta gần như rất đơn giản, nhưng tâm trí
cứ làm bạn lẫn lộn. Và có những người khai thác bạn. Họ làm cho vấn đề của bạn
thậm chí còn phức tạp hơn.
Có lần một cậu bé được đưa tới tôi. Nó phải mười sáu hay
mười bẩy tuổi rồi, và gia đình nó lại phân vân, phiền muộn, mặc dầu chẳng cần
bất kì ai phải phiền muộn cả. Đứa bé này cứ nói rằng hai con ruồi đã chui vào
bụng nó, và chúng cứ bay vòng vo trong thân thể nó – bây giờ chúng ở trong đầu,
bây giờ chúng lại xuống tay.
Nó được đưa tới bác sĩ, bác sĩ điều trị, và họ nói, “Đấy
không phải là bệnh.” Nó được chiếu tia X, và không có con ruồi hay cái gì hết
cả. Họ cố nói, “Cháu chẳng có con ruồi nào cả.”
Nhưng đứa bé nói, “Làm sao cháu có thể tin vào các bác được?
Chúng bay vòng vo khắp bên trong thân thể cháu. Cháu nên tin vào kinh nghiệm
của mình hay giải thích của các bác?”
Ngẫu nhiên ai đó gợi ý với bố mẹ nó về tôi, cho nên họ đem
cậu bé tới. Tôi nghe toàn bộ câu chuyện. Cậu bé trong có vẻ rất miễn cưỡng,
bướng bỉnh, bởi vì nó đã mệt mỏi với bác sĩ này, bác sĩ nọ, và họ tất cả đều
nói, “Không có ruồi.”
Tôi nói, “Các bác đem nó lại là đúng người rồi đấy. Tôi có
thể thấy mấy con ruồi này. Cậu bé đáng thương đang khổ sở đây, thế mà các bác
lại cứ bảo rằng nó ngu.” Cậu bé được thảnh thơi. Tôi đâm ra được thuận lợi – vì
lần đầu tiên một người đã chấp nhận ý tưởng của nó về con ruồi.
Tôi nói, “Tôi biết cách chúng đã chui vào. Nó phải vừa ngủ
vừa há mồm.”
Cậu bé nói, “Vâng đúng ạ,”
Tôi nói, “Việc này đơn giản thế. Khi cháu ngủ há mồm, thì
cái gì mà chẳng có thể vào được. Cháu may mà chỉ có ruồi mới chui vào thôi. Bác
đã thấy những người… chuột cũng chui vào nữa…”
Nó nói, “Ôi trời, cả chuột nữa sao?”
Tôi nói, “Mà không chỉ có chuột đâu, sau chuột còn cả mèo
nữa.”
Nó nói, ‘Những người đấy phải bị rắc rối lắm.”
Tôi nói, ‘Họ quả vậy đấy. Cháu chưa là cái gì cả, trường hợp
của cháu rất đơn giản – chỉ có hai con ruồi thôi. Cháu nằm xuống đây, và bác sẽ
lấy chúng ra.”
Nó nói, “Bác là người đầu tiên đã bầy tỏ hiểu biết cho một
đứa bé đáng thương. Chẳng ai chịu nghe cháu cả. Cháu cứ nói mãi rằng chúng nó
có đấy. Cháu chỉ chỗ chúng… chúng ở đây này, bây giờ chúng đã đi sang đây… và
tất cả họ đều cười, và họ làm cháu thành thằng ngu.”
Tôi nói, “Tất cả họ đều là đồ ngu tuốt. Họ có bắt gặp những
trường hợp như vậy đâu, nhưng đây là tri thức chuyên gia đặc biệt của bác. Bác
chỉ giải quyết cho những người ngủ há mồm thôi.”
Nó nói, “Cháu biết là bác hiểu, bởi vì ngay lập tức bác nhận
ra rằng chúng có đó – đích xác nơi chúng ở đấy.”
Tôi bảo với bố mẹ nói hãy ở nhà và để nó mười lăm phút với
tôi. Tôi bảo nó nằm ra. Tôi bịt mắt nó và bảo nó há mồm ra.
Nhưng nó nói, “Ngộ nhỡ nhiều ruồi nữa lại bay vào…?”
Tôi nói, “Yên tâm đi: đây là phòng có điều hoà, và không có
ruồi. Cháu chỉ nằm há mồm và bác sẽ cố gắng và thuyết phục mấy con ruồi đó bay ra.”
Tôi bỏ nó đó và chạy quanh nhà và bằng cách nào đó bắt hai
con ruồi – lần đầu tiên, bởi vì tôi chưa bao giờ làm điều đó cả. Nhưng dẫu sao
thì tôi cũng xoay xở được, và tôi nhốt hai con ruồi vào chiếc lọ nhỏ. Và trong
khi tôi để chiếc lọ ở gần mồm nó thì tôi tháo chiếc khăn bịt mắt nó ra và nói,
“Nhìn đây!”
Nó nói, “Hai con ruồi bé thế này… nhưng chúng gây ra rối
lung tung làm sao! Cả đời cháu bị tiêu tùng. Bây giờ bác có thể cho cháu những
con ruồi này được không?
Tôi nói, “Có chứ, bác cho cháu đấy.” tôi đóng nắp lọ lại và
đưa cho nó.
Tôi hỏi nó, “Cháu định làm gì?”
Nói nói, “Cháu định đi tới tất cả các bác sĩ và bác sĩ trị
liệu, những người đã từng ăn tiền mà chẳng làm gì và chỉ bảo cháu, ‘Không có
ruồi.’ Bất kì ai đã bảo cháu điều đó… Cháu sẽ chỉ cho họ rằng đây là những con
ruồi ấy đấy.”
Nó đã được chữa khỏi. Tâm trí nó mới chỉ bị mắc kẹt với một
ý tưởng. Nhưng nếu bạn tới các nhà phân tâm, thì ông ấy sẽ tạo ra cả quả núi từ
đống đất chuột đào – biết bao nhiêu là lí thuyết, giải thích… và phải mất nhiều
năm vấn đề vẫn cứ còn đấy, bởi vì vấn đề vẫn còn chưa được đụng chạm tới. Ông
ấy đã triết lí về nó và ông ấy thử triết lí của mình lên bệnh nhân đáng thương
này.
Nhưng phần lớn bệnh của tâm trí – và bẩy mươi phần trăm bệnh
tật đều là từ tâm trí – có thể được chữa khỏi dễ dàng. Điều cơ bản nhất là chấp
nhận; đừng phủ nhận, bởi vì việc phủ nhận của bạn là chống lại lòng tự hào của
con người. Bạn càng phủ nhận, thì người đó càng khăng khăng hơn: đấy là logic
đơn giản. Bạn đang phủ định hiểu biết của người đó, bạn đang phủ định cảm tính
của người đó, bạn đang phủ định tính nhân bản của người đó, nhân phẩm người đó.
Bạn đang nói, “Anh chẳng biết cái quái gì cả” – về thân thể riêng của mình!
Bước đầu tiên là chấp nhận: “Anh phải đấy. Những người đã
phủ định anh đều sai cả.” Và ngay lập tức một nửa nền tảng được khôi phục. Bây
giờ có mối quan hệ thông cảm với người này. Những người đang phải chịu đựng các
bệnh tinh thần đều cần thông cảm; họ cần chấp nhuận, không phải là phủ nhận. Họ
không muốn bạn coi họ là người điên, người bất bình thường. Cho họ thông cảm,
cho họ hiểu biết, yêu mến.
Để họ tới gần bạn và thế rồi tìm ra cách thức đơn giản. Đừng
đi vòng qua kinh sách của những người theo Freud – đấy gần như là những kinh
sách thiêng liêng, và sách về phân tâm học cứ tăng lên mãi; cứ ngày càng lớn
hơn. Và bạn lại bắt đầu thử đủ mọi loại ý tưởng đó lên con người đáng thương
kia, mà người đó thì lại chẳng có gì nhiều.
Hiểu biết riêng của tôi là ở chỗ mọi người đều cần tình yêu,
và mọi người cũng đều cần yêu. Mọi người đều cần tình bằng hữu, thân thiện,
thông cảm – và mọi người đều muốn đem cho nó nữa.
Tôi nhớ lại: chuyện xảy ra khi George Bernard Shaw đã gần
tám mươi tuổi. Bác sĩ của ông ấy gần chín mươi tuổi – bác sĩ điều trị của riêng
ông ấy – và cả hai là những người bạn lớn.
Một lần vào giữa đêm Bernard Shaw cảm thấy bị đau tim đột
ngột, và ông ấy trở nên sợ hãi: có lẽ đó là cơn đau tim. Ông ấy gọi điện tới
bác sĩ và nói, “Ông lại đây ngay lập tức vì tôi có thể không còn trông thấy mặt
trời lên lần nữa.”
Ông bác sĩ nói, “Bình tĩnh đi, tôi tới đây, đừng lo nghĩ.”
Ông bác sĩ tới. Ông ấy phải leo ba tầng cầu thang – một ông già chín mươi tuổi
mang túi đồ của mình, vã mồ hôi hột.
Ông ấy tới và vứt cái túi xuống sàn và ngồi trong ghế nhắm
nghiền mắt lại. Bernard Shaw hỏi, “Có chuyện gì vậy?” Ông bác sĩ đặt tay mình
lên tim, và Bernard Shaw nói, “Lạy Chúa, ông bị đau tim rồi!” Và ông ấy có thể
thấy… một ông già chín mươi tuổi, leo ba tầng cầu thang, vào giữa đêm, và ông
ấy vã mồ hôi hột.
Bernard Shaw đứng dậy, bắt đầu phe phẩy quạt, lau mặt cho
ông ấy bằng nước lạnh, rót ít rượu uống cho ông ấy bởi vì đêm thật lạnh, và ông
ấy thử đủ mọi cách… đắp cho ông này các thứ chăn và quên mất hoàn toàn cơn đau
tim của mình, bởi vì điều đó mà ông bác sĩ này mới được mời tới.
Sau nửa giờ ông bác sĩ cảm thấy khá hơn và ông ấy nói, “Bây
giờ thì tôi đỡ rồi. Đây là cơn đau tim lớn. Điều này xảy ra lần thứ ba và tôi
cứ nghĩ đây là lần cuối, nhưng bác giúp tôi nhiều lắm đấy. Bây giờ xin bác trả
tiền công cho tôi.”
Bernard Shaw nói, “Tiền công cho bác sao? – mà tôi thì đã
chạy lăng xăng đem đủ mọi thứ đến để phục vụ bác. Bác đáng phải trả tiền công
cho tôi mới phải chứ?”
Ông bác sĩ nói, “Vô nghĩa. Đây tất cả chỉ là đóng kịch thôi.
Tôi làm điều đó với mọi bệnh nhân tim – và bao giờ cũng có tác dụng. Họ quên
mất cơn đau tim của họ và họ bắt đầu chăm sóc tôi – một ông già chín mươi tuổi.
Bác phải trả tiền công cho tôi. Nửa đêm đã qua và tôi phải về nhà đây” – và ông
ấy nhận tiền công.
Bernard Shaw nói, “Đây là điều gì đó. Tôi cứ hay nghĩ rằng
tôi là người tiếu lâm, nhưng ông bác sĩ này mới là người tiếu lâm thực hành.
Ông ấy thực sự đã chữa cho tôi.” Ông ấy thử tim mình, nó hoàn toàn ổn thoả. Ông
ấy đã hoàn toàn quên mất nó. Đấy chỉ là một cái đau nhỏ mà tâm trí ông ấy đã
nhân lên nhiều lần… nỗi sợ đau tim của ông ấy, cái ý tưởng về đau tim, cái ý
tưởng về chết trở nên được khuếch đại lên.
Nhưng ông bác sĩ này mới thực sự là người tốt. Ông ấy đã làm
cho Bernard Shaw đứng dậy, đã nhận mọi sự phục vụ, đã uống ngon lành và cuối
cùng đã lấy tiền công và bước xuống cầu thang. Còn Bernard Shaw đơn giản nhìn
theo bối rối toàn toàn. “Con người này nói rằng ông ấy đã làm điều đó với mọi
trường hợp đau tim, và ông ấy bao giờ cũng thành công. Chỉ bởi vì tuổi già của
ông ấy mà ông ấy mới xoay xở thật tài tình. Bất kì ai cũng sẽ quên mất… Bất kì
bác sĩ nào cũng sẽ bắt đầu làm cho nó thành một hiện tượng phức tạp, nào tiêm,
nào thuốc, nào nghỉ ngơi, hay thay đổi khí hậu, hay y tá chăm nom hai mươi tư
tiếng. Nhưng con người này đã làm điều đó một cách nhanh nhẹn, chóng vánh,
chẳng phức tạp gì.”
Tôi đã thấy đủ mọi loại trường hợp liên quan tới tâm trí.
Tất cả những điều họ cần là một cách tiếp cận rất thông cảm, thân thiện, yêu
thương, và trong mọi trường hợp đều là một cách trị liệu duy nhất – bởi vì bất
kì điều gì đã được làm cho con người này đều là bình thường, thông thường và
dần dần bệnh nhân này bắt đầu cảm thấy rằng mình đã thành công trong việc làm
thất bại mọi loại bác sĩ – đối trị, vi lượng, tự nhiên, ayurvedic, châm cứu,
acupressurists – đủ mọi loại người, vậy mà chẳng ai có thể chữa được cho người
đó. Người đó bắt đầu có một bản ngã nào đó về nó, rằng bệnh của mình là một cái
gì đó rất đặc biệt. Người đó muốn điều đó được chấp nhận như điều đặc biệt. Đấy
là một sự thay thế.
Điều này cần phải được hiểu: mọi người đều muốn đặc biệt,
phi thường – là một nhạc sĩ vĩ đại, một vũ công vĩ đại, một nhà thơ vĩ đại –
nhưng mọi người đều không thể nào xoay xở được điều đó. Cần một kỉ luật rất lâu
dài, gian khó để trở thành nhạc sĩ vĩ đại…
Mọi người đều dường như bị khép lại. Không trái tim của ai
lại là cửa sổ mở ra. Và cánh cửa của mọi người đều không mở ra để đón chào
khách thăm. Toàn bộ tình huống này tạo ra những điều kì lạ. Các nhu cầu thực
của tâm trí con người không được thoả mãn; nó bắt đầu hành xử một cách kì lạ.
Có lẽ đó là lí do duy nhất mà người kia đã xé vụn giấy và
vứt rải rác lung tung đây đó – chỉ để cho mọi người biết rằng, “Tôi ở đây, và
tôi khác với mọi người khác. Tôi đang làm điều gì đó mà không ai khác làm cả.”
Có lẽ người đó đã không được chấp nhận, không được đón nhận, không được yêu
mến. Và việc chữa chạy mà người đó nhận được thì lại còn tồi tệ hơn là bệnh đó.
Đấy mới thực sự là bệnh tật – rằng không ai yêu người đó cả – và bây giờ nhà ảo
thuật đem lại việc chữa chạy cho người đó: “Nếu anh làm điều đó lần nữa thì tôi
sẽ cho anh cú đá tới mức anh sẽ ngã lăn lông lốc xuống hàng trăm bậc thang này,
và đến cuối cùng anh có thể chỉ tan thành từng mảnh trên đường.” Nhưng người đó
chấm dứt việc làm đó – điều đó chứng tỏ rằng thay vì có được tình yêu, thì
người đó lại thêm sợ hãi hơn. Nỗi sợ cũng có thể làm thay đổi hành vi của bạn,
nhưng nó không làm thay đổi cho tốt hơn, nó làm thay đổi cho tồi đi. Và trong
khi tình yêu là có sẵn – lại chẳng tốn kém gì – thì sao không dùng nó?
Tôi thấy rằng chẳng có cách trị liệu tâm lí nào hơn tình
yêu. Nếu nhà trị liệu tâm lí có thể bầy tỏ tình yêu của mình, thì bệnh tật sẽ
biến mất chẳng cần việc phân tích nào.
Tất cả mọi việc phân tích đều chỉ là nói nhảm. Bản thân nhà
trị liệu tâm lí đang lẩn tránh tình yêu. Người đó đang lẩn tránh việc đối diện
với bệnh nhân. Người đó sợ nhận ra thực tế. Tất cả các nhà phân tâm theo trường
phái Freud, vốn là trường phái lớn nhất và quan trọng nhất, đều không ngồi
trước bệnh nhân. Bệnh nhân nằm trên trường kỉ, và đằng sau trường kỉ nhà phân
tâm ngồi. Bệnh nhân nói, khi nằm trên giường, không với ai cả, còn nhà phân tâm
chỉ ngồi đó. Không đụng chạm con người – người đó thậm chí chẳng cầm tay bệnh
nhân, người đó không thể nhìn vào mắt bệnh nhân được.
Tại phương Đông chẳng có gì giống như việc phân tâm đã từng
xảy ra cả bởi một lẽ đơn giản là có hàng nghìn bậc thầy, sâu trong thiền, và
bất kì ai tới họ… chỉ tình yêu của họ, thông cảm của họ, cách họ nhìn vào trong
mắt bệnh nhân là đủ. Mọi người đều được chữa khỏi. Không phải là không có phân
tâm… Tại phương Đông, điều đã xảy ra cho người bị thần kinh, cho người bị tâm
thần, là ở chỗ họ được thay đổi tức khắc. Tất cả mọi điều họ cần là một tình
yêu mênh mông không đòi hỏi điều gì – con người của an bình và im lặng, chính
sự hiện diện của người này là liều thuốc. Người đã thiền trong một thời gian
dài trở thành một cội nguồn mênh mông. Người đó toả ra cái gì đó không thấy
được bằng mắt, nhưng trái tim thì bắt được nó. Một cái gì đó đạt tới bản thể
bên trong nhất của bạn và làm thay đổi bạn.
Các vấn đề đều đơn giản. Các giải pháp cũng đơn giản. Chỉ có
điều người ta phải thoát ra khỏi tâm trí để thấy cái đơn giản đó. Và thế thì
bất kì cái gì được con người làm trong im lặng, trong an bình, trong niềm vui,
đều sẽ là thuốc, đều sẽ ban phát mạnh khoẻ. Nó sẽ là lực chữa lành.
Nhà tâm thần cần mang tính thiền hơn bất kì ai khác – bởi vì
toàn bộ công việc của bạn là nguy hiểm theo một cách nào đó. Chừng nào bạn còn
chưa rất bình thản và tĩnh lặng, chừng nào bạn vẫn còn có thể bị ảnh hưởng bởi
những điều xảy ra quanh bạn, thì điều đó là rất nguy hiểm. Nhiều nhà tâm thần
phát điên hơn bất kì người theo nghề khác, và nhiều nhà tâm thần tự tử hơn bất
kì người theo nghề khác. Đây là điều gì đó cần được suy nghĩ tỏ tường. Tỉ lệ
này thực sự là quá nhiều! Nhiều gấp đôi theo số người tự tử. Điều đó đơn giản
chỉ ra rằng nghề này đầy nguy hiểm. Chính trong đống lộn xộn – bởi vì bất kì
khi nào bạn điều trị cho một người đang bị rối loạn về tâm thần, người đó
thường xuyên phát ra các rung động của mình. Người đó thường xuyên ném ra năng
lượng của mình, các đợt sóng tiêu cực của người đó dồn vào bạn, và bạn phải
nghe người đó. Bạn phải rất chăm chú. Bạn phải chăm sóc, bạn phải yêu thương và
từ bi hướng tới người đó; chỉ thế thì bạn
mới có thể giúp được cho người đó. Người đó thường xuyên ném ra năng lượng tích
tụ tiêu cực – và bạn đang hấp thu nó. Trong thực tế bạn càng chăm chú lắng
nghe, bạn càng thấp thu nó nhiều hơn.
Khi sống liên tục với người thần kinh và tâm thần, bạn bắt
đầu nghĩ, theo một cách vô ý thức, rằng đây là điều nhân loại là gì. Chúng ta
dần dần trở thành giống như những người chúng ta sống cùng, bởi vì không ai là
hòn đảo cả. Cho nên nếu bạn đang làm việc với người buồn, bạn sẽ trở nên buồn.
Nếu bạn đang làm việc với người hạnh phúc, bạn sẽ trở nên hạnh phúc, bởi vì mọi
sự đều tiêm nhiễm nhau. Thần kinh mang tính tiêm nhiễm: tự tử cũng mang tính
tiêm nhiễm.
Nếu bạn sống quanh những người đã chứng ngộ, rất nhận biết,
thế thì cái gì đó trong bạn bắt đầu đáp ứng với khả năng cao hơn này. Khi bạn
sống với những người rất thấp, thấp bất thường, trong trạng thái băng hoại, thế
thì cái gì đó không lành mạnh trong bạn bắt đầu tương ứng và có quan hệ với
chúng. Cho nên liên tục bị bao quanh bởi người ốm là nguy hiểm theo cách nào
đó, chừng nào bạn không tự bảo vệ mình. Và chẳng có gì như thiền lại cho bạn sự
bảo vệ này. Thế thì bạn có thể cho nhiều hơn bạn đang cho ấy vậy mà bạn vẫn còn
không bị ảnh hưởng tới. Bạn có thể giúp đỡ nhiều hơn bạn đang giúp đỡ, bởi vì
năng lượng của bạn càng cao, thì khả năng giúp đỡ càng nhiều. Ngoài ra nhà tâm
thần, thầy chữa và người được chữa đều gần như trên cùng một nền; có thể khác
biệt nhau chút ít về mức độ, nhưng khác biệt nhỏ đến mức không đáng xem xét
tới.
Nhà tâm thần có thể đi vào trong điên khùng rất dễ dàng –
chỉ hơi chút đẩy tới, một sự việc ngẫu nhiên nào đó, và người đó có thể đi vào
lãnh thổ bị kết án. Những người thần kinh không phải bao giờ cũng thần kinh.
Mới chỉ hai ngày trước đây họ còn là người bình thường, và lần nữa họ có thể
trở lại bình thường. Cho nên bình thường và bất thường không phải là khác biệt
định tính, chỉ là định lượng: chín mươi chín độ, một trăm độ, một trăm linh một
độ – đó là kiểu khác biệt.
Trong thực tế, trong một thế giới tốt hơn, mọi nhà tâm thần
nên được huấn luyện sâu sắc trong thiền, nếu không thì người đó không nên được
phép hành nghề. Đó là cách duy nhất bạn có thể tự bảo vệ mình và không bị mong
manh – và bạn có thể có ích thực sự. Nếu không thì ngay cả các nhà tâm thần vĩ
đại, các nhà phân tâm vĩ đại, ngay cả họ theo một cách nào đó cũng trở thành
rất vô vọng về nhân loại… ngay cả Freud. Sau kinh nghiệm cả đời mình cuối cùng
ông ấy nói rằng ông ấy không thể nào hi vọng vào con người được; ông ấy cảm
thấy vô vọng. Và điều đó là tự nhiên – bốn mươi năm sống với những người trong
đống lộn xộn; kinh nghiệm duy nhất về nhân loại là những người điên. Dần dần
điều đó bắt đầu dẫn tới việc nhìn vào mình dường như tính bất thường là bình
thường… dường như là con người nhất định phải vẫn còn thần kinh, dường như có
cái gì đó tự nhiên trong con người lái người đó hướng tới bị thần kinh.
Cho nên nhiều nhất thì người mạnh khoẻ là người được điều
chỉnh ít nhiều với thế giới, có thế thôi. Việc điều chỉnh trở thành chuẩn cho
mạnh khoẻ. Nhưng nó không thể thế được. Nếu toàn bộ xã hội điên khùng, bạn có thể
được điều chỉnh theo nó và bạn sẽ vẫn điên khùng. Trong thực tế, trong một xã
hội điên khùng, người không điên sẽ bị ngược đãi. Và đó mới thực sự là trường
hợp xảy ra.
Khi Jesus bước đi trong thế giới này, ông ấy bị ngược đãi.
Chúng ta phải đóng đinh ông ấy. Ông ấy là người xa lạ thế – chúng ta không thể
dung thứ được ông ấy. Chúng ta không quan tâm tới ông ấy, chúng ta đơn giản bận
tâm với chính mình. Bởi sự hiện diện của ông ấy, chỉ hai điều này là có thể –
hoặc là ông ấy điên hoặc chúng ta điên. Cả hai không thể đều lành mạnh. Chúng
ta thì nhiều còn ông ấy chỉ có một mình. Tất nhiên chúng ta sẽ giết ông ấy; ông
ấy không thể giết chúng ta được. Khi vị phật bước đi, ông ấy trông có vẻ kì lạ
– một người lành mạnh, người bình thường, tự nhiên thực sự, đi trong một xã hội
bất thường.
Cho nên Freud đã đi tới kết luận rằng không có tương lai cho
nhân loại. Nhiều nhất chúng ta có thể hi vọng rằng con người có thể được hoà
giải với hình mẫu xã hội, có thế thôi. Nhưng không có khả năng nào cho con
người được phúc lạc cả. Không thể có được, bởi chính bản chất của mọi vật. Tại
sao lại có một kết luận bi quan đến thế? – bởi vì toàn bộ kinh nghiệm của ông
ấy.
Toàn bộ cuộc sống của Freud là cơn ác mộng dài của người
điên. Và dần dần bản thân ông ấy cũng trở thành bất thường. Ông ấy không thực
sự lành mạnh. Ông ấy không phải là người phúc lạc. Ông ấy không bao giờ biết
tới tính toàn thể là gì. Ông ấy sợ những vật nhỏ bé – sợ đến mức có vẻ ngớ
ngẩn. Ông ấy sợ chết. Nếu ai đó nói về ma, ông ấy sẽ bắt đầu vã mồ hôi. Hai lần
ông ấy ngất đi bởi vì ai đó bắt đầu nói về cái chết! Đây dường như là một tâm
trí rất không cân bằng, nhưng theo một cách nào đó nó có thể được giải thích.
Thậm chí điều này cũng là phép màu – rằng ông ấy vẫn còn lành mạnh cho cả cuộc
đời mình.
Một trong những nhà tâm thần sắc sảo nhất, Wilhelm Reich, đã
phát điên. Và lí do duy nhất để ông ấy phát điên còn người khác thì không, là
bởi vì ông ấy thực sự sắc sảo. Ông ấy có một tài năng thực sự sâu sắc để đi vào
gốc rễ mọi điều – nhưng điều đó là nguy hiểm. Toàn bộ cuộc sống của Freud hay
Reich hay của những người khác đều biểu lộ một điều – rằng giá mà họ đã được
huấn luyện trong thiền sâu sắc, toàn thể thế giới đã thành khác. Thế thì những
người thần kinh này đã không trở thành chuẩn.
Có thể rất khó để trở thành vị Phật, nhưng ông ấy là chuẩn
mực. Và người chuẩn mực là người tới gần với cái chuẩn mực đó. Nó chẳng liên
quan gì tới việc điều chỉnh cả. Người ta tới gần hơn với ý tưởng về tính toàn
thể, hạnh phúc, lành mạnh.
Xem tiếp Chương 9 – Quay về Mục lục